BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Phạm Thị Hoàng Dung
ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG, THỰC TRẠNG
VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
KINH TẾ BIỂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG
(TỈNH TIỀN GIANG)
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2009
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Phạm Thị Hoàng Dung
ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG, THỰC TRẠNG
VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
KINH TẾ BIỂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG
(TỈNH TIỀN GIANG)
Chuyên ngành : Địa lý học
Mã số
: 60 31 95
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Biển có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự sinh tồn của nhân loại. Biển là
kho nước vô tận, là kho tài nguyên, là kho thực phẩm vô cùng quý giá, là môi
trường nuôi sống con người trong quá khứ, ở hiện tại và cả tương lai. Biển là tài sản
quý giá của mỗi quốc gia. Nhiều nhà kinh tế học đã nói đến “lục địa xanh” này và
họ cho rằng “nền kinh tế tương lai của loài người trước hết là nền kinh tế gắn với
biển”, bởi vì đất liền đang mòn mỏi dần vì bị khai thác kiệt quệ tài nguyên, biển có
thể mở lối thoát khỏi tình trạng bế tắc về nguyên liệu, nhiên liệu cho sự phát triển.
Chính vì thế mà ngày nay, hầu như tất cả các quốc gia có biển (kể cả những quốc
gia không có biển) cũng điều chú ý đến việc nghiên cứu, khai thác nguồn lợi từ biển
trong quá trình phát triển kinh tế đất nước.
Có diện tích hơn 3,4 triệu km2, Biển Đông là một bộ phận nhỏ của Thái Bình
Dương nhưng lại có vị trí chiến lược quan trọng, là nơi qua lại của những đường
giao thông huyết mạch đối với nhiều nước, nối liền khu vực Đông Bắc Á với Tây
Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương và vùng Vịnh qua eo Malacca. Biển Đông là nơi
có nguồn tài nguyên biển vô cùng phong phú về số lượng và chủng loại.
Việt Nam nằm ở rìa biển Đông, là mặt tiền quan trọng của đất nước để thông
ra Thái Bình Dương và mở cửa ra nước ngoài. Nước ta là một quốc gia biển, với
diện tích vùng biển rộng gấp 3 lần diện tích đất liền (vùng biển rộng khoảng 1 triệu
km2), đường bờ biển dài 3260km bao lấy lãnh thổ cả 3 hướng: Bắc, Đông, Nam;
trung bình khoảng 100km2 đất liền có 1km bờ biển và không một nơi nào trên đất
nước ta lại cách xa biển hơn 500km. Từ bao đời nay, biển đã gắn bó chặt chẽ, mật
thiết với mọi hoạt động sản xuất và đời sống của dân tộc ta, ảnh hưởng lớn đến mọi
miền của Tổ Quốc, trở thành động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế đất
nước.
Với 32km bờ biển, Tiền Giang có điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế biển.
Trong đó, Huyện Gò Công Đông là huyện có nhiều tiềm năng và lợi thế lớn. Tình
hình kinh tế - xã hội vùng biển của Huyện trong thời gian qua đã có bước phát triển,
chỉ nghiên cứu Huyện Gò Công Đông giai đoạn 2000 – 2007.
- Về nội dung nghiên cứu: Về nội dung nghiên cứu chính của đề tài là những
vấn đề xoay quanh ngành kinh tế biển thật sự là thế mạnh của Huyện (những bộ
phận của kinh tế biển: ngành thủy hải sản, du lịch biển, vấn đề môi trường biển).
4. Lịch sử nghiên cứu
Kinh tế biển có vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển nền kinh tế
của đất nước và càng được chú trọng hơn trong giai đoạn hiện tại. Chính tầm quan
trọng đó của kinh tế biển nên từ trước đến nay có rất nhiều nghiên cứu về vấn đề
này nhưng tập trung nhất là các tỉnh có lợi thế lớn về biển như: Nha Trang, Bà Rịa
Vũng Tàu,….Vì vậy, các công trình nghiên cứu kể trên sẽ là những tài liệu tham
khảo để tôi nghiên cứu đề tài “Đánh giá tiềm năng, thực trạng và định hướng phát
triển kinh tế biển Huyện Gò Công Đông” (Tỉnh Tiền Giang) được đầy đủ và hoàn
chỉnh hơn.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
5.1.1 Quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin
là phương pháp luận khoa học. Trong quá trình nghiên cứu các vấn đề về lý luận và
thực tiễn phát triển kinh tế biển cần xem xét trong sự phát triển của khoa học này
với sự phát triển của các ngành khoa học có liên quan trong sự vận động, phát triển
của kinh tế - xã hội theo những quy luật khách quan và trong mối quan hệ biện
chứng qua lại chặt chẽ.
5.1.2 Quan điểm hệ thống
Quan điểm này được sử dụng rộng rãi trong quá trình nghiên cứu. Kinh tế
biển là một bộ phận của nền kinh tế chung, nó có mối quan hệ với nhiều ngành khoa
học khác và trong nội bộ của nó cũng có sự liên kết và gắn bó với nhau. Vì thế, khi
nghiên cứu, chúng ta phải đặt vấn đề trong mối quan hệ tương hỗ, tác động qua lại
của các yếu tố tạo thành một hệ thống hoàn chỉnh. Vì vậy, phải coi vấn đề kinh tế
nói chung và đặc biệt quan trọng trong quá trình nghiên cứu các vấn đề địa lí kinh tế
- xã hội nói riêng. Vì vậy, trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng
phương pháp này để kiểm tra độ chính xác, tin cậy của các nguồn tài liệu đã thu
thập được.
Các nguồn tài liệu cần thu thập tương đối đa dạng, phong phú cần chọn lọc
chính xác. Đối với công tác nghiên cứu địa lý kinh tế - xã hội, trước hết cần quan
tâm đến các dạng thông tin sau: trình bày bằng văn bản, số liệu thống kê, các bản
đồ, các dạng khác (trên mạng, những cuộc điều tra,…).
5.2.3 Phương pháp bản đồ - biểu đồ
Phương pháp bản đồ là phương pháp đặc trưng của khoa học Địa lí, bởi vì
mọi nghiên cứu thuộc lĩnh vực địa lý kinh tế - xã hội đều mở đầu bằng bản đồ và
kết thúc bằng bản đồ. Ý nghĩa to lớn của nó là góp phần giải quyết nhiều nội dung
nghiên cứu như đánh giá các nguồn lực, phân tích hiện trạng theo ngành và theo
lãnh thổ. Sử dụng phương pháp này giúp cho các vấn đề nghiên cứu được cụ thể,
trực quan và toàn diện hơn. Ngày nay, phương pháp bản đồ ngày càng được hoàn
thiện và đem lại hiệu quả cao trong nghiên cứu nhờ kỹ thuật viễn thám và hệ thông
tin địa lý (GIS).
Ngoài ra, đề tài còn thể hiện các mối quan hệ địa lí thông qua hệ thống bảng
số liệu và biểu đồ.
5.2.4 Phương pháp sưu tầm
Đây là một phương pháp rất quan trọng vì trên cơ sở sưu tầm được những số
liệu có liên quan đến nội dung nghiên cứu, chúng ta mới rút ra được các đặc điểm
về kinh tế biển huyện Gò Công Đông cũng như nhìn nhận, đánh giá chính xác mối
quan hệ giữa kinh tế biển và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
5.2.5 Phương pháp sử dụng hệ thông tin địa lý
Trong hai thập kỷ gần đây, công nghệ thông tin phát triển nhanh như vũ bão.
Việc sử dụng những thành tựu mới của nhân loại trong nghiên cứu địa lý kinh tế xã hội ngày càng được nhân rộng.
Hệ thông tin địa lý (GIS) là hệ thông tin đa dạng dùng để lưu trữ, xử lý, phân
thần thoại ấy vẫn còn lại.
Khi có sự thâm nhập của lục địa vào đại dương thì các đảo và bán đảo được
hình thành và ngược lại, khi có sự thâm nhập của đại dương vào lục địa thì các biển,
vịnh và eo biển được hình thành.
Biển là một bộ phận biệt lập của đại dương. Nó được phân biệt bởi những
đặc điểm tự nhiên, chủ yếu là bởi những đặc điểm thủy văn và khí hậu. Nó có thể
nằm giữa hai lục địa, ăn sâu vào lục địa hoặc tách ra khỏi đại dương bởi các bán
đảo, đảo và địa hình ngầm.
Tùy thuộc vào đặc tính của sự tiếp xúc giữa lục địa và đại dương, các biển
được phân chia thành ba nhóm:
- Các biển giữa các lục địa. Các biển này được bố trí giữa hai lục địa. Cần
chú ý rằng các biển giữa các lục địa nằm ở các vòng đai đứt gãy của vỏ Trái đất,
cho nên những nét đặt trưng của các biển này là sự chia cắt mạnh mẽ của đường bờ,
sự chênh lệch rõ rệt của độ sâu, hoạt động địa chấn và hoạt động núi lửa mạnh mẽ.
- Các biển trong lục địa. Các biển này ăn sâu vào trong lục địa, nằm ở thềm
lục địa và có độ sâu không lớn.
- Các biển rìa lục địa. Các biển này được tách ra khỏi đại dương bởi các quần
đảo hay bán đảo, được nối với các đại dương trên những tuyến rộng. Các biển này
được bố trí hoặc là ở thềm lục địa với độ sâu nhỏ, hoặc là ở sườn lục địa với sự tăng
nhanh đến độ sâu của đại dương..
Vị trí địa lý của biển quy định về nhiều mặt chế độ thủy văn của nó. Các biển
trong lục địa ít liên quan với đại dương, cho nên độ mặn của nước, chế độ của các
dòng biển và của thủy triều ở các biển này khác biệt rõ rệt so với đại dương.
1.1.2 Khái niệm về vùng ven biển
Từ trước đến nay có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về biển đã đưa
ra các định nghĩa khác nhau về vùng ven biển. Dưới đây là một số định nghĩa về
vùng ven biển đã được lựa chọn tùy theo từng quốc gia và từng lĩnh vực khoa học
cụ thể.
hướng biển.
1.2. Kinh tế biển
1.2.1 Khái niệm về kinh tế biển
Kinh tế biển là một ngành kinh tế có vai trò ngày càng quan trọng. Chính vì
thế định nghĩa cụ thể thế nào là kinh tế biển là việc làm rất có ý nghĩa.
Trước tiên, kinh tế biển phải được định nghĩa bằng cách tách ra giữa hoạt
động biển và phi biển.
Theo giáo sư Nguyễn Văn Hường (Tạp chí hoạt động khoa học kỹ thuật – số
5 năm 1996) đã viết: “Kinh tế biển là một lĩnh vực bao trùm gồm nhiều ngành hoạt
động liên quan đến biển như: thủy sản, du lịch, giao thông vận tải, dầu khí,…nhằm
khai thác toàn bộ lợi ích mà biển có thể mang lại để phát triển đất nước”.
Như vậy, chúng ta có thể hiểu một cách đơn giản: kinh tế biển là những hoạt
động kinh tế dựa trên việc khai thác các nguồn tài nguyên và môi trường biển.
Khi xem xét tới kinh tế biển, cũng cần đề cập đến kinh tế vùng ven biển ở
một mức độ cần thiết. Để có một khái niệm mang tính quy ước khi phân tích, quan
niệm kinh tế biển bao gồm:
1) Toàn bộ các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển, chủ yếu gồm: 1. Kinh tế
Hàng hải (Vận tải biển và Dịch vụ cảng biển); 2. Hải sản (đánh bắt và nuôi trồng
hải sản); 3. Khai thác Dầu khí ngoài khơi; 4. Du lịch biển; 5. Làm muối; 6. Dịch vụ
tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn; 7. Kinh tế đảo. Có thể coi đây là quan niệm về kinh tế
biển theo nghĩa hẹp.
2) Các hoạt động kinh tế trực tiếp liên quan đến khai thác biển, tuy không
phải diễn ra trên biển nhưng những hoạt động kinh tế này là nhờ vào yếu tố biển
hoặc trực tiếp phục vụ các hoạt động kinh tế biển ở dải đất liền ven biển, bao gồm:
1. Đóng và sửa chữa tàu biển (hoạt động này cũng được xếp chung vào lĩnh vực
kinh tế hàng hải); 2. Công nghiệp chế biến dầu, khí; 3. Công nghiệp chế biến thuỷ,
hải sản; 4. Cung cấp dịch vụ biển; 5. Thông tin liên lạc (biển); 6. Nghiên cứu khoa
học - công nghệ biển, đào tạo nhân lực phục vụ phát triển kinh tế biển, điều tra cơ
cả các lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp; công nghiệp và dịch vụ trên phạm vi địa bàn
lãnh thổ này
1.2.2 Cơ cấu của kinh tế biển
Cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan hệ
hữu cơ tương đối ổn định hợp thành. Từ định nghĩa này có thể nhấn mạnh đến hai
nội dung chủ yếu: thứ nhất, đó là tổng thể các bộ phận hợp thành và thứ hai, chúng
có mối quan hệ hữu cơ tương đối ổn định.
Cơ cấu ngành (lĩnh vực) kinh tế là một bộ phận cấu thành cơ bản của nền
kinh tế quốc dân. Đây là tổng hợp các ngành (lĩnh vực) của nền kinh tế được sắp
xếp theo một tương quan tỷ lệ nhất định. Nói cách khác, cơ cấu ngành thể hiện số
lượng, tỷ trọng của ngành (lĩnh vực) tạo nên nền kinh tế.
Có rất nhiều ngành tạo thành nền kinh tế. Về đại thể, chúng được phân thành
ba nhóm ngành sau đây:
-
Khu vực 1 bao gồm: nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp.
-
Khu vực 2 bao gồm: công nghiệp và xây dựng.
-
Khu vực 3 là dịch vụ.
Cần lưu ý thêm, trong nền kinh tế có cơ cấu ngành thì trong bản thân từng
ngành cũng tồn tại cơ cấu đó. Chẳng hạn, cơ cấu ngành của ngư nghiệp là tương
quan tỷ trọng giữa đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản,...
Cơ cấu kinh tế biển theo nghĩa hẹp bao gồm: 1. Kinh tế Hàng hải (Vận tải
biển và Dịch vụ cảng biển); 2. Hải sản (đánh bắt và nuôi trồng hải sản); 3. Khai thác
dịch vụ kiểu con lắc rất được ưa chuộng do tính chất uyển chuyển trong dịch vụ và
đặc biệt là trong thời đại chuyên chở bằng các tàu container. Trong những năm gần
đây, còn có khuynh hướng tích hợp và chuyên môn hóa các tuyến đường biển nhờ
các tàu chuyển tải đường ngắn nối các cảng lớn với nhau.
Đại dương bao la nhưng các tuyến đường hàng hải lại chỉ tập trung ở một số
tuyến quan trọng: Bắc Đại Tây Dương nối Châu Âu và Bắc Mỹ, Địa Trung Hải –
Châu Á qua kênh Suez, thông qua kênh Panama nối Châu Âu và bờ Đông Hoa Kỳ
và Châu Á, đường biển Nam Phi nối Châu Âu qua Châu Mỹ với Châu Phi, đường
biển Nam Mỹ nối Châu Âu và Bắc Mỹ với Nam Mỹ, đường Biển Bắc Thái Bình
Dương nối Tây Hoa Kỳ với Nhật Bản và Trung Quốc, đường biển Nam Thái Bình
Dương từ Tây Hoa Kỳ đến Ôxtrâylia, Niu Dilân, Inđônêsia và Nam Á. Đường biển
từ vùng vịnh Pecxich qua mũi Hảo Vọng (Nam Phi) đến Châu Âu và Châu Mỹ dành
riêng cho các tàu chở dầu khổng lồ không đi qua được kênh Suez.
Vận tải đường biển là loại phương tiện vận tải hàng hóa chủ yếu nhất trong
thương mại quốc tế. Trước khi Thế giới bước vào kỷ nguyên của các chuyến bay
liên lục địa thì vận chuyển hành khách bằng tàu biển khá quan trọng, nhất là ở Bắc
Đại Tây Dương, nối Châu Âu với Bắc Mỹ. Vào năm 1838, vượt Đại Tây Dương hết
15,5 ngày (tàu Great Western), thì đến đầu thế kỷ XX chỉ còn 4,5 ngày (tàu
Mauritania, 1907) và đến năm 1952 chỉ còn 3,5 ngày (tàu United States, 1952).
Nhưng cũng từ thời điểm đó, vận tải hàng không đã chiếm mất vị trí độc tôn của tàu
vận tải khách xuyên Đại Tây Dương. Hiện nay, chỉ còn một số tàu chở khách viễn
dương nhằm mục tiêu du lịch, các phà biển (ferries) hay các tàu chở khách nhỏ như
các nước quần đảo Inđônêxia, Philippin, các nước vùng Caribê. Trong khi việc
chuyên chở hành khách bằng đường biển giảm sút thì việc chuyên chở dầu mỏ, các
hàng hóa khác lại tăng lên mạnh. Việc chuyên chở các loại khoáng sản, gỗ, ngũ
cốc,… vẫn còn chiếm một khối lượng lớn, từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, việc
chuyên chở các loại hàng chế biến ngày càng tăng mạnh.
Khoảng ½ khối lượng hàng vận chuyển trên đường biển quốc tế là dầu mỏ và
ngành mũi nhọn, trong đó vai trò chủ đạo là cảng biển. Nơi nào có cảng biển, nơi
đó sẽ là thành phố với kinh tế, công nghiệp và giao thương phát triển. Cảng biển
phồn vinh, kinh tế biển càng mạnh.
Cảng biển là kết cấu hạ tầng quan trọng của kinh tế hàng hải, nó phải đi
trước một bước để thúc đẩy các ngành kinh tế biển khác phát triển. Vì vậy cần phải
có một quy hoạch cụ thể, phù hợp vì hoạt động của một cảng biển tồn tại đến hàng
trăm năm hoặc lâu hơn thế. Chẳng hạn cảng Rotterdam của Hà Lan hình thành từ
những năm 1860 đến nay đã gần 150 năm mà vẫn còn sầm uất, hiện nay vẫn là cảng
lớn nhất Châu Âu và còn một số cảng khác như: cảng London của Anh, cảng
Hamburg của Đức, cảng Antwerp của Bỉ cũng tương đồng ý nghĩa đó.
Cảng nằm trong một hệ thống phân phối hàng hóa. Vì vậy, để phân tích sự
phát triển và hoạt động của cảng, người ta phải quan tâm đến hậu phương
(hinterland) và vùng trước cảng (foreland). Hậu phương của cảng có thể được hiểu
là một bộ phận lãnh thổ của đất nước tạo nên thị trường tự nhiên và phục vụ cho
cảng. Vùng trước cảng có thể được hiểu là vùng đất đối diện với hậu phương của
cảng qua vùng biển, nơi mà hàng hóa được chở từ đó đến cảng và ngược lại. Vùng
trước cảng xác định sự tham gia của cảng vào nền kinh tế Thế giới. Hiện trên Thế
giới có khoảng 6000 – 7000 cảng đang hoạt động, nhưng chỉ khoảng 100 có ý nghĩa
toàn cầu.
Cuối cùng, cần phải đề cập đến ba vị trí địa lý chiến lược cực kỳ quan trọng
trong hàng hải Thế giới hiện đại: kênh Suez (được đào cắt ngang eo đất Suez của Ai
Cập, nối Đại Tây Dương với Ấn Độ Dương), kênh Panama (cắt qua eo đất Panama
rộng 50 km là con đường ngắn nhất nối Thái Bình Dương và Đại Tây Dương) và eo
biển Malacca.
1.2.2.2 Hải sản
Nguồn lợi hải sản là thế mạnh đặc trưng của biển và khi nói về kinh tế biển
không thể không nhắc đến vai trò, vị trí của ngành. Ngành hải sản bao gồm các lĩnh
vực như: khai thác, nuôi trồng, chế biến.
Quốc, hơn 25% ngư trường trên toàn thế giới bị khai thác quá mức, 50% bị đánh bắt
hết công suất và 75% cần được cấm hoặc giảm tốc độ đánh bắt ngay lập tức để đảm
bảo nguồn cá cho tương lai.
Các ngư trường khai thác thủy sản chủ yếu trên Thế Giới là Biển Bắc, Đông
Bắc Đại Tây Dương, Tây Bắc Đại Tây Dương, Trung Tâm Tây Đại Tây Dương,
Tây Nam Đại Tây Dương, Bắc Địa Trung Hải, Đông Ấn Độ Dương, Tây Bắc Thái
Bình Dương, Đông và Đông Bắc Thái Bình Dương, Tây Nam Thái Bình Dương
Tuy việc đánh bắt từ biển vẫn còn cung cấp cho Thế giới tới 2/3 sản lượng
thủy sản, song ngành nuôi trồng đã và đang phát triển nhanh với vị thế ngày càng
cao. Rõ ràng, nguồn tài nguyên biển là có giới hạn, lại đang bị con người khai thác
quá mức. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của Thế giới, việc phát triển nuôi
trồng thủy sản có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Sản lượng thủy sản nuôi trồng của Thế giới từ năm 1950 đến nay tăng gấp 3
lần, đạt trên 48 triệu tấn. Các loài thủy sản được nuôi ở các vùng nước lợ và nước
mặn ngày càng phổ biến với nhiều loài có giá trị cao về thực phẩm, về kinh tế đã trở
thành đối tượng nuôi trồng để xuất khẩu như tôm (tôm sú, tôm hùm,..), cua, cá…
Ngành nuôi trồng phát triển mạnh ở các nước Châu Á như Trung Quốc, Ấn
Độ, Nhật Bản, Philippin,…Ngoài ra còn có các nước khác như Bănglađet, Hàn
Quốc, Chilê,…
Sự tăng trưởng của các hoạt động nuôi trồng, khai thác, đánh bắt, chế biến
thủy hải sản là lĩnh vực quan trọng đối với phát triển kinh tế biển, phát triển kinh tế
- xã hội vùng biển. Trong đó năng lực đánh bắt thủy sản phụ thuộc vào việc trang bị
cơ giới và công suất động lực của tàu thuyền. Và bên cạnh các hoạt động khai thác,
đánh bắt hải sản tự nhiên thì việc đầu tư nuôi thủy sản cũng đã được phát triển rộng
rãi, trở thành một nghề mới có ý nghĩa quan trọng của đông đảo dân cư vùng biển.
Hoạt động nuôi trồng thủy sản đa dạng, tập trung vào các loại sản phẩm có giá trị
kinh tế cao và phù hợp với điều kiện sinh thái của mỗi địa phương. Kế đến là hoạt
động chế biến thủy hải sản, đây là biện pháp tốt nhất nhằm bảo quản các sản phẩm