BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU CẤP BỘ
NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
CỦA VIỆC HIỆN ĐẠI HOÁ HỆ THỐNG THÔNG TIN
KH&CN QUỐC GIA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH
HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Cơ quan chủ trì: Trung tâm Thông tin KHCNQG
Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS. Nguyễn Hữu Hùng
5736
25/3/2006 Hà Nội, 12-2005
1
MỤC LỤC
2.2.1.3. Những kết quả và tồn tại chính 542
2.2.2. Tình hình tin học hoá hệ thống thông tin KH&CN
quốc gia 60
2.2.2.1. Quá trình tin học hoá hệ thống thông tin
quốc gia 60
2.2.2.2. Những kết quả và tồn tại của việc ứng dụng
CNTT để hiện đại hoá hệ thống thông tin KH&CN quốc
gia 65
2.2.3. Những vấn đề của hệ thống thông tin KH&CN
quốc gia 68
2.3. Giải pháp hiện đại hoá hệ thống thông tin KH&CN quốc
gia 71
2.3.1. Bối cảnh phát triển hoạt động thông tin
KH&CN
71
2.3.2. Định hướng trọng tâm phát triển hoạt động thông
tin KH&CN giai đoạn tới năm 2010 73
2.3.3. Đề xuất mô hình và chiến lược để hiện đại hoá hệ
thống thông tin KH&CN quốc gia giai đoạn tới 2010
76
2.3.4. Đề xuất nội dung của giải pháp hệ thống trong
quá trình xây dựng và HĐH các hệ thống thông tin 94
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
99
TÀI LIỆU THAM KHẢO
NDT Người dùng tin
QG Quốc gia
QTTT Quản trị thông tin
TT Thông tin
TTH Thông tin học
TL Tư liệu
TƯ Trung ương
XHTT Xã hội thông tin
4
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ hai thập niên gần đây, cuộc cách mạng thông tin diễn ra rất sôi động,
đang tác động sâu sắc, làm thay đổi tận gốc rễ mọi hoạt động kinh tế-xã hội
của nhiều nước, đưa nhân loại sang một bước chuyển biến mới về chất ở
ngưỡng cửa thế kỷ XXI. Các nước công nghiệp hóa đang chuyển từ mộ
t xã
hội văn minh công nghiệp sang một xã hội văn minh “hậu công nghiệp”, mà
thực chất là một xã hội thông tin (information society), trong đó thông tin và
trí thức trở thành nguồn tài nguyên quốc gia quan trọng nhất. Bước chuyển
biến vĩ đại này mang những nội dung sâu sắc và cũng là những thách thức
khắc nghiệt đối với các hình thái tổ chức kinh tế-xã hội của loài người. Nhiều
nước tìm được cách thích nghi với bước chuyển biến
đó đã vươn lên mạnh mẽ
5
- Chuyển biến từ nền kinh tế nông nghiệp-thủ công nghiệp sang nền
kinh tế công nghiệp;
- Chuyển biến từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế thông tin.
Tuy nhiên, cuộc cách mạng thông tin không mang đến một sự phát
triển đồng đều cho tất cả các dân tộc. Trong khi các nước công nghiệp phát
triển và một số nước “công nghiệp mới” đang tiến dần vững chắc đến một xã
hội thông tin, thì đại
đa số các nước chậm phát triển vẫn trong tình trạng
nghèo nàn và lạc hậu, nguy cơ tụt hậu càng trầm trọng. Ngày nay, nhiều quốc
gia nhận thấy rõ ràng: một đặc điểm quan trọng và cũng là một trong số các
nguyên nhân chủ yếu của sự lạc hậu đó là sự nghèo nàn về thông tin và sự
kém cỏi trong việc quản lý và khai thác các nguồn tài nguyên thông tin tiềm
tàng phục vụ cho các mục tiêu phát triển của xã hội.
Vì vậ
y, trong điều kiện hiện nay, đối với các nước còn chậm phát triển,
việc khắc phục sự nghèo nàn và kém cỏi về thông tin là một trong số các nhân
tố có ý nghĩa quyết định để vượt qua tình trạng nghèo nàn và lạc hậu của kinh
tế-xã hội.
Công tác thông tin KH&CN của nước ta đã được bắt đầu từ cuối
những năm 50 của thế kỷ XX. Tuy nhiên, nửa thế kỷ đã trôi qua, đến nay về
cơ bản nước ta vẫn là một nước lạc hậu về thông tin KH&CN: thiếu và chưa
thực sự quản lý, kiểm soát được nhiều nguồn thông tin từ trong nước cũng như
thông tin từ nước ngoài phục vụ cho các hoạt động xây dựng và thực hiện
chiến lược và các kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, phục vụ cho công tác
nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩ
m
và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, góp phần đẩy mạnh phong trào lao
động sáng tạo và nâng cao dân trí của quần chúng lao động.
3. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện, các phương pháp nghiên cứu sau đây đã
được sử dụng:
- Điều tra, khảo sát:
đã tiến hành khảo sát và điều tra trên mẫu các cơ
quan thông tin thuộc các loại hình, trên các khu vực - vùng miền:
Bắc, Trung, Nam;
- Nghiên cứu tài liệu: Sưu tập và nghiên cứu một số lượng lớn các tài
liệu công bố và không công bố, tài liệu trên giấy và tài liệu điện tử;
- Hội thảo và lấy ý kiến chuyên gia: đã tổ chức 3 hội thảo lấy ý kiến
các chuyên gia tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, TP Đà Nẵng;
- Thống kê:
đã có sự phân nhóm, phân tích các số liệu theo các tiêu
thức định lượng và định tính;
- Phân tích hệ thống: tổng hợp, xem xét các tác động, đề xuất cấu trúc
và kiến nghị giải pháp cho toàn hệ thống.
4. Quá trình và kết quả thực hiện đề tài
Trong quá trình thực hiện đề tài, nhóm nghiên cứu đã tiến hành:
- Thu thập một số lượng đáng kể các tài liệu nghiên cứu có liên quan
đến hoạt động các nội dung phát triển hệ thống thông tin KH&CN
quốc gia của một số nước trên thế giới.
- Khảo sát hoạt động thông tin –thư viện tại một số Bộ, ngành và địa
phương trọng điểm, như: Trung tâm Thông tin KH&CN QG, Trung
7
tâm Thông tin-Tư liệu Viện KH&CN Việt Nam, Viện Thông tin
KHXH, Trung tâm thông tin và dự báo kinh tế xã hội Quốc gia,
Trung tâm Thông tin-Thư viện các trường đại học: ĐH Quốc gia Hà
Nội, ĐH Bách khoa Hà Nội, ĐH Đà Nẵng, ĐH Quốc gia Tp. Hồ Chí
Minh, ĐH Thái Nguyên, ĐH Quy Nhơn, Trung tâm Thông tin
VÀ VẤN ĐỀ HIỆN ĐẠI HOÁ
2.1.1. Khái niệm, lịch sử hình thành và phát triển Hệ thống thông
tin KH&CN Quốc gia
Hệ thống thông tin KH&CN trên thế giới được xuất hiện vào khoảng từ
đầu thế kỷ XX. Có thể coi sự ra đời của Trung tâm chỉ dẫn thông tin công
nghệ (Technological Clearing House) dành phục vụ các thành viên thuộc Hiệp
hội Kỹ sư Thành phố New York (Hoa Kỳ), là một trong số các hệ thống thông
tin KH&CN sớm nhất trên thế giới.
Sau đó, do suốt một thời k
ỳ dài chiến tranh, từ bắt đầu Thế chiến I
(1914) đến hết Thế chiến II (1945), việc ra đời và phát triển các hệ thống
thông tin đã hầu như bị gián đoạn ở mọi nơi trên thế giới.
Trong khoảng thời kỳ này, cũng cần lưu ý đến sự ra đời của các hệ
thống thông tin phục vụ các nhiệm vụ đấu tranh giai cấp của Đảng Cộng sả
n ở
các nước phương Tây vào đầu những năm 20s của thế kỷ XX, dưới sự khởi
xướng của V.I. Lê-nin. Sau khi có ý kiến về việc đặt trụ sở của Hệ thống này
tại nước Nga, thì Người khuyến nghị: với điều kiện cụ thể hiện có của các
nước phương Tây thời đó (trình độ khoa học, công nghệ, điều kiện về kinh
tế
,…), nước Đức sẽ là nơi thích hợp nhất để đặt trụ sở cho hệ thống thông tin
này. Đồng thời V.I.Lenin cũng chỉ thị tích cực tổ chức hoạt động thông tin
khoa học ở nhà nước Xô Viết trẻ tuổi. Người nói “Thiếu các tri thức, kỹ thuật
và văn hoá đang nằm trong các chuyên gia tư sản chúng ta không thể xây
dựng chủ nghĩa cộng sản”, và Người cũng chỉ thị “B
ắt chước tất cả những gì
có giá trị của nền khoa học Âu-Hoa Kỳ, đó là nhiệm vụ hàng đầu và chủ yếu
của chúng ta”. Có thể thấy, đây cũng là một trong số các quan điểm thể hiện
tầm nhìn chiến lược của V.I. Lê-nin về các vấn đề thông tin khoa học. Quan
điểm này lý giải được vì sao, ở các nước có nền KH&CN phát triển, có tiềm
cấp cho người dùng tin của mình những điều kiện và khả n
ăng truy cập đến,
và sau đó khai thác một số nguồn thông tin nhất định. Cách hiểu này về hệ
thống thông tin được xây dựng trên cơ sở hệ thống được xem là một tổ
chức/cơ quan.
Thuật ngữ hệ thống thông tin KH&CN quốc gia có thể được hiểu theo 2
nghĩa [10, 11, 25]:
- Hệ thống các cơ quan, tổ chức có chức năng chính là triển khai hoạt
động thông tin KH&CN của quốc gia. Ví dụ: Hệ thố
ng các cơ quan thông tin
KH&CN theo các lĩnh vực, theo vùng/địa phương.
- Hệ thống gồm các phân hệ tương ứng với các chức năng khác nhau
trong việc triển khai hoạt động thông tin KH&CN của quốc gia. Ví dụ: Hệ
thống thông tin điều tra cơ bản của quốc gia, hệ thống đăng ký nguồn lực
thông tin quốc gia, hệ thống kiểm soát thư mục các ấn phẩm quốc gia,
Mặc dù có những khác biệt nhất
định, song trong phạm vi đề tài này vẫn
có thể đồng nhất hai khái niệm: hệ thống các cơ quan thông tin KH&CN quốc
gia và hệ thống thông tin KH&CN quốc gia.
Như vậy, hệ thống thông tin KH&CN quốc gia là một tập hợp những cơ
quan thông tin khác nhau của quốc gia, có quan hệ liên kết, phối hợp và hợp
tác lẫn nhau nhằm thúc đẩy và triển khai các quá trình thông tin KH&CN.
10
Với cách hiểu đó, hệ thống thông tin KH&CN quốc gia được nhận biết
qua các yếu tố, gồm:
- Những cơ quan thông tin KH&CN của quốc gia (theo mọi hình thái và
mọi sở hữu).
- Các nguồn lực thông tin KH&CN và các kênh thông tin.
- Quan hệ giữa các cơ quan tham gia hệ thống có thể là phối thuộc, phối
nghiệp thông tin lớn và ngày nay NTIS cung cấp việc truy cập thông tin qua
hàng loạt các dịch vụ trực tuyến và truy cập đến website NTIS. Các doanh
nghiệp có th
ể truy cập đến các nguồn thông tin mà NTIS quản lý. NTIS đã
được ra đời cách đây 60 năm. Trải qua 60 năm tồn tại, NTIS đã phục vụ các
doanh nghiệp, các trường đại học. Nguồn tài nguyên thông tin của NTIS bao
11
gồm trên 3 triệu báo cáo kỹ thuật bao quát khoảng 350 lĩnh vực khác nhau.
Nhiệm vụ của NTIS là hỗ trợ sự tăng trưởng kinh tế và nâng cao sức cạnh
tranh của đất nước thông qua việc cung cấp khả năng truy cập đến các thông
tin phục vụ quá trình đổi mới và phát triển kinh tế, khoa học, công nghệ.
Trong khi đó, Hệ thống thông tin KH&CN quốc gia các nước thuộc
khối XHCN Đông Âu tập trung vào việc tuyên truyền, phổ biế
n kiến thức
KHKT, phục vụ nâng cao dân trí và đóng vai trò là yếu tố tiềm lực phục vụ
cho công tác nghiên cứu khoa học tại các tổ chức khoa học, các trường đại
học,… Ví dụ ở Liên Xô (cũ), có 2 cơ quan thông tin khoa học có quy mô quốc
gia là Viện Thông tin KHKT toàn Liên bang (VINITI) và Viện Thông tin
KHXH (INION) – cả hai tổ chức này đều trực thuộc Viện hàn lâm Khoa học.
Bên cạnh đó, hệ thống các thư viện công cộng thuộc Bộ Văn hoá-Thông tin
cũ
ng rất được chú trọng và phát triển.
- Giai đoạn 1960-1980
Do những nhiệm vụ mà quá trình phát triển kinh tế-xã hội đặt ra, hệ
thống thông tin KH&CN quốc gia các nước có các thể chế chính trị khác nhau
phát triển theo các chiều hướng khác nhau tương đối rõ rệt. Tại các nước công
nghiệp và có nền kinh tế thị trường phát triển như: Hoa Kỳ, Đức, Pháp, Anh,
Nhật,… các vấn đề hiện đại hoá hoạt động thông tin KH&CN đã và đang
đượ
Tại các nước XHCN, trước hết ở khu vực Đông Âu, trong khuôn khổ
Hội
đồng tương trợ kinh tế (khối SEV), vào năm 1969, đã thành lập Trung
tâm Thông tin KHKT Quốc tế (MXNTI). Dưới sự nỗ lực của MXNTI các Hệ
thống thông tin quốc tế mà thành viên là các cơ quan thông tin KHKT quốc
gia: Hệ thống thông tin KHKT quốc tế - MCNTI và Hệ thống thông tin khoa
học xã hội quốc tế – MISSON đã ra đời và phát triển trong suốt 2 thập niên
70 và 80.
Có thể nói, về cơ bản hệ thống thông tin quốc gia của các nước Đông
Âu được xây d
ựng theo cơ cấu tổ chức phân cấp, theo mô hình chỉ huy tập
trung, và vận hành theo cơ chế của một hệ đóng, khép kín. Để điều khiển ở mô
hình này, các nước thực hiện kế hoạch hoá tập trung hoạt động thông tin được
xây dựng từ những cơ quan quản lý về KHKT, như Uỷ ban KHKT Nhà nước
Liên xô trước đây. Theo đó, VINITI hàng năm biên soạn và xuất bản một khối
lượng l
ớn các ấn phẩm thông tin KHKT, tiêu biểu là các Tạp chí tóm tắt (RJ)
về các lĩnh vưc khoa học-kỹ thuật, biên niên sách, các thông báo của các Viện
nghiên cứu, trường đại học,…. Sau đó, các ấn phẩm này được phân phối cho
các tổ chức thông tin, tổ chức nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ của
Liên xô và của các nước tham gia Hội đồng thông tin KHKT Quốc tế (mà các
quốc gia thành viên của nó cũng chính là các quốc gia thành viên của Hội
đồng tương trợ kinh tế – kh
ối SEV) do Liên xô đứng đầu.
- Giai đoạn 1980-1990
Bước vào những thập kỷ 80 của thế kỷ XX, nhiều thành tựu KH&CN
đặc biệt xuất hiện, nhiều biến động xã hội lớn và sâu sắc diễn ra. Điều này đã
tác động đến hoạt động và tổ chức thông tin KH&CN trên qui mô sâu rộng
lớn.
Khởi đầu thời kỳ này được đánh dấu bởi sự ra đời của máy tính cá nhân
có những bước phát triển đặc biệt quan trọng. Lúc này cơ chế định hướng tới
thị trường gần như thay thế hoàn toàn cơ chế quản lý theo cách chỉ huy tập
trung, các cơ quan thông tin trong các nước đa dạng hơn về sở hữu, mức độ
bao cấp cho các cơ quan thông tin giảm xuống và cơ chế “trợ giúp” cũng thay
đổi. Về mặt công ngh
ệ, mạng Internet đã trở thành môi trường phổ biến và
không thể thay thế dành cho mọi lĩnh vực hoạt động của xã hội, trong đó có
hoạt động thông tin KH&CN. Các Hệ thống thông tin KH&CN quốc gia của
nhiều nước đã phát triển trên cơ sở môi trường của Internet. Đây là đặc điểm
chi phối tới sự phát triển, về quy mô và cơ chế hoạt động của các hệ thống
thông tin quốc gia so v
ới các thời kỳ trước đó. Nếu như trước đây, người ta
thường nhắc đến các ứng dụng của CNTT để tự động hoá các qui trình nghiệp
vụ đơn lẻ trong hoạt động thông tin, thư viện, thì giờ đây, người ta thường
nhắc đến việc ứng dụng các công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) để
thiết lập các mạng trao đổi thông tin. Các biểu hiện cụ thể của bướ
c phát triển
này là sự dịch chuyển từ việc phát triển các mạng LAN cho các cơ quan và tổ
chức thông tin KH&CN sang sự xuất hiện của Intranet/Internet đối với các Hệ
thống này và gần đây là các Cổng thông tin điện tử (Portal) tương ứng.
2.1.2. Một số đặc điểm phát triển hệ thống thông tin KH&CN Quốc
gia giai đoạn hiện nay
Trong thực tiễn của thế giới, có một số mô hình khác nhau về t
ổ chức
14
hoạt động thông tin KH&CN phụ thuộc vào tính chất sở hữu và vai trò điều
chỉnh của nhà nước đối với các cơ quan thông tin KH&CN.
Nói chung, đối với các nước đang phát triển hoặc những nước có nền
kinh tế thị trường chưa được phát triển, hoạt động thông tin KH&CN thường
và quản lý nhà nước, những thư viện công cộng quốc gia mà không coi và
không thực hiện các dịch vụ thông tin có thu phí như một ho
ạt động kinh tế
riêng biệt (ví dụ, Thư viện Quốc hội của Hoa Kỳ, các Thư viện quốc gia ở các
nước, các Trung tâm phân tích tin trong các cơ quan Chính phủ);
+ Những cơ quan thông tin có thực hiện một phần những dịch vụ thông
tin có thu như một hoạt động kinh tế độc lập (ví dụ, ở nước Nga, phần lớn các
15
cơ quan thông tin toàn Liên bang như: Viện Thông tin KH&KT toàn Nga
(VINITI), Trung tâm thông tin KH&KT toàn Nga (VNTIX), Thư viện KHKT
công cộng (GPNTP) , ở Hoa Kỳ, như: Cục Thông tin Kỹ thuật Quốc gia -
NTIS, Thư viện Y học Quốc gia- NLM, ở Trung Quốc như Viện Thông tin
KH&CN- ISTIC,
- Những cơ quan thông tin mà hoạt động thường xuyên của chúng
không được nhà nước tài trợ về ngân sách. Ngoài các khoản nhà nước chỉ đầu
tư ban đầu như: trụ sở, phương tiện làm việc, trang thiết bị, lương c
ơ bản, hoạt
động của các cơ quan này được thực hiện trên cơ sở tự trang trải và tự cấp
vốn.
Các cơ quan thông tin thuộc sở hữu tập thể được tổ chức rất đa dạng,
chúng thường là những cơ cấu tổ chức trong các hiệp hội khoa học và công
nghệ, các hiệp hội nghề nghiệp, các nghiệp đoàn , những tổ chức thuộc nhóm
các cơ quan phi Chính phủ (NGO). Những cơ quan thông tin này cũng có thể
chia thành hai nhóm sau đây:
+ Nhóm thứ nhất bao gồm cơ quan thông tin được các tổ chức sinh ra
chúng tài trợ toàn phần hoặc một phần, trong số đó có: một bộ phận các cơ
quan thông tin có thể thực hiện hoặc không thực hiện các hoạt động kinh tế
đối với các loại sản phẩm và dịch vụ thông tin của chúng (số này là các cơ
quan thông tin trong thành phần của Ban lãnh đạo, Vă
trường thông tin KH&CN hiện nay.
Như đã biết, CSDL là loại sản phẩm thông tin mới xuất hiện vào đầu
những năm 1960 tại Hoa Kỳ trong lĩnh vực hoá học [5,11]. Hiện nay, CSDL là
thành phần trung tâm của nguồn lực thông tin quốc gia. Tốc độ phát triển của
CSDL trong 25 năm gần đây (từ 1975 đến 2000) phát triển theo chiều hướng
tăng gấp đôi cứ sau chu kỳ 5 năm. Năm 1975, thế giới mới có 301 CSDL vớ
i
52 triệu biểu ghi, đến năm 1996 số CSDL đã lên tới 10033 và số biểu ghi là
10,7 tỷ , vào đầu những năm 2000, con số này đã đạt tới gần 20 ngàn
CSDL [4]. Trong số các CSDL được sản xuất ra, thì một phần quan trọng
được đưa vào thị trường. Các cơ quan sản xuất CSDL được gọi là nhà sản xuất
CSDL (Database Producers). Xét về phương diện thể chế và sở hữu, các nhà
sản xuất CSDL được chia thành:
- Nhà nước (Trung
ương và chính quyền địa phương);
- Tập thể (tổ chức): Ngoài nhà nước/phi thương mại;
- Tư nhân/thương mại;
- Hỗn hợp.
Trong những năm đầu phát triển (những năm 60 và đầu 70), phần lớn
các CSDL được sản xuất tại khu vực các nhà sản xuất của nhà nước. Ví dụ: do
Cơ quan hàng không và vũ trụ Hoa Kỳ (NASA) Bộ năng lượng Hoa Kỳ
(US Department of Energy), Viện thông tin KH&CN toàn liên bang
(VINITI),
Cuối những n
ăm 60 và trong các năm 70, các CSDL được xây dựng và
triển khai mạnh mẽ đến các cơ quan thông tin ngoài nhà nước mà trước hết là
trong các trung tâm thông tin của các Hiệp hội KHKT và Hội nghề nghiệp.
Cho dù, xét riêng về phương diện đầu tư, kinh phí dành cho phát triển
công tác thông tin không giảm đi ở cả khu vực nhà nước lẫn khu vực tập thể
(các Hội nghề nghiệp), song, số các CSDL trong tương quan chung ở 2 khu
1985
1988
1989
1990
1991
1992
1993
1994
1995
2000
Nhà nước
56 21 20 17 17 16 15 15 14 13 12
Tập thể
22 11 13 12 12 12 9 9 9 8 8
Tư nhân
22 57 65 68 68 70 75 75 76 77 79
Hỗn hợp
- 11 2 3 3 2 1 1 1 2 1
Cùng với sự phát triển của các lĩnh vực ICT, dần xuất hiện và khẳng
định vai trò các giao dịch và dịch vụ trên mạng trong mọi lĩnh vực của đời
hoạt động và các phương hướng phát triển các loại hình và dịch vụ thông tin.
Thông thường, các cơ quan thông tin có hoạt động thu phí để tự trang trải
không chỉ thuần nhất hoạt động trong lĩnh vực KH&CN mà còn có sự kết nối
v
ới các phạm vi thông tin kinh tế - xã hội khác như: thông tin về các lĩnh vực
thị trường, sản phẩm, kinh doanh, đầu tư, các dự án
Kinh nghiệm của các nước cho thấy, trong khi phát triển hoạt động
thông tin, không thể chỉ thuần tuý dựa trên những nguyên tắc của thị trường.
Điều này được giải thích ở chỗ, cho dù đến nay, nhiều nhà nghiên cứu khẳng
định sự tồn tại một thị trường thông tin nhưng nhu c
ầu về thông tin và khả
năng thanh toán của thị trường này không giản đơn như các thị trường vật thể
vật chất khác. Từ đây không thể nóng vội chuyển toàn bộ hoạt động thông tin
KH&CN sang ngay phương thức tổ chức theo cơ chế thị trường. Điều đó có
nghĩa là, nhà nước vẫn và còn sẽ giữ một vai trò quan trọng trong việc cấp vốn
cho hoạt động thông tin KH&CN.
Tuy nhiên, về
một phương diện khác, kinh nghiệm của nhiều nước cũng
cho thấy ngân sách của nhà nước dành cho hoạt động thông tin ngày càng
giảm đi theo tỷ lệ tương đối của chúng. Điều này có nghĩa rằng, bên cạnh
nguồn tài chính của nhà nước giành cho hoạt động thông tin, cần phải tạo điều
kiện để đa dạng hóa nguồn vốn cho chúng. Từ đây đòi hỏi phải thay đổi cơ
chế mệnh lệnh cứng nhắc của nhà nước trong việc quản lý hoạt động thông tin
sang một chính sách thích ứng mềm mại hơn.
Nhiệm vụ của quản lý nhà nước đối với hoạt động của hệ thống thông
19
tin KH&CN quốc gia trong môi trường chuyển sang mô hình tổ chức hướng
tới thị trường thể hiện ở những nội dung sau đây:
- Bảo toàn và phát triển tính hợp lý và cân đối trong việc xây dựng cơ
ực hiện được những nhiệm
vụ thông tin do nhà nước đặt ra (ví dụ, các cơ quan thông tin như: CAS,
BIOSIS và INSPEC, v.v ).
Việc chuyển hoạt động thông tin KH&CN sang mô hình hướng tới thị
trường (từ chủ yếu bằng ngân sách nhà nước chuyển sang ngân sách của các
thành phần ngoài nhà nước) đòi hỏi phải thực hiện theo từng bước mà trong
đó mỗi một bước đi cần phải xác định những lĩnh vực ưu tiên dựa trên nh
ững
yêu cầu sau đây:
- Đảm bảo giải quyết những nhiệm vụ thông tin cho các nhiệm vụ của
20
nhà nước;
- Giải quyết những nhiệm vụ xã hội mà nhà nước phải có trách nhiệm
không thể chuyển sang cho các đơn vị ngoài nhà nước thực hiện;
- Đảm bảo sự hài hoà và phát triển cân đối toàn bộ hoạt động thông tin
như một cấu trúc chỉnh thể.
Chính sách của nhà nước trong lĩnh vực thông tin là cần thiết đối với
mọi quốc gia. Ứng với mỗi giai đoạn phát triển, hoạt
động thông tin cần có
những cơ chế điều chỉnh thích hợp, từ việc phát triển chủ yếu dựa vào ngân
sách nhà nước chuyển sang sự phát triển hỗn hợp trong đó bao gồm các thành
phần của nhà nước và ngoài nhà nước, cuối cùng tiến tới để công tác thông tin
được trở thành nhiệm vụ của chính các tổ chức và thiết chế xã hội. Những
phương pháp điều hành hoạt động thông tin trong môi trường như
vậy dựa
trên nguyên tắc sử dụng hợp lý nhất những nguồn lực được huy động từ ngân
sách nhà nước và thu hút đầu tư từ các nguồn lực ngoài ngân sách với những
chính sách khuyến khích và ưu đãi cần thiết.
Cần phải lưu ý rằng, xét về phương diện hiệu quả đầu tư, hoạt động
nhà nước không có điều kiện để thực hi
ện;
- Nhà nước phải có kế hoạch và chính sách để thường xuyên và định kỳ
chuyển dần những nhiệm vụ thông tin KH&CN và những thông tin nghề
nghiệp khác sang cho khu vực tư nhân và các tổ chức tập thể.
Việc nhà nước đầu tư (nhà xưởng, thiết bị, tư liệu, cán bộ, kinh phí) cho
hoạt động của những cơ quan thông tin nhà nước phải tuân thủ theo nguyên
tắc là các sản phẩm và dịch vụ thông tin đó phả
i thuộc về nhà nước, và vì vậy,
mọi công dân đều có thể truy nhập đến và sử dụng chúng không phải trả tiền.
Tuy nhiên, có thể xuất hiện ở đây một loạt các mâu thuẫn mà điển hình là:
- Nguyên tắc tự do và bình đẳng trong việc truy nhập và sử dụng thông
tin được tạo ra từ ngân sách nhà nước đối với mọi công dân là chưa thật đầy
đủ để điều chỉnh các quan hệ thông tin trong xã hội;
- Không phải mọi công dân trong xã hội đều quan tâm tới mọi sản phẩm
và dịch vụ thông tin do các cơ quan thông tin nhà nước tạo ra;
- Đối với những công dân riêng biệt có nhu cầu thông tin đặc biệt, đòi
hỏi cần phải có những chi phí bổ sung cho các sản phẩm thông tin và điều này
có thể dẫn tới phải xem nhẹ tới việc đáp ứng nhu cầu thông tin của một bộ
phận người dùng tin khác;
- Việc sử d
ụng các sản phẩm và dịch vụ của cơ quan thông tin nhà nước
đối với những người dùng tin khác nhau nhằm để giải quyết các mục tiêu khác
nhau: người để thoả mãn nhu cầu cá nhân, người để giải quyết những nhiệm
vụ của xã hội, người dùng để kinh doanh, ;
- Việc thực hiện dịch vụ thông tin không phải trả tiền ở khu vực các cơ
quan thông tin nhà nước sẽ làm mất đi tính cạnh tranh và không tạ
o động lực
để nâng cao chất lượng các sản phẩm và dịch vụ thông tin.
2.1.3. Nghiên cứu trường hợp Hệ thống thông tin KH&CN quốc gia
cứu và Công nghệ đã có một kế hoạch cụ thể tổ chức triển khai việc số hoá
nguồn tài liệu xám của quốc gia giữa các cơ quan:
- Thư viện các trường đại h
ọc.
- Trung tâm TT-TL khoa học (PDII – Centre for Scientific
Documentation and Information).
Mạng thư viện số ở Indonesia (Digital Library Network)
(IndonesianDLN) được thành lập năm 2001. Hiện nay, IndonesianDLN bao
gồm 15 thành viên. Trong quá trình hình thành và phát triển mạng,
IndonesianDLN đã nhận được sự trợ giúp về tài chính, công nghệ của Trung
tâm nghiên cứu phát triển quốc tế Canada (IDRC) và quỹ quốc gia Indonesia
về nghiên cứu viễn thông và thông tin.
Ưu tiên hàng đầu của IndonesianDLN là thiết lập diễn đàn cho mạng
thư viện số ở Indonesia và th
ực thi chính sách bình đẳng trong việc truy cập,
khai thác mọi nguồn thông tin của quốc gia, nhất là các thông tin phản ánh về
các vùng, địa phương. Mọi tổ chức, cá nhân ở bất cứ nơi nào trên đất nước
Indonesia đều có thể kết nối với IndonesianDLN và có thể khai thác mọi
23
nguồn tài nguyên thông tin có trên mạng. Nhờ thế, IndonesianDLN phát triển
rất nhanh về số lượng người/tổ chức kết nối đến.
Nhằm cung cấp khả năng truy cập đến nguồn tài liệu xám của
Indonesia, Thư viện của PDII đã chú trọng phát triển các CSDL thông tin
khoa học với thư viện của nhiều trường đại học và các cơ quan nghiên cứu
khác. Các cơ quan này đã tạo ra hàng chục CSDL các loại (thư
mục, toàn văn,
dữ kiện) với khối lượng khá lớn ( CSDL về năng lượng nguyên tử quốc gia do
Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc gia xây dựng với 2,3 triệu biểu ghi, ).
Tại Indonesia, các trạm thông tin công nghệ (Technology Information
24
Năm 2003, MASTIC tiến hành nhiều công trình nghiên cứu KH&CN
như:
+ Thông tin KH&CN mới quốc gia 2002.
+ Tổng quan về đổi mới giai doạn 2000-2001 của quốc gia.
+ Nghiên cứu thư mục.
+ Tổng quan R&D quốc gia năm 2002.
+ Các phương tiện và công cụ chuyên dụng trong S&T.
+ Phát triển các hệ thống ICT và việc ứng dụng.
Để tạo điều kiện tốt cho việc thu thập, quản lý, đánh giá thông tin đối
với hoạt động R&D, Bộ KH&CN đã
đề xuất 2 dự án nhằm tăng cường năng
lực của các cơ quan thông tin đối với cán bộ KH&CN. Trong năm 2003, các
dự án ICT hướng theo các chủ đề:
+ Tổng quan trực tuyến về R&D.
+ E-IRPA ứng dụng dựa trên web được thiết kế phục vụ các hoạt động
nghiên cứu.
+ MASTIC đã xuất bản và phổ biến những ấn phẩm thông tin quan
trọng sau đây:
* Tổng quan hàng năm về R&D củ
a quốc gia (dạng tóm tắt và toàn văn)
* Hệ thống phân nhóm R&D của Malaysia – bổ sung và hoàn chỉnh)
* Các chỉ số S&T của Malaysia (hàng năm)
* Các hỗ trợ về S&T ở Malaysia
* Tạp chí của MASTIC và bản tin của Bộ KH&CN
* Danh mục hệ thống R&D (phối hợp với nhà xuất bản)
* Số liệu về S&T của Malaysia năm 2000.
MASTIC tham gia các hoạt động KH&CN của đất nước như các hội
nghị, hội thảo khoa học, chú tr
ọng đến việc phổ biến các thông tin, tri thức