Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời nói đầu
Trong số những thành tích đạt đợc của công cuộc đổi mới nền kinh tế
đất nớc, trong thời gian qua, có thể nói nông nghiệp là một ngành đã có những
bớc đột phá ngoạn mục. Thu nhập của nông dân không ngừng tăng lên, bộ mặt
nông thôn đợc cải thiện đáng kể. Sản xuất nông nghiệp đã đảm bảo an toàn l-
ơng thực cho đời sống xã hội.
Thế nhng, sự phát triển ấy so với yêu cầu phát triển kinh tế chung trong
thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc và trong điều kiện hội nhập kinh
tế quốc tế mạnh mẽ nh hiện nay thì vẫn còn quá thấp và nhỏ bé. Cho đến bây
giờ, nông nghiệp Việt Nam nói chung và nông nghiệp vùng Đồng bằng Sông
Hồng vẫn là một nền sản xuất kém hiệu quả và thiếu tính hợp lý. Cần phải
hình thành và phát triển những hình thức sản xuất phù hợp hơn, mà trong đó,
kinh tế trang trại là một mô hình tốt có thể áp dụng để đáp ứng yêu cầu này.
Đã manh nha từ rất lâu, nhng chỉ trong khoảng chục năm trở lại đây,
vai trò của kinh tế trang trại mới thực sự đợc công nhận và đợc quan tâm chú
ý, đặc biệt là sau khi nghị quyết số 03/2000 - CP của Chính phủ ngày
02/2/2000 về kinh tế trang trại ra đời, thì kinh tế trang trại ở Việt Nam mới có
đợc một sự trợ giúp của Nhà nớc về cơ chế, chính sách nh là hỗ trợ cho các
doanh nghiệp thông thờng của nền kinh tế thị trờng. Sự tăng nhanh về số lợng,
gia tăng về giá trị sản lợng đã chứng tỏ đây là một mô hình tổ chức sản xuất
nông nghiệp phù hợp với đặc thù kinh tế nông nghiệp, nông thôn nớc ta, giúp
nông dân làm giàu, tăng thu nhập cho bản thân họ và cho xã hội.
Không có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế trang trại với quy mô
đất đai lớn nh ở vùng trung du miền núi phía Bắc hay vùng đồng bằng phía
Nam, nhng đồng bằng sông Hồng vốn là vùng có truyền thống sản xuất nông
nghiệp lâu đời, trình độ thâm canh cao nhất cả nớc. Nhng để ngành nông
nghiệp của vùng đáp ứng đợc yêu cầu phát triển trong thời kì mới thì phải hợp
----------------------------------------------------------------------------------------
1
2
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Thị Thu Thuỷ.
Chơng I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát triển
kinh tế trang trại
----------------------------------------------------------------------------------------
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
I. Khái niệm, đặc trng và tiêu chí phân loại
Phát triển cách đây khoảng hơn 200 năm, cho đến những năm cuối thế
kỷ 20, kinh tế trang trại mà đặc biệt là trang trại gia đình đã trở thành mô hình
sản xuất phổ biến nhất của nền nông nghiệp các nớc phát triển, chiếm tỷ trọng
lớn tuyệt đối về đất đai cũng nh khối lợng nông sản, đặc biệt ở các nớc Anh,
Pháp, Nga- nơi bắt đầu cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật đầu tiên của nhân
loại.
Trải qua hàng mấy thế kỉ, đến nay, kinh tế trang trại tiếp tục phát triển ở
những nớc t bản chủ nghĩa lâu đời cũng nh các nớc đang phát triển, các nớc
công nghiệp mới và đi vào những xã hội chủ nghĩa với cơ cấu và quy mô sản
xuất khác nhau.
Tại Việt Nam, kinh tế trang trại phát triển muộn, chỉ từ sau Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ VI, cơ cấu kinh tế nhiều thành phần đợc thừa nhận và
đặc biệt là từ sau khi có nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (4/98) về đổi mới quản
lý kinh tế nhà nớc, kinh tế hộ nông dân mới từng bớc phục hồi và phát triển,
phần lớn họ trở thành những chủ thể tự sản xuất. Cùng với các hộ gia đình
công nhân viên chức làm nông nghiệp, lại có tích luỹ về vốn, kinh nghiệm sản
xuất và kinh nghiệm quản lý, tiếp cận đợc với thị trờng, thì sản xuất nông
nghiệp mới thoát khỏi cái vỏ tự cấp tự túc và vơn tới nền sản xuất hàng hoá.
quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng
rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông- lâm- thuỷ sản.
Khái niệm này khá đầy đủ, nêu ra đợc cơ sở, chức năng, hình thức sản
xuất của trang trại nhng cha hớng đến tính chất hàng hoá hớng ra thị trờng của
trang trại.
Nh vậy có thể tóm lại: Kinh tế trang trại là một trong những hình thức
tổ chức sản xuất cơ sở trong nông - lâm - ng nghiệp, có mục đích chủ yếu là
(1)
Báo cáo chuyên đề: Chính sách phát triển trang trại và tác động của nó đến việc làm và thu nhập của lao
động nông thôn, Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, 2002.
----------------------------------------------------------------------------------------
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
sản xuất hàng hoá, t liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hay thuộc quyền sử
dụng của một chủ thể độc lập, sản xuất đợc tiến hành trên quy mô đất đai và
các yếu tố sản xuất đợc tập trung đủ lớn với cách tổ chức quản lý tiến bộ và
trình độ kĩ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trờng.
1.3. Tiêu chí xác định một trang trại.
Không phải nhà nớc bỏ qua hình thức tổ chức sản xuất này, nhng vì đến
trớc những năm 2000, do cha có một sự thống nhất về khái niệm cũng nh tiêu
chí xác định trang trại nên mang đầy đủ đặc điểm của một đơn vị sản xuất
kinh doanh nhng chủ trang trại vẫn gặp rất nhiều khó khăn trong việc xin hởng
các chế độ hỗ trợ của nhà nớc và vì không có t cách pháp nhân nên trang trại
rất khó khăn trong các hoạt động giao dịch thơng mại. Thông thờng các nhà
thống kê vẫn sử dụng những chỉ tiêu định tính hoặc chỉ tiêu định lợng mà tính
định lợng không cao, và các chỉ tiêu này không đợc thống nhất trong cả nớc.
*Tiêu chí định tính:
Có thể dùng tiêu chí này để nhận dạng thế nào là một trang trại, tức là
căn cứ vào mức độ sản xuất nông sản hàng hoá của trang trại để phân biệt kinh
- Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung
- Từ 5 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên
- Trang trại trồng hồ tiêu từ 0,5 ha trở lên.
(3)Trang trại lâm nghiệp:
- Từ 10 ha trở lên đối với các vùng trong cả nớc.
b.Đối với trang trại chăn nuôi:
(1)Chăn nuôi đại gia súc: trâu, bò,v.v...
----------------------------------------------------------------------------------------
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Chăn nuôi sinh sản, lấy sữa có thờng xuyên từ 10 con trở lên
- Chăn nuôi lấy thịt có thờng xuyên từ 50 con trở lên
(2)Chăn nuôi gia súc: lợn, dê, v.v...
- Chăn nuôi sinh sản có thờng xuyên đối với lợn từ 20 con trở lên, đối
với dê, cừu từ 100 con trở lên
- Chăn nuôi lợn thịt có thờng xuyên từ 100 con trở lên (không kể lợn
sữa), dê thịt từ 200 con trở lên.
(3)Chăn nuôi gia cầm: gà, vịt, ngan, ngỗng, v.v... có thờng xuyên từ
2000 con trở lên (không tính số đầu con dới 7 ngày tuổi).
c.Trang trại nuôi trồng thuỷ sản:
- Diện tích mặt nớc có để nuôi trồng thuỷ sản từ 2 ha trở lên (riêng đối
với nuôi tôm thịt theo kiểu công nghiệp từ 1 ha trở lên).
d.Đối với các loại sản phẩm nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản có
tính chất đặc thù nh: trồng hoa, cây cảnh, trồng nấm, nuôi ong, giống
thủy sản và thuỷ đặc sản, thì tiêu chí xác định là sản lợng hàng hoá.
2. Đặc trng của kinh tế trang trại
Hầu hết các ý kiến đều thống nhất về đặc trng của kinh tế trang trại ở 3
điểm sau đây:
2.1. Mục đích sản xuất của kinh tế trang trại là sản xuất nông- lâm- thuỷ sản
nuôi để tận dụng mọi năng lực sản xuất của mình.
- Cơ cấu sản xuất chuyên môn hoá: đây là giai đoạn trang trại đã tích
luỹ đủ về đất đai, vốn, năng lực và kinh nghiệm quản lý để tham gia
vào hệ thống phân công lao động xã hội. Khác với cơ cấu độc canh,
sản xuất chuyên môn hoá đòi hỏi ứng dụng rộng rãi những tiến bộ
----------------------------------------------------------------------------------------
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
khoa học kĩ thuật và đạt đến trình độ, tính chất sản xuất hàng hoá
cao. Dần dần, nhiều trang trại cùng chuyên môn hoá một loại cây
trồng, vật nuôi có thể hình thành nên những vùng chuyên canh rộng
lớn.
2.3. Tổ chức và quản lý sản xuất theo phơng thức tiến bộ
Dựa trên cơ sở thâm canh, chuyên môn hoá sản xuất, các trang trại phải
có cơ chế tổ chức và quản lý sản xuất nh là các đơn vị kinh doanh khác, tức là
phải hạch toán, điều hành sản xuất hợp lý và thờng xuyên tiếp cận với thị tr-
ờng, khác với lối sản xuất làm tới đâu thì tới của kinh tế tiểu nông. ở đây
hiệu quả kinh tế đợc đặt lên hàng đầu nên tất cả các hoạt động sản xuất đều
phải tính toán lợi ích - chi phí bỏ ra.
Lao động trong trang trại có hai bộ phận: lao động quản lý (thờng là
chủ trang trại) và lao động trực tiếp (lao động gia đình và lao động làm thuê).
Số lợng lao động thuê mớn thay đổi tuỳ loại hình trang trại và quy mô trang
trại khác nhau.
Chủ trang trại là ngời có kiến thức và kinh nghiệm, trực tiếp điều hành
sản xuất, biết áp dụng khoa học công nghệ. Thu nhập của trang trại vợt trội so
với kinh tế hộ.
3. Phân loại kinh tế trang trại
3.1. Theo quy mô đất sử dụng, có thể chia 4 loại:
- Trang trại nhỏ: dới 2 ha
này không đòi hỏi diện tích đất đai lớn, vốn lớn nhỏ tuỳ loại sản
phẩm nhng phải có trình độ khoa học kĩ thuật. Rất phù hợp với các
vùng đồng bằng vốn đất đai hạn chế.
*Trang trại chăn nuôi:
----------------------------------------------------------------------------------------
11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Loại hình trang trại này cũng rất đa dạng. Nếu là vùng núi trung du
rộng lớn, thờng chăn nuôi các loại đại gia súc (bò, dê...) còn ở vùng đồng bằng
là các loại gia súc nhỏ (lợn, đà điểu,...) và gia cầm.
*Trang trại thuỷ sản: loại hình trang trại này rất đặc thù, nhất thiết phải
có mặt nớc nuôi trồng thuỷ sản với một diện tích nhất định. Ven biển Đồng
bằng Sông Hồng có rất nhiều yếu tố để phát triển ngành này. Tuy nhiên, các
trang trại thủy sản cũng rất thờng xuyên phải đối mặt với những rủi ro về khí
hậu do những đặc trng riêng của ngành.
*Trang trại kinh doanh tổng hợp: chủ trang trại có thể kết hợp trồng trọt
với chăn nuôi, trồng trọt với nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất với dịch vụ, tiểu thủ
công nghiệp hoặc thậm chí tất cả các hình thức miễn sao có lợi.
3.3. Phân loại trang trại theo chủ thể kinh doanh
Chủ trang trại có thể sở hữu hoặc đi thuê t liệu sản xuất. Trờng hợp phổ
biến là chủ trang trại sở hữu quyền sử dụng đất nhng phải đi thuê máy móc,
thiết bị, chuồng trại, kho tàng. ở Việt Nam, ngời chủ trang trại chỉ có quyền sử
dụng đất (t liệu sản xuất chủ yếu) chứ không có quyền sở hữu nên tốt nhất
không phân loại theo loại hình sở hữu về t liệu sản xuất.
Theo chủ thể kinh doanh, có thể chia kinh tế trang trại thành:
- Trang trại nhà nớc: nh nông trờng quốc doanh, công ty nông nghiệp
nhà nớc, thờng có quy mô lớn nên hình thành nên nhiều cấp trung gian. Các
nông trờng các công ty này lại khoán cho gia đình công nhân lập trang trại gia
đình.
triển đã có những đóng góp không nhỏ cả về mặt tăng trởng kinh tế và phát
triển xã hội, làm thay đổi bộ mặt nông nghiệp - nông thôn.
Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, vùng Đồng bằng Sông
Hồng bao gồm Thủ đô Hà Nội và 10 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ơng, là
----------------------------------------------------------------------------------------
13
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
một trung tâm kinh tế - chính trị - văn hoá lớn, giữ một vai trò quan trọng
trong chiến lợc phát triển chung của quốc gia. Nông nghiệp của vùng Đồng
bằng Sông Hồng có một thế mạnh lớn, đóng góp 23,28% GDP toàn vùng và
không ngừng tăng qua các năm, trong đó có sự đóng góp của kinh tế trang trại.
1. Phát triển kinh tế trang trại là một tất yếu của quá trình phát triển
sản xuất nông nghiệp- nông thôn
Các ngành sản xuất đều có xu hớng tích luỹ về vốn và các yếu tố sản
xuất khác: t liệu, lao động, kinh nghiệm, trình độ quản lý... Trong nông nghiệp
cũng vậy. Những năm cuối thế kỷ 17 ở các nớc bắt đầu công nghiệp hoá, đã có
chủ trơng thúc đẩy các quá trình tập trung ruộng đất, xây dựng các xí nghiệp
nông nghiệp t bản quy mô lớn với hi vọng mô hình này sẽ tạo ra nhiều nông
sản tập trung với giá rẻ hơn sản xuất gia đình phân tán. Lúc đầu Marx cũng
cho rằng đây là điều tất yếu trong qúa trình công nghiệp hoá nền nông nghiệp
t bản chủ nghĩa nhng trong tác phẩm cuối cùng của mình, ông đã viết: Ngay
ở nớc Anh nền công nghiệp phát triển, hình thức sản xuất có lợi nhất không
phải là các xí nghiệp nông nghiệp quy mô lớn mà là các trang trại gia đình
không dùng lao động làm thuê.
(2)
Sở dĩ nh vậy là vì sản xuất nông nghiệp có
đặc trng khác với công nghiệp ở chỗ là phải tác động vào những vật sống (cây
trồng, vật nuôi) nên không phù hợp với hình thức tổ chức sản xuất tập trung
quy mô quá lớn.
nhiều ruộng đất, khuyến khích việc khai phá đất hoang vào mục đích này.
Và gần đây nhất, một văn bản quan trọng đã đợc ban hành. Đó là Nghị quyết
số 03/2000/NQ CP, trong đó có nêu rõ: Nhà nớc hỗ trợ về vốn, khoa học
công nghệ chế biến, tiêu thụ sản phẩm, xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo điều
kiện cho các trang trại phát triển bền vững, chủ trang trại đợc thuê lao động
không hạn chế về số lợng, trả công lao động trên cơ sở thoả thuận với ngời lao
động theo quy định của pháp luật về lao động. Có thể nói, cha bao giờ kinh tế
trang trại đợc quan tâm đúng mức nh những năm gần đây.
----------------------------------------------------------------------------------------
15
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Tuy vậy, kinh tế nớc ta đang trong qúa trình chuyển từ một nền kinh tế
tự cung tự cấp sang một nền kinh tế hàng hoá vận động theo cơ chế thị trờng,
sự quá độ của nền kinh tế lại quy định tính đa dạng của nó, về trình độ phát
triển của lực lợng sản xuất, về sở hữu t liệu sản xuất... Tính không đồng đều về
trình độ sản xuất, một mặt dẫn tới những hình thức tổ chức sản xuất khác
nhau, mặt khác, dẫn tới sự không thống nhất của mỗi hình thức tổ chức sản
xuất. Do vậy trang trại nớc ta cũng không thể thuần nhất khi mà kinh tế còn
trong thời gian quá độ. Đó cũng là một quy luật phát triển nh quy luật phát
triển của các mô hình sản xuất khác mà thôi.
Nh vậy, kinh tế trang trại là một thực thể khách quan, xuất hiện nh là
kết quả của quá trình tích luỹ về vốn, kinh nghiệm, năng lực của ngời chủ sản
xuất, do tác động của cơ chế thị trờng, mà trong đó, trang trại gia đình (với
một số u thế riêng sẽ đợc xem xét ở phần sau) là mô hình đợc lựa chọn số 1.
2. Tác động của kinh tế trang trại đến sự phát triển của ngành sản
xuất nông nghiệp vùng Đồng bằng Sông Hồng
2.1. Góp phần chuyên môn hoá sản xuất và chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp-
nông thôn, phát triển kinh tế hàng hoá của vùng
Nh đã nói, đặc trng của kinh tế trang trại là mức độ tập trung cao về đất
Hạng mục 1990 1995 2000 2001
Tổng số 100 100 100 100
Nông nghiệp 94,7 94,2 92,8 92,5
- Trồng trọt 75,3 74,9 71,7 70,0
- Chăn nuôi 19,4 19,3 21,1 22,5
Lâm nghiệp 2,4 1,6 1,1 1,0
Thuỷ sản 2,9 4,2 6,0 6,5
Nguồn: Tính toán từ số liệu của Tổng cục Thống kê.
Qua bảng có ta có thể nhận thấy một sự chuyển dịch cơ cấu Nông
Lâm Ng nghiệp theo hớng giảm tỉ trọng nông nghiệp và tăng tỉ trọng ngành
----------------------------------------------------------------------------------------
17
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
thuỷ sản, nhờ quy mô sản xuất hàng hoá lớn, đặc biệt nhóm ngành thuỷ sản
tăng nhanh trong những năm gần đây. Nhóm ngành trồng trọt trong đó cây l-
ơng thực giảm nhng cây công nghiệp và cây ăn quả thì lại tăng lên trong giai
đoạn 1995 2001. Tỉ trọng ngành chăn nuôi giảm nhanh vào những năm
cuối thập kỉ 90 khi mà kinh tế trang trại phát triển mạnh. Sự biến động của cơ
cấu năm 2001 so với năm 2000 cũng tơng đơng với sự chuyển dịch trong suốt
5 năm trớc đó.
2.2. Góp phần làm tăng giá trị sản xuất nông nghiệp
Nông nghiệp vùng Đồng bằng Sông Hồng có vai trò quan trọng trong
phát triển kinh tế của vùng, và đối với cả nớc trong việc cung cấp lơng thực,
thực phẩm cho các tỉnh, thành phố trong vùng cũng nh đáp ứng một phần nhu
cầu của các vùng khác. Trong thời kì 1991 2001, sản lợng lơng thực của
vùng tăng hơn 2,7 triệu tấn; giá trị sản xuất nông lâm ng nghiệp (theo
giá cố định 1994) tăng lên từ 13.402 tỉ đồng (năm 1990) lên 24.103 tỉ đồng
(năm 2001), bằng 23,8% giá trị sản lợng nông lâm nghiệp của cả nớc,
tốc độ phát triển bình quân mỗi năm là 6,02%. Sự phát triển của ngành nông
của trang trại sẽ góp phần thúc đẩy các ngành công nghiệp cơ khí, công
nghiệp năng lợng trong các mối liên hệ ngợc với các ngành này. Để làm ra sản
phẩm, các trang trại cần sử dụng máy móc, cần tiêu dùng năng lợng, cần đợc
cung cấp giống, phân bón, thuốc trừ sâu... Đó là không kể những trang trại
kinh doanh tổng hợp còn tự sơ chế, chế biến ngay tại chỗ. Yêu cầu này cần đ-
ợc sự giúp đỡ của ngành công nghệ sinh học, công nghệ thực phẩm... Mối
quan hệ qua lại này chỉ ra rằng: sự phát triển của ngành này là động lực phát
triển của ngành kia.
Mặt khác, khi kinh tế trang trại phát triển nó sẽ đem lại thu nhập cho
một bộ phận nông dân, tiêu dùng của khu vực nông nghiệp - nông thôn tăng
----------------------------------------------------------------------------------------
19
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
lên kéo theo sự khởi sắc của ngành dịch vụ theo đúng quy luật của nền kinh tế
thị trờng.
Nh vậy, kinh tế trang trại không chỉ là lực lợng xung kích đi đầu trong
lĩnh vực sản xuất nông sản hàng hoá, mà còn là lực lợng đi đầu trong ứng dụng
khoa học công nghệ nông nghiệp, do đó là nhân tố cơ bản cho quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp - nông thôn nớc ta. Điểm yếu của công
nghiệp hoá - hiện đại hoá nông thôn là tính chất lạc hậu, manh mún, phân tán
của sản xuất nông nghiệp nớc ta nói chung và vùng đồng bằng Sông Hồng nói
riêng (cho dù vùng Đồng bằng Sông Hồng vẫn là vùng có trình độ thâm canh
cao nhất cả nớc) nên đã hạn chế khả năng thay đổi cách thức sản xuất từ thủ
công sang lao động bằng máy móc hiện đại. Quy mô đất đai và vốn lớn của
các trang trại sẽ khắc phục nhợc điểm này.
Nói chung, trong điều kiện kinh tế thị trờng, với yêu cầu công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nớc, mô hình kinh tế trang trại là một hớng đi đầy triển
vọng cho nông nghiệp Việt Nam. Chắc chắn trong tơng lai, sự phát triển của
nông nghiệp vùng Đồng bằng Sông Hồng phải bao gồm cả sự phát triển của
móc là bộ phận vô cùng quan trọng của lực lợng sản xuất nông nghiệp, và sự
phát triển của máy móc (xét cả về số lợng và chất lợng) chính là sự phát triển
của lực lợng sản xuất.
Ba là, kinh tế trang trại phát triển kéo theo sự phát triển của các mối
quan hệ giữa nông dân - nông dân trong việc hợp tác, hỗ trợ sản xuất, thuê
nhân công, đồng thời đẩy mạnh hơn nữa mối quan hệ giữa các khâu sản xuất -
chế biến - tiêu thụ của quy trình sản xuất hàng hoá. Tiếp theo đó là mối liên hệ
giữa các chủ trang trại và nhà cung cấp, cũng đợc nâng lên thông qua các loại
hình dịch vụ và chuyển giao kĩ thuật.
3.3. Phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn
----------------------------------------------------------------------------------------
21
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Rõ ràng là để đáp ứng yêu cầu sản xuất hàng hoá của mình, các trang
trại cần phải đợc đảm bảo bằng một hệ thống cơ sở hạ tầng đầy đủ và hiện đại.
Nhằm nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh, các trang trại có thể kết hợp
với các địa phơng, cùng các doanh nghiệp khác để giải quyết những vấn đề
chung này (giao thông, điện, nớc, thuỷ lợi, hệ thống tiêu thụ sản phẩm...), các
công trình giao thông, kho tàng, bến bãi, các phơng tiện vận tải đợc mở rộng
và xây dựng mới để phục vụ cho sản xuất hàng hoá của các trang trại. Và vì
không phải trang trại nào cũng có khả năng tự xây dựng hệ thống này nên cần
có những sự giúp đỡ của nhà nớc.
Đi đôi với việc phát triển của hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất
là hệ thống cơ sở phục vụ đời sống nhân dân, hệ thống trờng học, trạm xá,
chợ, các công trình văn hoá, thể thao... Một số thị tứ đã hình thành cùng với sự
phát triển của kinh tế trang trại.
Đồng bằng Sông Hồng, đóng góp của kinh tế trang trại sẽ là góp phần
xây dựng mới, tu sửa và mở rộng mạng lới thuỷ lợi, hệ thống đờng sá nối khu
vực nông thôn với thành thị và các khu vực nông thôn với nhau, nhất là các
2
, bằng 4,5% cả nớc.
Dân số năm 2001 là 17,03 triệu ngời, bằng 22% dân số cả nớc. Vùng có vị trí
rất thuận lợi cho việc giao lu kinh tế giữa các vùng trong cả nớc, giữa các tỉnh
ở miền núi và đồng bằng phía Bắc, giữa các tỉnh miền Bắc và miền Nam, cùng
các cảng hàng không, cảng biển giao lu quốc tế, thuận lợi cho các hoạt động
thơng mại.
Trong quá trình phát triển, sản xuất nông nghiệp nói chung và kinh tế
trang trại nói riêng của vùng chịu ảnh hởng bởi các yếu tố sau đây:
1.1. Đất đai
Quan trọng nhất đối với sản xuất nông nghiệp là yếu tố đất đai. Dù áp
dụng bất cứ hình thức sản xuất nào, kinh doanh bất cứ loại nông sản nào, chủ
----------------------------------------------------------------------------------------
23
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
trang trại cũng phải phát triển trêncơ sở một diện tích đất đai nhất định. ảnh
hởng của đất đai đến phát triển kinh tế trang trại quyết định bởi:
- Quy mô đất đai: tức là diện tích cần thiết để tạo ra một khối lợng nhất
định sản phẩm. Nói chung, một quy mô đất sản xuất rộng lớn là một điều kiện
thuận lợi cho kinh tế trang trại. Theo thống kê, đất nông nghiệp của vùng
Đồng bằng Sông Hồng là 857,6 nghìn ha, bằng 9,2% diện tích đất nông
nghiệp cả nớc, bình quân 497m
2
/ngời. Tuy nhiên phần lớn đất đai vẫn còn ở
tình trạng manh mún, phân tán làm cản trở quá trình hiện đại hoá sản xuất
nông nghiệp.
- Đặc điểm của đất đai: Đây là một yếu tố đặc biệt quan trọng cần phải
tính đến khi tiến hành sản xuất, nhất là với các trang trại trồng trọt. Đồng
bằng Sông Hồng vốn là một vùng châu thổ, có gần 80% đất canh tác trên loại
C,
cho phép canh tác nhiều loại cây trồng trong năm. Nhiệt độ trung bình năm
khoảng 23
0
C, lợng bức xạ lớn. Nhờ số giờ nắng cao, tính chất nóng ẩm của
mùa hè và không khí lạnh của mùa đông, trang trại vùng Đồng bằng Sông
Hồng có điều kiện để đa dạng hoá cơ cấu cây trồng của mình, cả các loài cây
nhiệt đới và cây ôn đới. Không những thế, sự phong phú của khí hậu ở các
vùng, miền khác nhau, ở các độ cao khác nhau cũng tạo điều kiện để có một
cơ cấu chăn nuôi đa dạng cho cả vùng.
Tuy vậy, tính chất diễn biến phức tạp của khí hậu trong vùng cũng sẽ
gây không ít khó khăn cho sản xuất của các trang trại.
2. Các nhân tố kinh tế xã hội
2.1. Lao động của trang trại
Bao gồm lao động quản lý và lao động sản xuất trực tiếp, xét trên 2 khía
cạnh: số lợng và chất lợng.
- Số lợng lao động tuỳ thuộc vào: quy mô sản xuất của trang trại, trình
độ cơ giới hoá, yêu cầu về nhân công do đặc trng của ngành sản xuất, và khả
năng thuê mớn lao động của chủ trang trại. Chắc chắn, so với kinh tế hộ, số
----------------------------------------------------------------------------------------
25