TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC
NGOẠI
THƯƠNG
KHOA
KINH
TẾ VÀ
KINH
DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH
TẾ
ĐỐI
NGOẠI
KHOA
LUẬN TÓT NGHIỆP
(ĐỀ tàu
HOẠT
ĐỘNG
CỦA CÁC CÔNG TY
TÀI
CHÍNH
TẠI
VIỆT
NAM
TRONG
BÔI
CẢNH
HỘI
NHẬP
Khoa
Giáo
viên
hướng
dẫn
Anh
13
43D
-
KT&KDQT
ThS.
Nguyễn Thúy
Anh
Hà
Nội
- Tháng
06/2008
MỤC LỤC
DANH
MỤC Từ
VIẾT
TẮT
DANH
MỤC
BẢNG
BIỂU
LỜI
MỞ ĐẦU Ì
CHƯƠNG
1:
hệ
thống
tài
chính
6
1.2.1.
Phân phối
hợp
lý
các nguồn
tài
chính
6
1.2.2.
Giám
sát
sự vận động của các
luồng
tài
chính
7
1.3.
Các
thành
phần
của
hệ
thống
tài
chính
Khái quát
về
Công ty tài chính
14
2.
Ì.
Sự
ra đời
và phát
triển
của Công
ty tài
chính
14
2.2.
Khái
niệm
về Công
ty tài
chính
16
2.3.
Các
hoạt
động
của Công
ty tài
chính
18
2.3.1.
theo
hoạt động
kinh
doanh
24
2.4.2.
Căn
cứ
theo
mối
quan hệ sở hữu
25
2.4.3.
Căn
cứ
theo
hình
thức
thành
lập
25
2.5. Vai trò của
Công
ty tài
chính
trong bối
cảnh
hội
nhập
kinh tế
nghiệp
vừa và
nhỏ 29
2.6.
Các tiêu chí đánh giá
hoạt
động
của Công
ty tài
chính
30
2.6.1.
Tỉ
lệ
an
toàn vốn
tôi
thiểu
30
2.6.2.
Tỉ
suất
lợi
nhuận
trên
vốn
tự
có (ROE- Return
ôn
Equity)
tài chính
Việt
Nam 32
1.1.
Ngân hàng Nhà
nước
Việt
Nam 32
1.2.
Thị
trường
tài
chính
Việt
Nam 33
1.2.1.
Thị
trưụng tiên
tệ
33
1.2.2.
Thị
trưụng
vốn
37
Ì.3.
Các
trung gian tài
chính
40
chính
ở
Việt
Nam43
3. Thực
trạng
khung
pháp lý và các yêu cớu về
hội
nhập
kinh
tê quốc tê
đôi
với
các Công ty tài chính
ở
Việt
Nam 46
3.1.
Cơ
sở pháp lý
đối với
các Công
ty tài
chính
ở
Việt
Nam 46
3.2.
Các yêu cầu về
hình
hoạt
động
của
các Công
ty tài
chính
ở
Việt
Nam 51
4.2.1.
Quy mô
hoạt động
57
4.2.2.
Kết
quả
hoạt động của các Công
ty tài
chính
tại
Việt
Nam
trong
thụi gian
qua
54
4.2.3.
Hoạt động huy động vốn
56
kết
quả
đạt
được
70
5.2.
Những
tồn
tại
và
hạn
chế
71
5.3.
Nguyên nhân
của
những
tồn
tại
trên
72
CHƯƠNG 3:
MỘT số
GIẢI PHÁP THÚC
ĐAY HOẠT
ĐỘNG
CỦA
CÁC CÔNG
TY
TÀI CHÍNH
2.1.
Giải
pháp
đối
với
các Công
ty
tài
chính
77
2.1.1.
Đôi
với hoạt động huy động vốn
77
2.1.2.
Đối
với hoạt động tín dụng
77
2.1.3.
Đối
với hoạt động đẩu tư tài chính
79
2.1.4.
Đôi
với hoạt động cung cấp các dịch vụ tài chính- tiền tệ
79
2.1.5.
Đôi
với hoạt động Marketing, quảng bá thương hiệu
80
84
2.2.1.
Tăng
cường
công
tác
quản
lý
và giám
sát hoạt
động của các
Công
ty tài chính
84
2.2.2.
Hổ
trợ các
Công
ty tài chính hoạt động hiệu
quả
85
KẾT
LUẬN
86
DANH MỤC
TÀI
LIỆU
THAM KHẢO 87
DANH
MỤC
định
TCT
:
Tổng
công
ty
TĐ
:
Tập đoàn
TĐKD
:
Tập đoàn
kinh
doanh
TNHH
:
Trách
nhiệm hữu
hạn
GATS
:
General Agreement
ôn
Trade
and
Services-
Hiệp
định
chung
về
Company-
Công
ty tài
chính Dầu khí
DANH
MỤC
BẢNG
BIỂU
Bảng
Ì:
So sánh
giũa
Công
ty
tài
chính và Ngân hàng thương
mại
18
Bảng
2: Các Công
ty
tài chính
thuộc
các Tập đoàn
kinh
doanh
hoạt
động
tại
Việt
kinh
doanh
của
Công
ty tài
chính Dầu
khí,
Ngân hàng
thương
mại
cổ
phần
ACB và Công
ty
tài
chính
Handico
năm
2007
55
Bảng
6: Kết
quả vốn huy động của Công
ty tài
chính Dầu khí và Công
ty tài
chính
Handico2007
58
Bảng
Sơ đồ
2:
Quá
trình
luân
chuyển
vốn của nền
kinh tế
lo
Sơ đồ
3:
Cơ
cấu vốn huy
động
của các
Công
ty
tài
chính năm
2007
57
Sơ đồ
4:
Cơ
cấu
tín
dụng
theo
mục đích s
dụng
tài
chính
2007
63
Sơ đồ
7:
Cơ
cấu tín
dụng
theo
hình
thức
tiền
tệ
của
các Công
ty
tài
chính
2007
64
LÒI
MỞ
ĐẦU
1.
Tính cấp
thiết
của đề tài
Trong
quá
nhập
quốc
tế trong
lĩnh
vực tài chính
ở
nước
ta
thời
gian
qua
đã
góp
phần
quan
trọng trong việc tẫo
tiền
đề và
thúc
đẩy
quá trình
hội
nhập
kinh tế
quốc
tế.
Hội
nhập
tài chính
quốc
nước ngoài.
Tuy
nhiên,
để
tận
dụng
được cấc cơ
hội
mà
quá trình
hội
nhập
mang
lẫi,
chúng
ta
cần phải
xây
dựng
một
thị
trường tài chính chuyên
nghiệp,
giảm
bớt
các
chi
phí
giao
dịch
điều
kiện
để
nền
kinh tế
sử
dụng
những
nguồn
vốn đầu tư
hiệu
quả
nhất.
Thực
tế trong
những
năm
vừa
qua,
mô
hình
trung gian
tài chính được
biết tới
nhiều
nhất
ở
Việt
Nam
chính là các Ngán hàng thương mẫi (NHTM).
phải
thừa
nhận
rằng
hoẫt
động của các
NHTM
thời
gian
qua
đã
bộc lộ
nhiều
điểm
hẫn
chế
và
rủi
ro,
ảnh hưởng
lớn
tới
cung-
cầu vốn của nền
kinh tế.
Trong
bối
cảnh
đó,
việc
phục
được
những
khiếm
khuyết
của các
NHTM,
đồng thòi đáp ứng nhu cầu vốn
trung
và
dài hẫn của
nền kinh tế,
đó
là các Công
ty
tài chính
(CTTC).
ở
Việt
Nam, các
CTTC
đã
xuất
hiện từ
hơn lo năm
trở
lẫi
đây,
song
hoẫt
tại Việt
Nam là
việc
cần
thiết
khi
chúng
ta
muốn
xây
dựng
một
thị
trường
tài chính
Việt
Nam
chuyên
nghiệp.
Điều
này
rứt
có ý
nghĩa
khi Việt
Nam
ngày càng
hội
nhập
sâu
và
giải
pháp"
làm để
tài
khóa
luận
tốt
nghiệp.
2.
Mục
đích nghiên cứu
Mục đích
thực hiện
khóa
luận tốt
nghiệp
là
nghiên cứu
các
vứn
đề lý
luận
và
thực
tiễn
về
CTTC
trong
nền
sở
đó,
khóa
luận
đưa
ra
một
số
giải
pháp nhằm thúc đẩy
hoạt
dộng
của các
CTTC
tại
Việt
Nam.
3. Đối
tượng
và
phạm
vi
nghiên cứu
Khóa
luận tốt
nghiệp
tập trung
nghiên cứu
những
cơ
Phương pháp nghiên cứu
Khóa
luận
sử
dụng
các phương pháp nghiên
cứu:
phương pháp
luận
của
chủ
nghĩa
Mác-
Lê
nin
về duy
vật biện
chứng
và
duy
vật lịch sử;
tư
tưởng
Hồ
Chí
Minh
về
đường
lối,
quan
khái quát
hóa
được
vận
dụng
để
phân tích
những
vứn
để
về lý
luận
và
thực
tiễn,
về
thực trạng
hoạt
động
của
các
CTTC.
Ngoài
ra,
khóa
luận
còn sử
dụng
các
phương pháp khác như: phương
mục
từ
viết tắt,
danh
mục
bảng
biểu,
lời
mở đầu,
kết luận
và
danh
mục
tài
liỏu
tham
khảo,
khóa
luận
được bố
cục
như
sau:
Chương
1:
Tổng quan
về
hoạt
động của Công
ty
nhập
kinh tế
quốc
tế.
Vì
thời
gian
thực
hiỏn
có hạn nên khóa
luận
tốt
nghiỏp
chắc chắn
không
tránh
khỏi
thiếu
sót.
Em
rất
mong
nhận
được sự
nhận
xét góp ý của các
thầy
cô giáo và các bạn
quan
tâm
cám ơn các
thầy
cô giáo ở
Đại
học
Ngoại
Thương đã
trang
bị
kiến
thức
và
tạo
điều
kiỏn
để em có
thể
thực
hiỏn
khóa
luận
này.
Hà Nội, tháng 06 năm 2008
3
CHƯƠNG
1:
TỔNG
QUAN
VE
HOẠT
phát
triển
của
xã
hội
loài
người
đã
xác
nhận
rằng,
vào
thời
kì
cuối
của
chế
độ công
xã
nguyên
thủy,
phân công
lao
động
xã
hội bắt
đầu phát
triển.
Trong
điều
hội
sử
dụng
vào
việc
tham
gia
phân
phối
sản phẩm
xã
hội.
Với
sự
ra dời
của
tiền
tệ,
giá
trị
của sản phẩm sản
xuất
ra
sau
khi
đước
thực
hiện
sẽ
tồn
tệ trong
xã
hội,
bao
gồm
quỹ
tiền
tệ của cấc
doanh
nghiệp
và
quỹ
tiền
tệ
của dân
cư.
Sự
xuất
hiện
của sản
xuất, trao đổi
hàng
hóa và
tiền
tệ
là
một
trong
những
nguyên nhân chủ yếu thúc đẩy
đã
đước hình thành trên
cơ
sở
đóng
góp
của các chủ
thể kinh tế trong
xã
hội
để
tài trớ
cho các
hoạt
động của
Nhà
nước.
Quá
trình hình thành
và
sử
dụng
quỹ
tiền
tệ
này đã
hình thành
nên
các
quan
tại
cùng
với
sản
xuất
hàng hóa-
tiền
tệ
và Nhà
nước.
Do
đó,
có
thể coi
sản
xuất
hàng hóa-
tiền
tệ
và Nhà
nước
là
những
tiền
để
khách
quan
quyết
định sự
ra đời
hình thành
các quỹ
tiền
tệ mới.
Các quá trình phân
phối
này được
gọi
là phân
phối
lại
(tái
phán
phối).
Chẳng hạn quỹ
tiền
tệ
của
doanh
nghiệp
được trích một
phởn
để
tích
lũy phục
vụ cho tái sản
xuất
mở
rộng
tạo
tiết
kiệm
Như
vậy,
sự vận động của các
luồng
giá
trị
dưới
hình thái
tiền
tệ
giữa
các quỹ
tiền
tệ
do
kết
quả của
việc
tạo
lập
và sử
dụng
các quỹ này nhằm đáp
ứng
các nhu cầu
chi
tiêu
hoặc
các tài sản
dưới
dạng
hiện vật
có khả năng
chuyển
thành
tiền.
Tổng hợp
tất
cả các quỹ
tiền
tệ
và các tài sản
hiện
vật
có khả năng
chuyển
hóa thành
tiền
dược
gọi
là các
nguồn
tài
chính.
Các
nguồn tài
chính là cơ sở và
đối
thể kinh
tế.
Hoạt
động tài chính luôn gắn
liền
với
sự
vận
động độc
lập
tương
đối
của các
luồng
giá
trị
dưới
hình thái
tiền
tệ
thông qua
việc
hình thành và sử
dụng
các quỹ
tiền
tệ trong
nền
kinh tế."
1
1
. Th.s Phan Anh Tuấn (2005), Bài giảng Môn học Lý thuyết tài chính tiền tệ, Đại học Ngoại Thương Hà
Nội.
5
quan
hệ hữu cơ
với
nhau
nằm
trong
một
tổng thể thống nhất.
Song
ở mỗi một
lĩnh
vực
hoạt
động
nhất
định,
các
quan
hệ
tài
chính có tính
chất
đặc thù
giống
nhau,
có vị
nhau
trong
sự
vận
động không
ngừng của
các
nguồn tài
chính
tạo
thành một hệ
thống
tài
chính
thống nhất.
Như
vậy,
hệ
thống
tài chính là
tổng
thể
các
luồng
vận động của các
nguồn tài
chính
trong
các
lĩnh
vực đó.
2
1.2. Vai
trò của hệ
thống
tài chính
Hệ
thống
tài
chính là một bộ
phận quan
trọng
của
nền
kinh
tế
quốc
dân.
Nó giúp cho các
hoạt
động
kinh
tế diễn ra
liên
tục,
điều
hòa,
thống nhất,
minh
bạch,
phương
diện
sau:
1.2.1.
Phân
phối
hợp
lý
các
nguồn
tài
chính
Đây chính là
vai
trò
quan
trọng
nhất
của hệ
thống
tài
chính.
Nhờ có
vai
trò này, các
nguồn
lực
đại
diện
cho
sống
xã
hội.
Cụ
thể,
thông qua các
hoạt
động
trong
hệ
thống
tài
chính,
các
nguồn
tài chính
được
luân
chuyển
để
cung
và cầu về vốn gặp
nhau.
Quá trình luân
chuyển
vốn
này làm tăng quá trình
chuyển
các
nguồn
thời
nhàn
rỗi
đưa vào sản
xuất,
kinh
doanh,
dầu
2
Trường Cao đẳng
tài
chính kí toán Ì
(2005),
Đế cương
hài
giángTài
chinh- tiền
tệ,
NXB Lý
luận
chính
trị.
6
tư xây
dựng
nhằm đem
lại lợi
ích cho các
đối
tác
(hay
vốn)
là
điều
kiện
tiền
để cho mọi
hoạt
động
kinh
tế
xã
hội.
Không một
lĩnh
vực
kinh
tế
xã
hội
nào có
thể tồn
tại
và phát
triển
nếu không có
nguồn
tài chính
đảm
bảo.
đồng
được
thực hiện đối với
quá trình vận động các
nguồn tài
chính để
tạo lập
các quỹ
tiền
tệ trong
hệ
thống
tài chính hay sử
dụng
chúng
theo
mục đích đã
định.
Các chủ
thể tham
gia
vào quá trình phân
phối
tài chính
cũng
chính là
những
người
thực hiện
giám sát tài chính. Bởi
đó giúp tìm
ra
các
biện
pháp
điều chỉnh
các
quá trình vận động của các
nguồn tài
chính,
quá trình phân
phối
cùa
cải
xã
hội
theo
các mục tiêu đã định nhằm
đạt
hiệu
quả cao
trong việc tạo lập
và sử
dụng
các quỹ
tiền
tệ.
1.3.
Các thành
phần
kinh
tế
là Nhà
nước, doanh
nghiệp
và hộ
gia
đình,
có
thể
xếp các
quan
hệ tài chính thành ba bộ
phận
tài
chính
lớn
là tài chính
doanh
nghiệp,
tài chính hộ
gia
đình
và tài chính công
(trọng
tâm là Ngân sách Nhà
nước).
Mỗi bộ
phận
tài chính đều bao gồm các
phẩn
của hệ
thống
tài chính được
thế
hiện trong
sơ
đồ Ì
dưới
đây:
Sơ đồ
1:
Các thành
phần
của
hệ thông
tài
chính
Tài chính công
(NSNN)
Thị
trưấng
tài
chính
Trung
gian
tài
chính
Tài chính
Tài chính
tài chính
cơ sở
trong
nền
kinh
tế
quốc dân.
Đây
là nơi
tập
trung
các
nguồn
tài chính
phục
vụ cho quá trình sản
xuất
kinh
doanh
hàng hóa
dịch
vụ.
Hoạt
động
tài
chính
doanh
nghiệp
luôn gắn
liền
từ
việc
huy động các
nguồn
vốn
để
tài
trợ
cho
hoạt
động
kinh
doanh,
phân
phối
các
nguồn
lực
tài chính cho các
dự án
kinh
doanh
của
doanh
nghiệp,
cho đến
việc
quản
lý quá
trình
nguồn
lực
tài
chính mới cho nền
kinh tế.
1.3.2.
Tài
chính
hộ
gia
đình
Tài chính hộ
gia
đình là
tổng thể
các
hoạt
động
thu
chi,
tiêu dùng
bụng
tiền
của các hộ
gia
đình được
tiến
hành
trong
quá trình
tài
chính đang có và sẽ có
trong
tương
lai
cho các nhu cẩu tiêu dùng
hiện
tại
và
tương
lai
sao cho
hiệu
quả
nhất.
Nó bao gồm các
hoạt
động phán bổ các
nguồn thu nhập
cho các nhu cầu tiêu dùng và tích
lũy,
lựa chọn
các tài sản
nắm
giữ
nhụm
giảm
thiểu
rủi
ro
cũng
có ảnh
hưởng
mạnh
mẽ
tới
hoạt
động
kinh
doanh
của các
doanh
nghiệp
vì xét đến cùng, các hộ
gia
đình là
đối
tượng
phục
vụ của các
doanh
nghiệp.
Do
vậy,
tài chính hộ
gia
đình có mối liên hệ hữu cơ
với
tài chính
doanh
vụ của Nhà
nưóc.
Tài chính công
phản
ánh hệ
thống
các
quan
hệ
kinh
tế giữa
Nhà nước
với
các chủ
thể
khác
nhau
trong
xã
hội
nảy
sinh trong
quá trình Nhà nước
tham
gia
phân
phối
các
nguồn
tài chính. Tài chính công bao gồm Ngân sách nhà nước và các quỹ tài chính
nguồn
lực
để
tài
trợ
cho các
hoạt
động của
Nhà
nước hay phân
bổ
tối
ưu
các
nguồn
lực
đó
cho các
mục
đích
chi
tiêu của
Nhà
nước
mà còn
phải
đảm
bảo giúp
Nhà
nước
chi
tiêu của Ngân
sách nhà nước
có
ảnh hưởng
rộng
khắp
tới
mọi chủ
thể
trong
nền
kinh
tế.
Mừt
khác,
tác động
điều
tiết
vĩ
mô
của
tài
chính công là hướng
tới
việc
điều
chỉnh
hành
vi
hiện
ở
sơ đồ
2
dưới
đây:
Sơ đồ
2:
Quá trình luân
chuyển vốn của
nền
kinh
tê
Tài chính
gián
tiếp
Những
người
có
vốn/cho
vay:
- Các
gia
đình.
- Các công
ty
- Chính phủ
- Nước ngoài
Tài chính
trực
từ
người
sở hữu vốn
sang
người
sử
dụng
vốn.
Nói cách
khác,
những
người
thiếu
vốn
trực
tiếp
huy động vốn
từ
những
người
thừa
vốn trên
thị
trường
tài
chính.
- Kênh dẫn vốn gián
tiếp
hay còn
gọi là
cho
vay,
vì
thế
những
người
sử
dụng
vốn và
những
người
cung
cấp vốn
không liên hệ
trực
tiếp
với
nhau
trong
kênh này.
Để hiểu
rõ hơn, chúng
ta
cần
phồi
nghiên cứu khái
niệm
thị
trường tài chính
và
thì
thiếu vốn,
còn
những
người
có vốn nhàn
rỗi
thì
lại
không có cơ
hội
đầu
tư.
Do đó hình thành nên một cơ chế
chuyển
đổi từ
tiết
kiệm
sang
đầu
tư.
Cơ
chế
đó được
thực
hiện trong
khuôn khổ
thị
trường tài chính. Những
người
người
cần
huy động
vốn.
Vậy thị
trường tài chính là nơi
diễn
ra sự luân
chuyển
vốn từ
những
nguôi có vốn nhàn
rỗi tới
những
người
thiếu vốn.
Thị
trường tài chính
cũng
có
thể
được định
nghĩa
là nơi mua bán,
trao
đổi
các công cụ
tài
chính.
Có
thị
trường mua
bán,
trao đổi
các công cụ tài chính
ngắn
hạn (thường có
thời
hạn
dưới
một năm) như: Tín
phiếu
kho
bạc,
thương
phiếu,
các
chứng chỉ
tiền
gửi
có
thể
chuyến
nhượng,
chấp
phiếu
ngán hàng.
Thị
trường
tiền
tín
dụng
cầm
cỹ,
các
khoản
tín
dụng
thương
mại, chứng
chỉ quỹ
đầu tư.
So
với
các công cụ
tài
chính trên
thị
trường
tiền tệ,
các công cụ trên
thị
trường
vỹn có tính
thanh
khoản
kém hơn và độ
rủi
ro
cao hem, do đó chúng có
tổ
chức
hoạt
động
trong
lĩnh
vực tài
chính-
tiền
tệ.
Hoạt
động chủ yếu và thường xuyên của các
tổ chức
này là
tập
hợp
các
khoản
vỹn nhàn
rỗi trong
nền
kinh
tế
lại
rồi
tiến
hành
cung
ứng cho
những
trung gian
tài
chính,
song tựu
trung
lại
có
thể thấy
rằng
các
trung gian
tài chính trên
thị
trường tài chính có
thể
được
chia
thành ba nhóm
chính,
đó là các
tổ chức nhận
tiền
gửi
(ngân
hàng),
các
tổ
chức
tiết
kiệm
cấp cho
những
chủ
thể
cần
vỹn
chủ
yếu
dưới
hình
thức
các
khoản
vay
trực
tiếp.
3
Th.s
Phan
Anh Tuấn
(2005),
Bài
giảng
môn học Lý
thuyết
tài
chính tiền
tệ,
Đại
học Ngoại Thươno Hà Nội
nhất thị
trường tài chính xét
theo
phạm
vi hoạt
động và khả năng về
vốn.
Các
tổ chức
này huy động vốn
bằng
cách mở
tài khoản
séc và
tài khoản
tiết
kiợm
cho khách hàng, đồng
thời
sử
dụng
số vốn huy động được để cho vay
theo nhiều
hình
thức
khác
nhau
hoặc
đầu tư vào
chứng
và cho
vay
(S&Ls),
các ngân hàng
tiết
kiợm
và các liên
hiợp
tín dụng.
b) Các
tổ
chức tiết
kiệm
theo
hợp đồng
Các
tổ chức
tiết
kiợm
theo
hợp đồng là
những
trung
gian
tài chính
thu
nhận
vốn
theo
định kì trên cơ sở các hợp đổng đã
các
khoản
vay
trả
góp mua
bất
động
sản.
Các
tổ chức
tiết
kiợm
theo
hợp đồng gồm các côna
ty
bảo
hiểm
(bảo
hiểm
nhân
thọ,
bảo
hiểm
tài sản
và
tai
nạn)
và các quỹ
trợ
cấp
vốn để tài
trợ
cho các dự án đầu tư của mình
cũng
như giúp cho các nhà đẩu tư nhỏ có
thể
đầu tư
trực
tiếp
các
khoản
tiền
nhàn
rỗi
vào
thị
trường
vốn.
Trên
thực
tế
các
trung
gian
đầu tư không
dồng
thời
thực hiợn tất
cả các
chức
tiền
tệ
và
các công
ty
quản
lý
tài sản.
Như
vậy,
cấc
CTTC
là
một
loại
hình
trung gian
tài
chính,
góp
phần
thúc
đẩy
sự phát
triển
nền
tài
chính của một
quọc
gia.
tiến
bộ
của
khoa
học công
nghệ
đã
dẫn
tới
sự hình thành
và phát
triển
của
các Tập
đoàn
kinh
doanh (TĐKD).
Việc
hình thành
các
TĐKD là
kết
quả
tất
yếu của quá trình tích
tụ
và
tập
trung
sản
hóa các
hoạt
động của
mình,
họ
cần
một
khọi
lượng
vọn
lớn
để
đáp ứng
nhu cầu
mở
rộng
sản
xuất
kinh
doanh.
Họ
không
thể
chỉ phụ
thuộc
vào
việc
đi
vay vọn
từ
Ban
đầu,
hoạt
động của
các CTTC
này
chỉ
bó
hẹp
trong
phạm
vi
nội
bộ TĐKD,
cung
ứng vọn và các
dịch
vụ
tài
chính
tài
trợ
cho
các
hoạt
động
kinh
doanh
của TĐKD
như
của
xã
hội
phát
triển
mạnh
mẽ,
đời
sọng
được
cải
thiện
thì
xuất
hiện
các
nhu
cầu ngày càng
đa
dạng
hơn
của
con
người
về các
dịch
vụ
tài
chính,
mà
chuyên
sâu
và
chuyên
môn
hóa
cao,
nhằm
khắc phục
các
hạn chế
14
và
những
khiếm khuyết
của
hệ
thống
các
NHTM,
đồng
thời
đa
dạng
hóa
hơn
nữa
các định
chế tài
chính
với
sự
bảo
đảm
bằng
tài sản hữu hình.
Cho
đến
thập
niên
70,
trên
thế
giới
có 3
loại
hình
CTTC
hoạt
động phổ
biến
là:
CTTC
tài
trặ
tiêu dùng,
CTTC
tài
trặ
bán
Các
CTTC
tăng
thị
phần
nhờ
việc
tìm
kiếm
các phương
thức
kinh
doanh
và
đẩu
tư
mới
để mở
rộng hoạt
động như:
cung
ứng
các
khoản
cho vay
kinh
doanh
và
cho
thuê
cho vay tiêu dùng
vào các
NHTM do
các
ngán
hàng này có hệ
thống
kĩ
thuật
hiện
đại,
có
mạng
lưới
các
chi
nhánh
rộng
khắp,
có
thể phục
vụ
nhiều
đối
tưặng
tiêu dùng
cá
nhân hơn.
Do
vậy,
phí
hoạt
động,
mở
rộng lĩnh
vực
và
cải
tiến
các phương
thức
cung cấp dịch
vụ
để
có
thể tồn
tại
và không
ngừng
phát
triển.
Những
năm
gần
đây,
các
CTTC
đã có
nhiều thay
đổi đáng kể.
doanh
nghiệp
lớn.
Đồng
thời,
các
CTTC
cũng
đã
thực hiện
việc
sáp
nhập,
thôn tính
lẫn
nhau
để
tạo
thành các
CTTC có
tầm cỡ
quốc
gia
nhằm
mở
rộng
quy
mô
hoạt
động,
là đầu
mối
để
huy
15
động
vốn từ
các
tổ chức
tín
dụng
trong
và
ngoài
nước,
tư
vấn
và làm
đại
lý
phát hành
chứng
khoán cho TĐKD
và
công
ty
thành
viên,
tư vấn
và
ty
hoạt
động sản
xuất
kinh
doanh,
vừa là
CTTC
cho TĐKD.
2.2.
Khái
niệm
về
Công
ty
tài chính
Có
rất nhiều
các
khái
niệm
về CTTC. Mỗi
quốc gia
trên
thế
giới,
tùy
theo
chính sách của mình
trong
là
loại
hình
tổ chức
tín
dụng
phi
ngân hàng,
với
chức
năng sử
dụng
vốn
tự có,
vốn huy động
và
các
nguồn
vốn
khác
để
cho
vay,
đầu
tu,
cung
ứng các
dịch
vụ
tư vấn
năm.
Theo
khái
niệm
trên:
Tổ
chức
tín
dụng phi
ngân hàng, được quy định
tại
Luật
các
tổ chức
tín
dụng
năm
1997,
là
loại
hình
tổ chức
tín
dụng
được
thực hiện
một
số
hoạt
động
ty
cho thuê tài chính
và các
tổ chức
tín
dụng
phi
ngân hàng khác.
Vốn
tự
có,
quyết
định
số
457/2005/QĐ-
NHNN
ngày
19/4/2005
của
NHNN,
quy định các
tổ chức
tín
dụng
được phép xác định vốn
tự
có
của mình
theo hai cấp,
đó
dụng
như
quỹ
dự
trữ
bổ
sung
vốn
điều
lệ,
quỹ dự
phòng tài chính
và quỹ đầu tư
phát
16
triển.
Vốn
cấp
Ì
được dùng
để
xác
định
giới
hạn mua, đầu tư vào
tài sản
cố
định
của
tổ
trị
tăng thêm
đối với
tài sản
cố
định
và
40% giá
trị
tăng thêm
đối với
các
loại
chứng
khoán đầu
tư),
nguồn
vốn
gia
tăng
hoặc
bổ
sung tằ
bên
ngoài
(bao
gồm
trái
phiếu
chuyển
trị
vốn cấp
2
tối
đa
phải
bằng
100%
tổng
giá
trị
vốn cấp
Ì và
tổng
giá
trị
trái
phiếu
chuyến
đổi,
cổ
phiếu
ưu
đãi
và
các công cụ nợ khác
tối
đa
bằng
50% vốn cấp
tín
dụng
khác.
- Phần vốn
góp,
liên
doanh,
mua
cổ
phần
của quỹ đẩu
tư, doanh
nghiệp
vượt
mức
15% vốn
tự
có.
-
Lỗ
kinh
doanh
kể cả các
khoản
lỗ lũy
kế.
Vốn
huy
động:
đó
hành;
tiếp
nhận
vốn
ủy
thác của Chính
phủ,
các
tổ
chức,
cá
nhân
trong
và
ngoài
nước;
phát
hành kì
phiếu,
trái
phiếu,
chứng chỉ
tiền
gửi
và
các
loại
giấy tờ
có
giá khác.
sánh
một số
điểm
khấc
biệt
giữa
CTTC và
loại
hình
trung gian
tài
chính phổ
biến nhất
là
NHTM
qua bảng sau:
17
T H ư
VIÊN
Ì
ỊỊỊgMG
ũ.'.'
nóc
NGOAI
ihUONG
Bảng
1:
So
sánh
giữa
trong
dân cư
(dưới
dạng
tiền
tiết
kiệm),
rồi
cho
các
doanh
nghiệp,
hộ
gia
đình
vay
các
khoản
tiền
lớn.
- Không được
thực
hiện
các
chức
năng
trung gian
thanh
toán.
-
hoạt
động
của
Công
ty
tài
chính
Hoạt
động
của
các
CTTC
hiện
nay
rất
đa
dạng, phong phú.
Tuy nhiên,
theo
nghụ
đụnh
79/2002/NĐ-CP
có
thể chia
các
hoạt
động này thành
bốn
nhóm
chính:
từ
các
nguồn sau
đây:
-
Nhận
tiền
gửi
có kỳ
hạn
từ
một
năm
trở
lên của
các
tổ
chức
và cá nhân
theo
quy
đụnh
của
NHNN.
Điều
này có
nghĩa
là các
CTTC
chỉ
kì
phiếu,
trái
phiếu,
chứng
chi
tiền
gửi
và các
giấy
tờ
có giá
khác để huy
dộng vốn của
các
tổ
chức,
cá nhân
trong
và ngoài nước
theo
quy
đụnh
của
pháp
luật
hiện
hành.
18