Đánh giá tiềm năng, thực trạng và định hướng phát triển kinh tế biển huyện Gò Công Đông - Pdf 21

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Phạm Thị Hoàng Dung
ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG, THỰC TRẠNG
VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
KINH TẾ BIỂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG
(TỈNH TIỀN GIANG)
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC

VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
KINH TẾ BIỂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG
(TỈNH TIỀN GIANG)

Chuyên ngành : Địa lý học
Mã số : 60 31 95
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TRẦN VĂN THÔNG
Thành phố Hồ Chí Minh - 2009


Biển có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự sinh tồn của nhân loại. Biển là
kho nước vô tận, là kho tài nguyên, là kho thực phẩm vô cùng quý giá, là môi
trường nuôi sống con người trong quá khứ, ở hiện tại và cả tương lai. Biển là tài sản
quý giá của mỗi quốc gia. Nhiều nhà kinh tế học đã nói đến “lục địa xanh” này và
họ cho rằng “nền kinh tế tương lai của loài người trước hết là nền kinh tế gắn với
biển”, bởi vì đất liền đang m
òn mỏi dần vì bị khai thác kiệt quệ tài nguyên, biển có
thể mở lối thoát khỏi tình trạng bế tắc về nguyên liệu, nhiên liệu cho sự phát triển.
Chính vì thế mà ngày nay, hầu như tất cả các quốc gia có biển (kể cả những quốc
gia không có biển) cũng điều chú ý đến việc nghiên cứu, khai thác nguồn lợi từ biển
trong quá trình phát triển kinh tế đất nước.
Có diện tích hơn 3,4 triệu km
2
, Biển Đông là một bộ phận nhỏ của Thái Bình
Dương nhưng lại có vị trí chiến lược quan trọng, là nơi qua lại của những đường
giao thông huyết mạch đối với nhiều nước, nối liền khu vực Đông Bắc Á với Tây
Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương và vùng Vịnh qua eo Malacca. Biển Đông là nơi
có nguồn tài nguyên biển vô cùng phong phú về số lượng và chủng loại.
Việt Nam nằm ở rìa biển Đông, là mặt tiền quan trọng của đất nước để thông
ra Thái Bì
nh Dương và mở cửa ra nước ngoài. Nước ta là một quốc gia biển, với
diện tích vùng biển rộng gấp 3 lần diện tích đất liền (vùng biển rộng khoảng 1 triệu
km
2
), đường bờ biển dài 3260km bao lấy lãnh thổ cả 3 hướng: Bắc, Đông, Nam;
trung bình khoảng 100km
2
đất liền có 1km bờ biển và không một nơi nào trên đất
nước ta lại cách xa biển hơn 500km. Từ bao đời nay, biển đã gắn bó chặt chẽ, mật
thiết với mọi hoạt động sản xuất và đời sống của dân tộc ta, ảnh hưởng lớn đến mọi

- Tổng quan cở sở lý luận về kinh tế biển
- Phân tích hiện trạng phát triển kinh tế biển huyện Gò Công Đông.
- Căn cứ vào vào hiện trạng phát triển biển của huyện để đưa ra những định
hướng nhằm phát triển kinh tế biển của huyện tr
ong tương lai đồng thời đưa ra
những giải pháp phát triển kinh tế biển một cách bền vững.
3. Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian nghiên cứu: Bắt đầu từ 30/04/2008, Tỉnh Tiền Giang chính
thức công bố Huyện mới với tên gọi là Huyện Tân Phú Đông là phần đất được tách
ra từ Huyện Gò Công Đông, Huyện Gò Công Tây. Trong phạm vi luận văn này, tôi

chỉ nghiên cứu Huyện Gò Công Đông giai đoạn 2000 – 2007.
- Về nội dung nghiên cứu: Về nội dung nghiên cứu chính của đề tài là những
vấn đề xoay quanh ngành kinh tế biển thật sự là thế mạnh của Huyện (những bộ
phận của kinh tế biển: ngành thủy hải sản, du lịch biển, vấn đề môi trường biển).
4. Lịch sử nghiên cứu
Kinh tế biển có vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển nền ki
nh tế
của đất nước và càng được chú trọng hơn trong giai đoạn hiện tại. Chính tầm quan
trọng đó của kinh tế biển nên từ trước đến nay có rất nhiều nghiên cứu về vấn đề
này nhưng tập trung nhất là các tỉnh có lợi thế lớn về biển như: Nha Trang, Bà Rịa
Vũng Tàu,….Vì vậy, các công trình nghiên cứu kể trên sẽ là những tài liệu tham
khảo để tôi nghiên cứu đề tài “Đánh giá tiềm năng, thực trạng và định hướng phát

triển kinh tế biển Huyện Gò Công Đông” (Tỉnh Tiền Giang) được đầy đủ và hoàn
chỉnh hơn.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
5.1.1 Quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin

Nghiên
cứu vấn đề biển phải dựa trên quan điểm sinh thái và phát triển bền
vững. Phát triển kinh tế biển, kinh tế - xã hội phải đi đôi với sử dụng hợp lý kết hợp
với bảo vệ và tái tạo tài nguyên thiên nhiên, chống gây ô nhiễm môi trường, có sự
kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội nhằm nâng
cao chất lượng cuộc sống con người.
5.2. Phương
pháp nghiên cứu
5.2.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, việc vận dụng phương pháp phân tích –
tổng hợp một cách thuần thục sẽ mang lại nhiều lợi ích. Vì việc dựa trên việc phân
tích tài liệu đã có cũng như thực tế sẽ giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện về vấn đề
nghiên cứu. Từ đó, chúng ta rút ra được những nội dung tổng hợp nhất, đầy đủ nhất
nhằm đáp
ứng được những nhiệm vụ và mục tiêu mà vấn đề đã đặt ra.
5.2.2 Phương pháp thực địa
Thực địa là phương pháp truyền thống được sử dụng trong các nghiên cứu
nói chung và đặc biệt quan trọng trong quá trình nghiên cứu các vấn đề địa lí kinh tế
- xã hội nói riêng. Vì vậy, trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng

phương pháp này để kiểm tra độ chính xác, tin cậy của các nguồn tài liệu đã thu
thập được.
Các nguồn tài liệu cần thu thập tương đối đa dạng, phong phú cần chọn lọc
chính xác. Đối với công tác nghiên cứu địa lý kinh tế - xã hội, trước hết cần quan
tâm đến các dạng thông tin sau: trình bày bằng văn bản, số liệu thống kê, các bản
đồ, các dạng khác (trên mạng, những cuộc điều tra,…).
5.2.3 Phương pháp bản đồ - biểu đồ
Phương pháp bản đồ là p
hương pháp đặc trưng của khoa học Địa lí, bởi vì
mọi nghiên cứu thuộc lĩnh vực địa lý kinh tế - xã hội đều mở đầu bằng bản đồ và

ong quá
khứ, hiện tại và tương lai.
6. Cấu trúc luận văn
Mở đầu
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Hiện trạng phát triển kinh tế biển huyện Gò Công Đông
Chương 3: Định hướng và các giải pháp phát triển kinh tế biển huyện Gò
Công Đông đến năm 2020.
Kiến nghị
Kết luận Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Biển
1.1.1 Khái niệm về biển
Mặt nước bao la liền một dải của đại dương Thế giới chiếm 70,8% diện tích
bề mặt hành tinh của chúng ta. Tên gọi “đại dương” bắt nguồn từ tên riêng của con
sông thần thoại Okêan. Theo sự tưởng tượng của người Babylon và người Ai Cập

trong lục địa ít liên quan với đại dương, cho nên độ mặn của nước, chế độ của các
dòng biển và của thủy triều ở các biển này khác biệt rõ rệt so với đại dương.
1.1.2 Khái niệm về vùng ven biển
Từ trước đến nay có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về biển đã đưa
ra các định nghĩa khác nhau về vùng ven biển. Dưới đây là một số định nghĩa về
vùng ve
n biển đã được lựa chọn tùy theo từng quốc gia và từng lĩnh vực khoa học
cụ thể.
- Vùng ven biển (theo các nhà khoa học Nga) là dải ranh giới giữa đất liền và
biển, đặc trưng bởi sự có mặt phổ biến của các dạng địa hình bờ biển cổ và hiện đại.
Định nghĩa
này phù hợp với nghiên cứu môi trường và tài nguyên thiên nhiên,
nhưng hạn chế khi nghiên cứu về địa lý, nhân khẩu học và kinh tế học, không nêu
được những ảnh hưởng của biển đến các hoạt động kinh tế hướng tới biển.
- Vùng ven biển (theo Joe Baker – Viện khoa học biển Australia) là dải đất
rộng khoảng 3km dọc đường bờ biển, bao gồm phần kéo dài của biển đến ranh giới
ảnh hưởng của thủy triều vào trong đất liền. Định nghĩa
này đã đề cập đến tương tác
biển và lục địa nhưng vẫn còn hạn chế khi nghiên cứu về các tác động kinh tế - xã
hội trong quá trình khai thác lợi thế của biển.
- Vùng ven biển (theo định nghĩa của Tổ chức bảo tồn thiên nhiên Quốc tế)
là vùng tính sâu vào nội địa tới điểm ảnh hưởng của thủy triều lên các con sông,

suối và các vùng đất ngập nước, hoặc tính sâu vào nội địa 10 km, tùy theo khoảng
cách nào lớn hơn. Định nghĩa này thiên về nghiên cứu tài nguyên thiên nhiên. Các
tác giả theo quan điểm này cũng chưa chú ý đến các vấn đề về kinh tế - xã hội, dân
cư sinh sống và khai thác các nguồn lợi biển.
Khi phân tích các tác động kinh tế - xã hội và môi tường của phần lãnh thổ
sát biển với các vùng bị nhiễm mặn cho thấy các hoạt động kinh tế - xã hội của dân
cư m

niệm kinh tế biển bao gồm:
1) Toàn bộ các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển, chủ yếu gồm: 1. Kinh tế
Hàng hải (Vận tải biển và Dịch vụ cảng biển); 2. Hải sản (đánh bắt và nuôi trồng
hải sản); 3. Khai thác Dầu khí ngoài khơi; 4. Du lịch biển; 5. Làm muối; 6. Dịch vụ
tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn; 7. Kinh tế đảo. Có thể coi đây là quan niệm về ki
nh tế
biển theo nghĩa hẹp.

2) Các hoạt động kinh tế trực tiếp liên quan đến khai thác biển, tuy không
phải diễn ra trên biển nhưng những hoạt động kinh tế này là nhờ vào yếu tố biển
hoặc trực tiếp phục vụ các hoạt động kinh tế biển ở dải đất liền ven biển, bao gồm:
1. Đóng và sửa chữa tàu biển (hoạt động này cũng được xếp chung vào lĩnh vực
kinh tế hàng hải); 2. Công nghiệp chế biến dầu, khí; 3. Công nghiệp chế biến thuỷ,
hải sản; 4. Cung cấp dịch vụ biển; 5. Thông tin liên lạc (biển); 6. Nghiên cứu khoa

học - công nghệ biển, đào tạo nhân lực phục vụ phát triển kinh tế biển, điều tra cơ
bản về tài nguyên - môi trường biển. Có thể coi cách hiểu kinh tế biển bao gồm cả
các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển và các hoạt động kinh tế trực tiếp liên qua
n
đến khai thác biển ở dải đất liền ven biển là quan niệm về kinh tế biển theo nghĩa
rộng.
Cách quan niệm về kinh tế biển như vậy về cơ bản cũng thống nhất với
thông lệ quốc tế. Ví dụ, trong thống kê hàng năm về kinh tế biển của Trung Quốc,
tập hợp trong khái niệm về kinh tế biển bao gồm: hải sản, khai thác dầu và khí tự
nhiê
n ngoài khơi, các bãi biển, công nghiệp muối, đóng tàu biển, viễn thông và vận
tải biển, du lịch biển, giáo dục và khoa học biển, bảo vệ môi trường biển, dịch vụ
biển…
Hiện nay thế giới thống nhất kinh tế biển là nền kinh tế tổng thành của các
ngành công nghiệp do môi trường biển đem lại. Môi trường biển được định nghĩa là

kinh tế quốc dân. Đây là tổng hợp các ngành (lĩnh vực) của nền kinh tế được sắp
xếp t
heo một tương quan tỷ lệ nhất định. Nói cách khác, cơ cấu ngành thể hiện số
lượng, tỷ trọng của ngành (lĩnh vực) tạo nên nền kinh tế.
Có rất nhiều ngành tạo thành nền kinh tế. Về đại thể, chúng được phân thành
ba nhóm ngành sau đây:
- Khu vực 1 bao gồm: nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp.
- Khu vực 2 bao gồm: công nghiệp và xây dựng.
- Khu vực 3 là dịch vụ.
Cần lưu ý thêm, trong nền ki
nh tế có cơ cấu ngành thì trong bản thân từng
ngành cũng tồn tại cơ cấu đó. Chẳng hạn, cơ cấu ngành của ngư nghiệp là tương
quan tỷ trọng giữa đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản,...
Cơ cấu kinh tế biển theo nghĩa hẹp bao gồm: 1. Kinh tế Hàng hải (Vận tải
biển và Dịch vụ cảng biển); 2. Hải sản (đánh bắt và nuôi trồng hải sản); 3. K
hai thác
Dầu khí ngoài khơi; 4. Du lịch biển; 5. Làm muối. 1.2.2.1 Kinh tế hàng hải
Đại dương, biển chiếm gần 71% bề mặt của hành tinh xanh. Lịch sử tiến hóa
của loài người luôn được gắn kết với biển. Văn minh nhân loại càng phát triển thì
giá trị của biển càng được tôn vinh. Ngành hàng hải ra đời, biển chẳng những là cầu
nối giữa các châu lục, các quốc gia mà còn là tài sản vô giá của Trái đất.
Từ sau những cuộc phát kiến địa lý lớn, ngành hàng hải mới chính thức ra
đời và phát triển khá nha
nh cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản Thế giới,
với sự trao đổi hàng hóa giữa các nước có chuyên môn hóa kinh tế khác nhau, giữa
chính quốc và các nước thuộc địa, giữa các nước có nền kinh tế phát triển và các
nước kém phát triển.

biển Nam Mỹ nối Châu Âu và Bắc Mỹ với Nam Mỹ, đư
ờng Biển Bắc Thái Bình
Dương nối Tây Hoa Kỳ với Nhật Bản và Trung Quốc, đường biển Nam Thái Bình
Dương từ Tây Hoa Kỳ đến Ôxtrâylia, Niu Dilân, Inđônêsia và Nam Á. Đường biển
từ vùng vịnh Pecxich qua mũi Hảo Vọng (Nam Phi) đến Châu Âu và Châu Mỹ dành
riêng cho các tàu chở dầu khổng lồ không đi qua được kênh Suez.
Vận tải đường biển là loại phương tiện vận tải hàng hóa chủ yếu nhất trong
thương mại quốc tế. Trước khi Thế giới bước và
o kỷ nguyên của các chuyến bay
liên lục địa thì vận chuyển hành khách bằng tàu biển khá quan trọng, nhất là ở Bắc
Đại Tây Dương, nối Châu Âu với Bắc Mỹ. Vào năm 1838, vượt Đại Tây Dương hết
15,5 ngày (tàu Great Western), thì đến đầu thế kỷ XX chỉ còn 4,5 ngày (tàu
Mauritania, 1907) và đến năm 1952 chỉ còn 3,5 ngày (tàu United States, 1952).
Nhưng cũng từ thời điểm đó, vận tải hàng không đã chiếm mất vị trí độc tôn của tàu
vận tải khá
ch xuyên Đại Tây Dương. Hiện nay, chỉ còn một số tàu chở khách viễn
dương nhằm mục tiêu du lịch, các phà biển (ferries) hay các tàu chở khách nhỏ như
các nước quần đảo Inđônêxia, Philippin, các nước vùng Caribê. Trong khi việc
chuyên chở hành khách bằng đường biển giảm sút thì việc chuyên chở dầu mỏ, các
hàng hóa khác lại tăng lên mạnh. Việc chuyên chở các loại khoáng sản, gỗ, ngũ
cốc,… vẫn còn chiếm một khối lượng lớn, từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, việc
chuyên chở các loại hàng c
hế biến ngày càng tăng mạnh.
Khoảng ½ khối lượng hàng vận chuyển trên đường biển quốc tế là dầu mỏ và
các sản phẩm dầu mỏ. Việc chở dầu bàng các tanke luôn đe dọa ô nhiễm môi
trường. Toàn Thế giới có hàng trăm tàu chở dầu c
ó trọng tải trên 100 nghìn tấn
đang hoạt động. Tàu chở dầu chở tới hơn 300 loại sản phẩm dầu mỏ và mỡ. Mỗi khi

lấy hàng, người ta xả nước, nước nóng vào các khoang để rửa sạnh tàu rồi trút nước

phồn vi
nh, kinh tế biển càng mạnh.

Cảng biển là kết cấu hạ tầng quan trọng của kinh tế hàng hải, nó phải đi
trước một bước để thúc đẩy các ngành kinh tế biển khác phát triển. Vì vậy cần phải
có một quy hoạch cụ thể, phù hợp vì hoạt động của một cảng biển tồn tại đến hàng
trăm năm hoặc lâu hơn thế. Chẳng hạn cảng Rotterdam của Hà Lan hình thành từ
những năm
1860 đến nay đã gần 150 năm mà vẫn còn sầm uất, hiện nay vẫn là cảng
lớn nhất Châu Âu và còn một số cảng khác như: cảng London của Anh, cảng
Hamburg của Đức, cảng Antwerp của Bỉ cũng tương đồng ý nghĩa đó.
Cảng nằm trong một hệ thống phân phối hàng hóa. Vì vậy, để phân tích sự
phát triển và hoạt động của cảng, người ta phải quan tâm đến hậu phương
(hinterland) và vùng trước cảng (foreland). Hậu phương của cảng có thể được h
iểu
là một bộ phận lãnh thổ của đất nước tạo nên thị trường tự nhiên và phục vụ cho
cảng. Vùng trước cảng có thể được hiểu là vùng đất đối diện với hậu phương của
cảng qua vùng biển, nơi mà hàng hóa được chở từ đó đến cảng và ngược lại. Vùng
trước cảng xác định sự tham gia của cảng vào nền ki
nh tế Thế giới. Hiện trên Thế
giới có khoảng 6000 – 7000 cảng đang hoạt động, nhưng chỉ khoảng 100 có ý nghĩa
toàn cầu.
Cuối cùng, cần phải đề cập đến ba vị trí địa lý chiến lược cực kỳ quan trọng
trong hàng hải Thế giới hiện đại: kênh Suez (được đào cắt ngang eo đất Suez của Ai
Cập, nối Đại Tây Dương với Ấn Độ Dương)
, kênh Panama (cắt qua eo đất Panama
rộng 50 km là con đường ngắn nhất nối Thái Bình Dương và Đại Tây Dương) và eo
biển Malacca.
1.2.2.2 Hải sản
Nguồn lợi hải sản là thế mạnh đặc trưng của biển và khi nói về kinh tế biển

mức ảnh hưởng lớn đến nguồn lợi
thủy sản. Vì vậy, vấn đề khai thác hợp lý kết hợp với bảo vệ và phát triển nguồn tài
nguyên thủy sản có ý nghĩa to lớn. Một số ngư trường, chẳng hạn bãi cá thu Grand
Banks ngoài khơi phía đông Canada, đã bị khai thác vượt quá khả năng phục hồi.
Đánh bắt cá quá mức đã trở thành một vấn đề lớn. The
o báo cáo của Liên Hiệp
Quốc, hơn 25% ngư trường trên toàn thế giới bị khai thác quá mức, 50% bị đánh bắt
hết công suất và 75% cần được cấm hoặc giảm tốc độ đánh bắt ngay lập tức để đảm
bảo nguồn cá cho tương lai.
Các ngư trường khai thác thủy sản chủ yếu trên Thế Giới là Biển Bắc, Đông
Bắc Đại Tây Dương, Tây Bắc Đại Tây Dương, Trung Tâm Tây Đại Tây Dương,Tây Nam Đại Tây Dương, Bắc Địa Trung Hải, Đông Ấn Độ Dương, Tây Bắc Thái
Bình Dương, Đông và Đông Bắc Thái Bình Dương, Tây Nam Thái Bình Dương
Tuy việc đánh bắt từ biển vẫn còn cung cấp cho Thế giới tới 2/3 sản lượng
thủy sản, song ngành nuôi trồng đã và đang phát triển nhanh với vị thế ngày càng
cao. Rõ ràng, nguồn tài nguyên biển là có giới hạn, lại đang bị con người khai thác
quá mức. Để đáp ứng nhu cầu ngà
y càng tăng của Thế giới, việc phát triển nuôi
trồng thủy sản có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Sản lượng thủy sản nuôi trồng của Thế giới từ năm 1950 đến nay tăng gấp 3
lần, đạt trên 48 triệu tấn. Các loài thủy sản được nuôi ở các vùng nước lợ và nước
mặn ngày càng phổ biến với nhiều loài có giá trị cao về thực phẩm, về ki
nh tế đã trở
thành đối tượng nuôi trồng để xuất khẩu như tôm (tôm sú, tôm hùm,..), cua, cá…
Ngành nuôi trồng phát triển mạnh ở các nước Châu Á như Trung Quốc, Ấn
Độ, Nhật Bản, Philippin,…Ngoài ra còn có các nước khác như Bănglađet, Hàn
Quốc, Chilê,…
Sự tăng trưởng của các hoạt động nuôi trồng, khai thác, đánh bắt, chế biến

tới các trung tâm lọc, hóa dầu.
Dầu mỏ và các sản phẩm của nó được dùng làm nhiên liệu chiếm vị trí số
một trong số các loại nhiên liệu do dễ sử dụng, vận chuyển và có khả năng sinh
nhiệt cao (10000 – 11500 kcal/kg). Dầu mỏ, khí đốt là nguồn năng lượng mới, chỉ
thực sự được sử dụng nhiều vào nửa sau thế kỷ XX, từ 2% năm 1860 lên 4% năm
1900, đến 26% năm 1940 và 44% năm 1960 rồi đạt cực đại vào thập kỷ 80 gắn liền
với sự phát triển của ngành giao thông vận tải, công nghiệp hóa chất, đặc biệt là hóa
dầu…Dầu mỏ đư
ợc coi là “vàng đen” của đất nước.
Khí thiên nhiên trong một thời gian dài bị coi thường. Khí đồng hành ở các
mỏ dầu đã bị đốt đi một cách phí phạm
. Ngày nay, khí thiên nhiên là nhiên liệu
sạch, có hiệu quả, ít gây ô nhiễm môi trường hơn so với việc sử dụng than và dầu
nên được tận dụng một cách triệt để.
Trung Đông là khu vực có tiềm năng cực lớn về dầu mỏ và chiếm tới 65%
trữ lượng của Thế giới. Tiếp theo với trữ lượng nhỏ hơn nhiều là Châu Phi (9,3%),
Liên Xô cũ và Đông Âu (7,9%), Trung và Nam Mỹ (7,2%). Nếu phâ
n theo nhóm
nước thì hơn 80% trữ lượng dầu mỏ toàn cầu tập trung ở các nước đang phát triển.
Trữ lượng khí đốt nhiều nhất cũng thuộc về Trung Đông, Liên Xô cũ và Đông Âu,
Châu Phi, Viễn Đông – ASEAN.

Nhờ những tiến bộ về khoa học công nghệ mà con người ngày càng phát
hiện thêm nhiều mỏ dầu – khí mới, làm cho trữ lượng của chúng tăng lên đáng kể.
Theo đánh giá của các chuyên gia, trữ lượng ước tính của dầu mỏ từ 400 đến 500 tỉ
tấn, còn trữ lượng chắc chắn khoảng 140 tỉ tấn và khoảng 190 nghìn tỉ m
3
khí đốt.
Công việc thăm dò, khai thác và lọc hóa dầu đòi hỏi trình độ khoa học công
nghệ cao, vốn đầu tư lớn, khả năng quản lý giỏi về kinh tế. Vì thế, việc điều hành,

cảnh đẹp. Các bãi biển, hệ thống các đảo và quần đảo đóng một vai trò quan trọng
trong việc sử dụng tiềm năng tự nhiên của biển vào mục đích nghỉ ngơi và du lịch
biển.
Các bãi biển hấp dẫn du khách và thuận lợi phát triển các loại hình du lịch
tắm b
iển, lặn biển, thể thao biển, nghỉ dưỡng chữa bệnh cần có các điều kiện: có bãi
cát trắng, mịn, chiều dài và chiều rộng lớn, có độ dốc từ 1 – 3
0
, nước biển có độ
trong suốt cao từ 3 – 5m, độ mặn từ 2,5% - 4%, đảm bảo các tiêu chuẩn lý hóa sinh
không bị ô nhiễm, độ sâu của bãi tắm không quá 1,5m, độ sâu của các vùng ven bờ
phát triển du lịch lặn biển thường từ 20 – 30m. Những bãi biển có độ dốc lớn hơn
3
0
, độ sâu trên 1,5m, độ mặn trên 4% hoặc nhỏ hơn 2,5%, sóng cao trên 1,5m, độ
trong suốt dưới 0,5m, nước bị ô nhiễm đều không thuận lợi cho hoạt động tắm biển.
+ Ngoài ra, để phát triển du lịch biển còn cần có sự kết hợp các điều kiện địa
hình với điều kiện nước biển và khí hậu. Khí hậu ấm áp, nhiều nắng thuận lợi cho
phát triển du lịch biển. Khí hậu vùng ven biển thường là môi trường nghỉ dưỡng an
toàn cho du khách. Chính sự phân bố các vùng khí hậu khác nha
u đã tạo ra mức độ
thuận lợi khác nhau trong việc sử dụng các bãi biển vào mục đích nghỉ ngơi và du
lịch. Theo các nhà khí hậu học, vùng ven biển có khí hậu rất thuận lợi cho hoạt
động du lịch vì nhiệt độ ở đây cũng không quá nóng và cũng không quá lạnh như ở
lục địa.
Tài nguyên sinh vật vùng ven biển đa dạng, phong phú, là tiền đề phát triển
loại hình du lịch sinh thái, tham quan, nghiên cứu khoa học như: hệ thống rừng
ngập mặn, san hô,

- Tài nguyên du lịch nhân văn phục vụ du lịch biển

từ nước biển như Magiê, Clo, Brôm, Kali hay sản xuất axit clohydric,…
1.3. Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững
1.3.1 Môi trường và phát triển bền vững
1.3.1.1 Môi trường
Trong khái niệm chung, môi trường đư
ợc hiểu là toàn bộ các yếu tố của hoàn
cảnh xung quanh, tạo nên điều kiện tồn tại và phát triển của một chủ thể nào đó.
Chính vì thế có nhiều định nghĩa khác nhau về môi trường. Trong giáo dục học,
người ta nói đến môi trường giáo dục; trong kinh tế học có khái niệm về môi trường
kinh tế - xã hội; trong sinh học, người ta nói đến môi trường sống. Trong “Từ điển
đa dạng sinh học và phát triển bền vững Anh Việt” khái niệm mô
i trường được định

nghĩa là toàn bộ các điều kiện bao gồm những yếu tố không sống (các chất hóa học,
năng lượng,…) và các yếu tố sống (vật dữ, con mồi, vật ký sinh,…) có tác động lên
đời sống của sinh vật hoặc một hệ thống đặc trưng khác.
Môi trường tự nhiên là bộ phận hợp thành của môi trường sống và sản xuất
của loài người, là bộ phận của môi trường xung quanh. Môi trường tự nhi
ên bao
gồm toàn bộ các đối tượng của thiên nhiên sống và không sống bao quanh con
người, các đối tượng không chịu ảnh hưởng của hoạt động của con người, những
đối tượng đã chịu những biến đổi ở những mức độ khác nhau, nhưng phần nào hay
hoàn toàn còn giữ được khả năng tự phát triển (ví dụ như: các khu rừng bị chặt, đất
bỏ hóa,…)
Định nghĩa về mô
i trường của Ngân hàng Thế giới (WB, 1980): Môi trường
là tổng hợp những nhân tố vật lý, hoá học, sinh học, kinh tế xã hội có tác động đến
một cá thể, quần thể hoặc một cộng đồng.
Định nghiã của Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP): Môi
trường bao gồm các yếu tố vật lý, hoá học, sinh học, kinh tế xã hội có tác động đến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status