LỜI MỞ ĐẦU
Công nghiệp hóa hiện đại hóa đang là xu thế tất yếu của đất nước ta trong quá
trình phát triển kinh tế và hội hập toàn cầu, chủ trương này đã được nhà nước và chính
phủ triển khai ở khắp các địa phương trên cả nước. Hòa theo xu thế chung này các địa
phương vùng đồng bằng sông Hồng đã nhanh chóng đi đầu trong việc phát triển các khu
công nghiệp và khu chế xuất.
Sau hơn 15 năm hình thành và phát triển các khu công nghiệp đã đem lại những
thành tựu to lớn cho khu vực làm gia tăng giá trị sản xuất công nghiệp đáng kể cũng như
đóng góp lớn cho ngân sách địa phương, không những tạo nên sự phát triển kinh tế mà
các khu công nghiệp còn tạo đà cho việc xây dựng kết cấu hạ tâng đô thị theo hướng
hiện đại hóa.
Nhận thấy vai trò to lớn của các khu công nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa ở các tỉnh phía bắc em đã quyết định lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Đầu tư
vào các khu công nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng thực trạng và giải pháp”.
Đề tài gồm 3 chương :
Chương I: Các vấn đề lí thuyết về khu công nghiệp
Chương II: Thực trạng thu hút đầu tư và hoạt động của các doanh nghiệp trong
khu công nghiệp vùng đồng bằng sông hồng
Chương III: Một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư và nâng cao
hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp trong khu công nghiệp
Xin chân thành cảm ơn T.S Đinh Đào Ánh Thủy đã giúp đỡ em hoàn thành đề tài
này.
Đỗ Thị Quỳnh Trang – Lớp Đầu Tư 47A
CHƯƠNG I: CÁC VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT VỀ KHU CÔNG NGHIỆP
I. Khái niệm và đặc điểm của khu công nghiệp
a. Khái niệm
Theo nghĩa rộng thì khu công nghiệp (KCN) bao gồm tất cả các khu vực được
chính phủ nước sở tại cho phép chuyên môn hóa sản xuất công nghiệp, nó là khu biệt
lập có chế độ mậu dịch và thuế quan riêng, không phụ thuộc vào chế độ thuế quan và
mậu dịch phổ thông của nước đó. theo quan niệm này thì KCN bao gồm các khu cảng tự
do, các khu vực mậu dịch tự do, các khu vực phi thuế quan, các khu vực công nghiệp tự
tự phát, phân tán, tiết kiệm đất, sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư phát triển hạ tầng, hạn
chế ô nhiễm do chất thải công nghiệp gây ra. Phát triển các KCN cũng để thúc đẩy các
cơ sở sản xuất dịch vụ cùng phát triển, làm cơ sở cho việc phát triển các khu đô thị,
phân bố hợp lý lực lượng sản xuất. Trong suốt quá trình hình thành và phát triển các khu
công nghiệp đã ngày càng khẳng định vai trò to lớn của mình trong các lĩnh vực tạo nên
sự tăng trưởng kinh tế
a. Tăng cường khả năng thu hút đầu tư, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng
kinh tế
Hầu hết các nước đang trong thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp hóa hiện đại
hóa đều gặp phải một thực trạng nan giải là tình trạng thiếu vốn. Thông qua những ưu
đãi đặc biệt so với sản xuất trong nước thì các khu công nghiệp có được môi trường đầu
tư hấp dẫn hơn, vì vậy nó có khả năng thu hút vốn đầu tư đặc biệt là vốn FDI. Theo
ngân hàng thế giới cho đến năm 2004 các dự án đầu tư nước ngoài được thực hiện trong
khu công nghiệp khá cao, do vậy khu công nghiệp đã đóng góp đáng kể trong việc thu
hút FDI
b. Phát triển khu công nghiệp thúc đẩy chuyển dịch kinh tế
Xây dựng và phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế là chủ
trương chiến lược đang được Chính phủ tích cực triển khai để thúc đẩy chuyển dịch cơ
cấu kinh tế từ một nền kinh tế nông nghiệp sang công nghiệp với mục tiêu phục vụ cho
tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài, phấn đấu
đưa Việt Nam trở thành nước công nghiệp vào năm 2020.
Đỗ Thị Quỳnh Trang – Lớp Đầu Tư 47A
c. KCN là cơ sở để tiếp cận với kĩ thuật và công nghệ hiện đại, học hỏi phương
thức quản lí mới và nâng cao năng lực cạnh tranh
- Tạo diều kiện tiếp cận với khoa học công nghệ:
Cùng với sự phát triển của các KCN, KCX, một số lượng không nhỏ các công
nghệ tiên tiến đã được chuyển giao và ứng dụng trong nhiều ngành công nghiệp. Tuy
nhiên, một đặc điểm nổi rõ về mặt công nghệ trong các doanh nghiệp công nghiệp Việt
Nam là tồn tại một sự hỗn hợp các trình độ công nghệ khác nhau (lạc hậu, trung bình,
tiên tiến) trong các ngành, trong các doanh nghiệp của cùng một ngành và thậm chí ngay
môi trường có kỷ luật cao, yêu cầu tay nghề cao, đã rèn luyện được những kỹ năng và
bản lĩnh làm việc giúp người lao động Việt Nam thích ứng với một nền công nghiệp tiên
tiến, hiện đại.
e. Vai trò của KCN, KCX trong việc hiện đại hoá hệ thống kết cấu hạ tầng
Nhiều KCN đã và đang đóng vai trò quan trọng và tạo ra một khí thế phát triển
mới cho nền kinh tế cả nước. Tại các vùng hay địa phương có các KCN hoạt động mạnh
thì mức độ tăng trưởng kinh tế ở đó cao hơn những nơi KCN chưa phát triển
Việc phát triển các KCN trong thời gian qua không những thúc đẩy các ngành dịch
vụ phát triển, thúc đẩy CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn, mà còn đẩy nhanh tốc độ đô
thị hóa, góp phần đáng kể vào việc hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng trong và ngoài
KCN. Điều này được thể hiện qua một số khía cạnh sau:
- Đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng các KCN có tác dụng kích thích sự phát
triển kinh tế địa phương, góp phần rút ngắn sự chênh lệch phát triển giữa nông thôn và
thành thị, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.
- Cùng với các chính sách ưu đãi về tài chính và công tác quản lý thuận lợi của nhà
nước, có thể nói việc thu hút nguồn vốn để đầu tư xây dựng hoàn thiện và đồng bộ các
kết cấu hạ tầng trong KCN có vai trò quyết định trong việc thu hút đầu tư. Việc các
doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế (doanh nghiệp quốc doanh, doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp ngoài quốc doanh) tham gia đầu tư xây dựng
kết cấu hạ tầng KCN không những tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong
KCN hoạt động hiệu quả, mà còn tạo sự đa dạng hóa thành phần doanh nghiệp tham gia
Đỗ Thị Quỳnh Trang – Lớp Đầu Tư 47A
xúc tiến đầu tư góp phần tạo sự hấp dẫn trong việc thu hút doanh nghiệp công nghiệp
vào KCN.
2. Tầm quan trọng của các khu công nghiệp đối với vùng đồng bằng Sông Hồng
a. Giới thiệu chung về vùng đồng bằng Sông Hồng
Đồng bằng sông Hồng rộng gần 1,3 triệu ha, chiếm 3,8% diện tích toàn quốc với
một vùng biển bao quanh ở phía Đông và Đông Nam. Số dân của đồng bằng là 14,8
triệu người (1999), chiếm 19,4% số dân của cả nước.
Hiện tại cũng như trong tương lai, đồng bằng sông Hồng là một trong những vùng
nông trở thành vùng có nền công nghiệp phát triển
- KCN đã đem lại một khối lượng lớn việc làm cho người dân nơi đây, giải quyết
được vấn đề dư thừa lao động do sức ép dân số gây nên
- Sự phát triển của KCN đã kéo theo sự phát triển cơ sở hạ tầng như giao thông và
các đô thị
Đỗ Thị Quỳnh Trang – Lớp Đầu Tư 47A
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THU HÚT ĐẦU TƯ VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA
CÁC DOANH NGHIỆP TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP VÙNG
ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
Tổng quan về các khu công nghiệp trên lãnh thổ Việt Nam
Về quy mô hoạt động
Tính đến cuối tháng 7/2008, cả nước có 186 KCN, KCX đã được thành lập với
tổng diện tích đất tự nhiên 45.042 ha, trong đó diện đất công nghiệp có thể cho thuê đạt
29.469 ha, chiếm 66.6% tổng diện tích đất tự nhiên. Trong đó, 110 KCN, KCX đã đi
vào hoạt động với tổng diện tích đất tự nhiên 26.115 ha và 76 KCN đang trong giai đoạn
đền bù giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ bản với tổng diện tích đất tự nhiên 18.926
ha. Các KCN, KCX phân bố ở 54 tỉnh, thành phố trên cả nước, tập trung ở 3 vùng kinh
tế trọng điểm với tổng diện tích đất tự nhiên chiếm trên 60% tổng diện tích các KCN
trong cả nước. Trong thời gian qua, phân bố các KCN đã dần dịch chuyển theo hướng
giảm bớt mật độ các KCN ở các Vùng kinh tế trọng điểm, ưu tiên thành lập các KCN ở
Trung du và miền núi Bắc Bộ, Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long. Hiện
nay, 48 tỉnh, thành phố đã thành lập KCN, tuy nhiên, phân bố các KCN vẫn tập trung ở
ba Vùng kinh tế trọng điểm. Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam tập trung nhiều KCN
nhất với 65 KCN với tổng diện tích tự nhiên 16.228 ha, chiếm 55,2% tổng diện tích đất
tự nhiên các KCN cả nước. Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc có 25 KCN với tổng diện
tích đất tự nhiên 4.601 ha, chiếm 15,7% tổng diện tích tự nhiên các KCN cả nước và
Vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung có 10 KCN với tổng diện tích đất tự nhiên 2.395
ha, chiếm 8,1% tổng diện tích đất tự nhiên các KCN cả nước. Cụ thể:
- Vùng Đông Nam Bộ có 75 KCN với tổng diện tích 22.352 ha
- Vùng Đồng bằng sông Hồng có 42 KCN với tổng diện tích 10.046 ha
thể cho thuê
Đất KCN đã cho thuê
Diện tích
So với đất có thể
cho thuê(%)
Đồng bằng sông Hồng 4570 3018 1617 35,58 105.806
Đông bắc 1252 815 136,72 16,78 3.386
Bắc trung bộ 606 400 159 39,75 8.908
Duyên hải nam trung bộ 2104 1462 956 65,39 81.523
Tây Nguyên 462,3 310 80 25,81 4.722
Đông nam bộ 16023 10558 6461,75 61,62 612,503
ĐB sông Cửu Long 3645 2415,64 778,32 32,22 32.873
Tổng cả nước 28662,3 18978,64 10188,79 53,69 849.721
Nguồn: tổng cục thống kê
Về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Đỗ Thị Quỳnh Trang – Lớp Đầu Tư 47A
Bất chấp những khó khăn của tình hình kinh tế vĩ mô, các doanh nghiệp hoạt động
trong các KCN trên cả nước vẫn đạt được những kết quả tương đối khả quan. Trong 6
tháng đầu năm, giá trị sản xuất công nghiệp của các doanh nghiệp hoạt động tại các
KCN trong cả nước đạt khoảng 14 tỷ USD, tăng 18% so với cùng kỳ năm 2007. Giá trị
xuất khẩu của các doanh nghiệp KCN đạt khoảng 7 tỷ USD, tăng 21% so với cùng kỳ
năm 2007. Một số tỉnh, thành phố đạt tỷ lệ tăng trưởng cao là: Hà Nội, Cần Thơ, Thái
Bình, ... Trong 6 tháng đầu năm 2008, tổng giá trị nhập khẩu của các doanh nghiệp
KCN ở Hà Nội đạt 697,3 triệu USD – tăng 26%, tổng giá trị xuất khẩu đạt 943,4 triệu
USD – tăng 32,2%, tổng doanh thu đạt 1,04 tỷ USD – tăng 7,6%, nộp ngân sách Nhà
nước 25,31 triệu USD – tăng 5,6% so với cùng kỳ năm ngoái. Các doanh nghiệp KCN
Cần Thơ đạt tổng doanh thu 875,5 triệu USD – tăng 169% so với năm 2007 trong đó giá
trị sản xuất công nghiệp đạt 368,4 triệu USD – tăng 136,7%, giá trị dịch vụ đạt 507,10
triệu USD – tăng 200%, nộp ngân sách Nhà nước đạt 660,9 tỷ đồng – tăng 66,89%. Giá
trị sản xuất công nghiệp của các doanh nghiệp KCN tỉnh Thái Bình đạt 1.248 tỷ đồng –
tăng thêm của cả nước và tăng gần 2 lần so với năm 2005.
Tính đến cuối tháng 12/2006, các KCN đã thu hút được 2.433 dự án có vốn đầu tư
nước ngoài với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 21,79 tỷ USD. Trong đó, trên 1.700 dự án
đã đi vào sản xuất kinh doanh và 380 dự án đang xây dựng nhà xưởng. Tổng vốn đầu tư
thực hiện luỹ kế đến cuối năm 2006 đạt 11,37 tỷ USD, chiếm khoảng 52% tổng vốn đầu
tư đăng ký.
Năm 2006, các KCN trên cả nước thu hút được trên 300 dự án đầu tư trong nước
với tổng vốn đầu tư đạt trên 15.000 tỷ đồng. Luỹ kế đến cuối tháng 12/2006, các KCN
cả nước thu hút được 2.623 dự án đầu tư trong nước với tổng số vốn đầu tư đăng ký đạt
khoảng 135,69 nghìn tỷ đồng. Trong đó, trên 1.720 dự án đã đi vào sản xuất kinh doanh
và còn gần 500 dự án đang xây dựng nhà xưởng. Tổng vốn đầu tư thực hiện luỹ kế đến
cuối năm 2006 đạt khoảng 78 nghìn tỷ đồng, chiếm xấp xỉ 58%.
-Giá trị sản xuất công nghiệp của các KCN cả nước năm 2006 ước đạt khoảng
16,8 tỷ USD, tăng 19% so với năm 2005 và chiếm khoảng 29-30% tổng giá trị sản xuất
công nghiệp cả nước.
-Giá trị xuất khẩu của các doanh nghiệp KCN cả nước năm 2006 ước đạt khoảng
8,3 tỷ USD, tăng trên 22% so với năm 2005 và chiếm trên 21% so với tổng giá trị xuất
khẩu cả nước năm 2006 (kể cả dầu thô).
-Giá trị nhập khẩu của các doanh nghiệp KCN cả nước năm 2006 ước đạt khoảng
12,5 tỷ USD, tăng gần 50% so với năm 2005.
Nhìn vào các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh nêu trên, có thể thấy đóng góp của
KCN, KKT vào giá trị sản xuất công nghiệp và xuất khẩu của cả nước ngày càng lớn.
Năm 2006, các doanh nghiệp KCN nộp ngân sách khoảng 880 triệu USD, tăng
35,4% so với năm 2005.
Đến cuối năm 2006, các KCN đã giải quyết việc làm cho trên 918.000 lao động
trực tiếp
Nhìn trên biểu đồ ta có thể nhận thấy sự đóng góp của các khu công nghiệp vùng
đồng bằng sông Hồng chỉ đứng thứ hai cả nước sau các khu công nghiệp tập trung ở
Đỗ Thị Quỳnh Trang – Lớp Đầu Tư 47A
Đông Nam Bộ với giá trị đóng góp rất lớn, thực trạng trên đã chứng tỏ vai trò to lớn của
điện tử, đưa tin học vào các hoạt động kinh tế, quản lý và xã hội; phát triển có chọn lọc
các ngành công nghiệp ít gây ô nhiễm môi trường;
- Bố trí không gian công nghiệp : hình thành ba cụm công nghiệp và các hành lang
phát triển công nghiệp chính : cụm Hà Nội, cụm Hải Phòng, cụm phía Nam của vùng
(gồm Nam Định, Phủ Lý, Ninh Bình và Tam Điệp); các khu công nghiệp trên các hành
lang quốc lộ 1, quốc lộ 5, quốc lộ 18, quốc lộ 21A và quốc lộ 10;
- Hình thành một mạng lưới đô thị gồm các cấp : thành phố trực thuộc Trung
ương, thành phố tỉnh lỵ, thị xã, thị trấn, thị tứ phân bố đều trên toàn vùng với các đô thị
trung tâm : Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định. Mạng lưới đô thị nêu trên là cơ sở để phát
triển đô thị hóa, hiện đại hóa các điểm dân cư nông thôn trong vùng.
Sau hơn 10 năm hình thành và phát triển khu công nghiệp đồng bằng sông Hồng
đã bước đầu thực hiện được các mục tiêu đề ra với những thành quả đáng kể
II. Thực trạng về các khu công nghiệp tập trung của vùng đồng bằng Sông Hồng
1. Các đánh giá tổng quan về quy mô và hoạt động của các khu công nghiệp
Đồng bằng sông Hồng gồm 12 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh,
Hà Tây, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Nam Định, Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương, Ninh Bình
và Thái Bình. Đây là vùng tập trung khá nhiều KCN, KCX và đang có những dấu hiệu
bứt phá trong thu hút đầu tư vào KCN, KCX trong thời gian gần đây. Các KCN, KCX
vùng Đồng bằng sông Hồng được xây dựng và thành lập về cơ bản phù hợp với quy
hoạch được duyệt, đã có 34 KCN được thành lập, trong đó có 23 KCN đang hoạt động
và 11 KCN đang trong thời kỳ triển khai xây dựng cơ bản. Tổng diện tích đất quy hoạch
phát triển KCN đã thành lập đạt 6.455 ha, trong đó diện tích đất công nghiệp có thể cho
thuê chiếm 66,3%. So với cả nước, tổng diện tích đất quy hoạch phát triển KCN của
vùng Đồng bằng sông Hồng chiếm 20,5%. Nhìn chung, việc sử dụng đất của các nhà
đầu tư thuê đất trong các KCN đã đi vào hoạt động trong vùng phù hợp với mục đích sử
dụng, thời gian sử dụng đã được phê duyệt. Tỷ lệ lấp đầy diện tích đất công nghiệp cho
thuê của các KCN đã vận hành đạt 72,4%, tương đương mức trung bình của cả nước.
Tất cả các KCN này đều có trong Quy hoạch phát triển các KCN đến năm 2000
được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại các Quyết định số 519/TTg ngày 6/8/1996, số
713/TTg ngày 30/8/1997 và số 194/1998/QĐ-TTg ngày 01/10/1998; Quy hoạch phát
Thái Bình 100.0 61.8 1.3 15.4 8.1
Hà Nam 100.0 54.0 8.6 14.7 6.0
Nam Định 100.0 58.5 2.6 14.3 6.2
Ninh Bình 100.0 45.4 19.7 11.6 3.9
Nguồn: Tổng Cục thống kê
Theo kết quả cuộc kiểm tra tình hình triển khai quy hoạch KCN, KCX vùng đồng
bằng sông Hồng của Bộ Kế hoạch và Đầu tư năm 2007 thì tổng mức đầu tư đăng ký của
34 dự án phát triển kết cấu hạ tầng KCN thuộc vùng đồng bằng sông Hồng đạt 9.625 tỷ
đồng và 489 triệu USD. Vốn đầu tư thực hiện kể từ khi khởi công đạt 3.560 tỷ đồng và
317 triệu USD. Như vậy, các dự án phát triển kết cấu hạ tầng đã thực hiện được trên
50% tổng vốn đầu tư với khoảng 53% tổng diện tích đất công nghiệp đã hoàn thành đền
bù giải phóng mặt bằng và xây dựng xong cơ sở hạ tầng.
Nhiều địa phương triển khai thu hút đầu tư nhanh chóng, không chỉ lấp đầy nhanh
diện tích đất công nghiệp của các KCN mà còn thu hút được những dự án có quy mô
lớn, có hàm lượng công nghệ cao vào KCN.
Một số KCN đã cơ bản hoàn thành việc đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng và thu hút
đầu tư đạt tỷ lệ lấp đầy cao gồm: KCN Nomura, Nam Sách, Đại An, Phúc Điền, Tiên
Sơn, Đồng Văn I, Khai Quang, Hoà Xá, Nguyễn Đức Cảnh, Thăng Long, Sài Đồng B.
Đỗ Thị Quỳnh Trang – Lớp Đầu Tư 47A
Các dự án đầu tư vào KCN trong vùng tập trung chủ yếu vào các ngành công
nghiệp như dệt may, chế biến thực phẩm, sản xuất ôtô, xe máy và phụ tùng, cơ khí chính
xác, sản phẩm thép, vật liệu xây dựng, điện-điện tử, linh kiện nhựa... Các KCN đã quan
tâm nhiều hơn đến cơ cấu đầu tư vào KCN, có sự lựa chọn nhà đầu tư theo hướng ưu
tiên đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao; thu hút một số nhà đầu tư có uy tín vào KCN
như: Canon, Orion-Hanel, Sumitomo Bakelite, Rorze Robotech, Brother Industries,
Sumidenso…
Các KCN thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng đã thu hút được 447 dự án có vốn
đầu tư nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 3.767 triệu USD (chiếm
17,7% về số dự án và 16% về số vốn đầu tư của các dự án đầu tư nước ngoài trong các
KCN cả nước) và 519 dự án đầu tư trong nước còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư 33,46
thuộc đồng bằng Sông Hồng
Đơn vị: %
Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006
Hà Nội 40.43 42.82 42.85 41.55 39.79 38.77
Vĩnh Phúc 10.2 11.11 10.85 10.41 10.89 11.99
Bắc Ninh 4.72 5.26 5.75 5.64 6.67 6.54
Hà Tây 6.21 6.63 6.40 7.06 6.89 6.42
Hải Dương 5.74 6.63 6.15 5.74 6.01 5.87
Hải Phòng 13.46 14.39 13.20 13.46 12.99 13.30
Hưng Yên 14.10 4.32 6.00 7.03 6.92 7.35
Thái Bình 2.87 2.75 2.47 2.86 2.81 2.82
Hà Nam 2.21 2.12 2.09 1.89 1.83 1.73
Nam Định 3.18 3.08 2.94 3.02 3.44 1.52
Ninh Bình 1.14 1.01 1.27 1.31 1.72 1.66
Nguồn: Niên giám thống kê 2006
Đỗ Thị Quỳnh Trang – Lớp Đầu Tư 47A
2. Đánh giá chi tiết về các khu công nghiệp của từng địa phương
2.1 Các khu công nghiệp tập trung quy mô lớn
Với lợi thế về vị trí địa lý, nguồn nhân lực và chính sách khuyến khích đầu tư, các
KCN trong vùng kinh tế trọng điểm miền Bắc gồm Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh,
Hải Dương, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hà Tây là địa bàn được khá nhiều nhà
đầu tư lớn trong nước, nước ngoài có kinh nghiệm và khả năng tài chính quan tâm. Do
đó, phần lớn nguồn vốn đầu tư hạ tầng các KCN ở các tỉnh, thành phố này đều do chủ
đầu tư kinh doanh hạ tầng tự huy động. Việc huy động và sử dụng vốn để xây dựng kết
cấu hạ tầng KCN, đặc biệt là nguồn vốn khu vực tư nhân và đầu tư nước ngoài tại Hải
Phòng, Hải Dương, Hà Nội và Bắc Ninh tỏ ra có hiệu quả rõ rệt.
2.1.1. Khu công nghiệp tại thành phố Hà Nội
Trong thời gian qua các KCN Hà Nội đã thu hút một lượng lớn nguồn đầu tư trong
nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài, qua đó đã thúc đẩy sự tăng trưởng công nghiệp của
Thành phố, góp phần phát triển kinh tế- xã hội của Thủ đô Hà Nội và nâng cao sức cạnh
nhân sự, thiết kế kỹ thuật…) theo mô hình cơ chế quản lý “một của, tại chỗ”. Các thủ
tục của các nhà đầu tư được giải quyết công khai, minh bạch, rõ ràng, hiệu quả nên tiết
kiệm được cho nhà đầu tư nhiều thời gian không cần thiết và đáp ứng được đòi hỏi rất
lớn của các nhà đầu tư.
Tình hình thu hút đầu tư và kết quả sản xuất kinh doanh tại các KCN-CCN trên
địa bàn trong thời gian gần đây:
- Ban quản lý các Khu công nghiệp và Chế xuất Hà Nội với vai trò là cầu nối giữa
nhà đầu tư với các cơ quan chủ quản đã tích cực phối hợp với các đơn vị trong Thành
phố đẩy mạnh công tác vận động xúc tiến đầu tư, đi đôi với cải thiện môi trường đầu tư,
đặc biệt là đầu tư nước ngoài vào KCN.
- Trong 9 tháng đầu năm 2007 Ban đã cấp Giấy chứng nhận đầu tư cho 31 dự án
đầu tư vào các KCN tập trung(tăng 19 dự án so với cùng kỳ năm 2006) với tổng vốn
đầu tư đăng ký 87,230 triệu USD; điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư cho 11 dự án với
tổng vốn điều chỉnh tăng thêm là 50,604 triệu USD (bằng 94,3% so với cùng kỳ năm
2006); Cấp 56 giấy Chứng nhận đầu tư cho doanh nghiệp tại các Khu (Cụm) công
nghiệp vừa và nhỏ với diện tích khoảng 226,408 m2, tổng vốn đầu tư là 840,3 tỷ VNĐ
(tăng 197,5 % so với cùng kỳ năm 2006); điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư cho 03 dự
án với số vốn đầu tư tăng thêm 157 triệu VNĐ.
Đỗ Thị Quỳnh Trang – Lớp Đầu Tư 47A