MỤC LỤC
Mở đầu
1
CHƯƠNG 1
DỊCH VỤ THÔNG TIN DI ĐỘNG VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH –
KHÍA CẠNH LÝ THUYẾT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
5
1.1. Dịch vụ thông tin di động
5
1.1.1. Khái niệm
5
1.1.2. Đặc điểm kinh doanh thông tin di động xét trong mối quan hệ với
nâng cao năng lực cạnh tranh của dịch vụ Viễn thông
12
1.2. Năng lực cạnh tranh ngành dịch vụ Viễn thông
21
1.2.1. Một số khái niệm về năng lực cạnh tranh ngành dịch vụ Viễn thông
21
1.2.2. Các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh của ngành Viễn thông
23
1.2.3. Một số tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh dịch vụ Viễn thông
31
1.3. Một số kinh nghiệm quốc tế về nâng cao năng lực cạnh tranh của
ngành dịch vụ Viễn thông
35
1.3.1. Tự do hoá và các biện pháp hỗ trợ mạnh mẽ của Chính phủ - Kinh
nghiệm của Hoa Kỳ
35
1.3.2. Cải cách cơ cấu tổ chức các công ty Viễn thông – Kinh nghiệm của
Trung Quốc
37
3.1.1. Tình hình hội nhập quốc tế và nội dung cam kết gia nhập WTO về
dịch vụ Viễn thông
77
3.1.2. Cơ hội và thách thức
81
3.2. Mục tiêu phát triển của VIETTEL giai đoạn 2009 – 2015 và định
hướng đến năm 2020
85
3.3. Một số giải pháp chủ yếu nâng cao năng lực cạnh tranh dịch vụ
thông tin di động của Tổng công ty Viễn thông Quân đội trong bối cảnh
hội nhập
85
3.3.1. Những giải pháp từ phía doanh nghiệp
86
3.3.2. Những giải pháp từ phía Nhà nước
93
KẾT LUẬN
101
TÀI LIỆU THAM KHẢO
103
PHỤ LỤC
105
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Số TT
Từ viết tắt
Giải thích ý nghĩa
1
ANQP
Điện thoại cố định
12
GTGT
Giá trị gia tăng
13
KH
Khách hàng
14
NLCT
Năng lực cạnh tranh
15
TCT
Tổng công ty
16
TB
Thuê bao
17
VHDN
Văn hóa doanh nghiệp
18
XNK
Xuất nhập khẩu
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đối với Việt Nam cũng như trên thế giới, dịch vụ Viễn thông luôn là một trong
cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” với mong muốn đề xuất một số giải pháp cơ bản
nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh đối với dịch vụ thông tin di động của Tổng công
ty Viễn thông Quân đội trong điều kiện Việt Nam tham gia cạnh tranh và hội nhập
kinh tế quốc tế.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong thời gian qua đã có nhiều bài nghiên cứu và được công bố liên quan đến
hướng nghiên cứu của đề tài. Trong đó, có một số công trình nổi bật, cụ thể:
- Báo cáo của Uỷ ban Hợp tác quốc tế về “Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc
gia của Việt Nam” (2003)
- Một số báo cáo của Bộ Kế hoạch & Đầu tư về “Phương hướng điều chỉnh cơ
cấu sản xuất và đầu tư trong quá trình hội nhập” và “Hội nhập kinh tế quốc tế và điều
chỉnh cơ cấu kinh tế của nước ta” (1999); Nghiên cứu thực nghiệm của Viện Chiến lược
phát triển và tổ chức JICA về “Cạnh tranh một số ngành công nghiệp Việt Nam”…
- Đề tài cấp Nhà nước do Viện Quản lý kinh tế Trung ương chủ trì năm 2001-
2003: “Cơ sở khoa học cho việc định hướng chính sách và các giải pháp nâng cao năng
lực cạnh tranh của kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế ”.
- Trần Sửu, Trường Đại học Ngoại thương, (2006) “Năng lực cạnh tranh của
DN trong điều kiện toàn cầu hoá” , Nhà xuất bản Lao động.
Ngoài ra còn rất nhiều những đề tài nghiên cứu khác. Tuy nhiên, những nghiên
cứu trên mới tập trung vào NLCT quốc gia và DN, chưa đi sâu vào NLCT sản phẩm,
đặc biệt là sản phẩm Viễn thông di động. Kế thừa có chọn lọc các công trình nói trên,
tác giả luận văn tập trung vào nghiên cứu, đánh giá NLCT sản phẩm đối với dịch vụ
thông tin di động của Tổng công ty Viễn thông Quân đội, từ đó đề ra các giải pháp,
3
kiến nghị nhằm nâng cao NLCT của Tổng công ty trong bối cảnh hội nhập kinh tế
quốc tế.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của đề tài:
- Đánh giá NLCT dịch vụ thông tin di động của Tổng công ty Viễn thông Quân
để góp phần nâng cao NLCT đối với dịch vụ thông tin di động tại thị trường Việt Nam
và đặc biệt tại Tổng công ty Viễn thông Quân đội hiện nay.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phần Phụ lục, luận văn
gồm có 03 chương:
Chƣơng 1: Dịch vụ thông tin di động và năng lực cạnh tranh – Khía cạnh lý
thuyết và một số kinh nghiệm quốc tế
Chƣơng 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh dịch vụ thông tin di động của Tổng
công ty Viễn thông Quân đội
Chƣơng 3: Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh dịch vụ thông tin di
động của Tổng công ty Viễn thông Quân đội trong bối cảnh hội nhập 5
CHƢƠNG 1
DỊCH VỤ THÔNG TIN DI ĐỘNG VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH –
KHÍA CẠNH LÝ THUYẾT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
1.1. Dịch vụ thông tin di động
1.1.1. Khái niệm
Thế kỷ XXI được xem như kỷ nguyên của thông tin kỹ thuật số. Và con người
đã phải thừa nhận sự lệ thuộc của mình vào thế giới đa truyền thông kỹ thuật số
lượng thông tin chuyển tải trong cùng một thời gian.
ĐTDĐ thực chất là một máy tính nhỏ có gắn thêm bộ thu phát sóng điện từ và
micro, loa. Bộ thu phát sóng này có thể thực hiện thu, phát đồng thời. Máy tính trong
điện thoại dùng để điều khiển tất cả các nhiệm vụ được người sử dụng ra lệnh thông
qua bàn phím, giọng nói và các lệnh do Tổng đài gửi tới thông qua bộ thu. Mỗi một
điện thoại có một mã nhận dạng riêng để nhận dạng cuộc gọi, chủ cuộc gọi và nhà
cung cấp dịch vụ. Các bước giao tiếp được thực hiện như sau:
- Khi được bật, ĐTDĐ sẽ tìm kiếm một tín hiệu đặc biệt do BS phát ra. Nếu
không thấy có tín hiệu nào, nó sẽ báo “No service” hoặc một thông báo tương tự trên
màn hình.
- Nếu bắt được tín hiệu, ĐTDĐ sẽ xem tín hiệu này có phù hợp với mình không.
Nếu không phù hợp thì nó vẫn báo “No service”. Nếu phù hợp, nó tiến hành trao đổi
thông tin với BS để tổng đài biết vị trí của nó ở đâu và sẽ ghi lại thông tin.
- Khi thực hiện cuộc gọi, ĐTDĐ yêu cầu BS báo tổng đài cấp cho nó một kênh.
Nếu còn kênh trống thì tổng đài sẽ cung cấp và nhận nhiệm vụ tìm kiếm ĐTDĐ được
gọi trong dữ liệu lưu trữ. Khi tìm thấy ĐTDĐ được gọi, tổng đài yêu cầu BS cấp kênh
và báo cho ĐTDĐ được gọi biết. Nếu hết kênh hoặc TB này đang thực hiện cuộc gọi
7
khác thì tổng đài sẽ báo lại cho ĐTDĐ gọi đi biết là người được gọi đang bận. Nếu
không nó tiến hành kết nối.
- Nếu ĐTDĐ ra xa BS, BS sẽ báo là mức tín hiệu đang giảm dần. Trong khi đó sẽ
có một BS khác nhận được mức tín hiệu lớn dần. Hai TB này nói chuyện với nhau
thông qua tổng đài để chuyển giao nhiệm vụ phục vụ chiếc ĐTDĐ đang lang thang này.
Tất nhiên ai cũng rõ là nếu ĐTDĐ hỏng hoặc mạng bị lỗi thì sẽ xảy ra lỗi.
Nhưng còn có một số nguyên nhân khác. Chúng ta hãy loại trừ lỗi do ĐTDĐ và mạng
để tìm hiểu các nguyên nhân này.
Các lỗi về giao tiếp giữa ĐTDĐ và mạng được gọi đơn giản là lỗi sóng gồm:
mất sóng, sóng yếu và rớt sóng. Mất sóng, sóng yếu là do các nguyên nhân sau:
- Càng xa BS thì sóng càng yếu. Nếu chẳng may ta ở địa điểm xa tất cả các BS
như bất kỳ một hệ thống điện thoại nào) và hệ thống thu phát chuyển tiếp. Hệ thống
thu phát chuyển tiếp có cấu trúc phù hợp với địa hình bởi vì sóng tải các tín hiệu liên
lạc nằm ở dải tần 900 MHz, 1800 MHz và 1900 MHz - nghĩa là ở dải sóng siêu cao
tần, muốn thu phát tốt ở dải tần này hai anten của hai đài gần nhau phải hướng đối trực
tiếp với nhau. Mỗi trạm thu phát là một tế bào, nhiều tế bào họp thành một vùng định
vị, nhiều vùng định vị được quản lí bởi một trung tâm chuyển mạch. Trên cơ sở hệ
thống GMS còn có nhiều chuẩn không dây khác cũng có thể sử dụng trong mạng này
như chuẩn TDMA (Time Division Multiple Access-Chuẩn đa truy nhập phân chia theo
thời gian); chuẩn CDMA (Code Division Multiple Access-Chuẩn đa truy nhập mã
hoá). Tất cả các chuẩn này đều thuộc công nghệ truyền thông di động thế hệ hai (2G).
Thế giới đang tập trung nỗ lực hướng tới công nghệ truyền thông không dây thế
hệ ba (The Thrid Generation - 3G) nhằm tăng dung lượng dữ liệu truyền tải, đặc biệt
đã truyền các dữ liệu thông qua Internet. Công nghệ 3G làm cho truyền thông không
dây nhanh hơn và tốt hơn, có thể kết nối với bất kỳ chuẩn nào. Công nghệ này nâng
9
cao chất lượng thoại, dịch vụ dữ liệu sẽ có thể truyền tải các dữ liệu là video và
multimedia đến các thiết bị cầm tay. Có ít nhất hai chuẩn 3G đang trong giai đoạn thực
hiện, đó là W-CDMA và CDMA2000. Hiện có hơn 50 quốc gia trên thế giới triển khai
ứng dụng công nghệ CDMA với trên 100 mạng.
CDMA được xây dựng từ những năm 1950 và áp dụng vào thông tin quân sự
năm 1960, từ 1980 CDMA được thương mại hoá từ phương pháp thu định vị vệ tinh
GPS (xác định toạ độ bằng nhiều đài phát) và cũng được áp dụng trong mạng tế bào
GMS. Hiện tại CDMA sử dụng hai tần số 800 MHz và 1900 MHz. Có giải thuật mã
hoá riêng cho từng cuộc thoại, chính vì thế mà tính bảo mật của cuộc thoại cao hơn.
Công nghệ theo chuẩn CDMA có nhiều ưu việt hơn chuẩn GSM: khả năng kết nối
nhanh hơn, dung lượng thoại có thể tăng 6 -10 lần, tránh được nghẽn mạch. Tuy nhiên,
CDMA cũng có những chỗ yếu như vùng phủ sóng CDMA trên thế giới còn hẹp nên
khả năng chuyển vùng quốc tế giữa các hệ thống CDMA còn hạn chế, số lượng nhà
sản xuất các thiết bị điện thoại CDMA không nhiều, kém phong phú hơn chuẩn GSM.
có thể sử dụng pin nhỏ hơn, nên trọng lượng máy nhẹ, kích thước gọn và dễ sử dụng.
Để sử dụng mạng ĐTDĐ CDMA, người dùng phải trang bị thiết bị đầu cuối
phù hợp với công nghệ của mạng. Với tốc độ truyền nhanh hơn các công nghệ hiện có,
nhà cung cấp dịch vụ còn có thể triển khai nhiều tùy chọn dịch vụ như thoại, thoại và
dữ liệu, fax, Internet…
Không chỉ ứng dụng trong hệ thống thông tin di động, CDMA còn thích hợp sử
dụng trong việc cung cấp dịch vụ điện thoại vô tuyến cố định với chất lượng ngang
bằng với hệ thống hữu tuyến, nhờ áp dụng kỹ thuật mã hóa mới. Đặc biệt các hệ thống
này có thể triển khai, mở rộng nhanh và chi phí hiện thấp hơn hầu hết các mạng hữu
tuyến khác, vì đòi hỏi ít trạm thu phát. Tuy nhiên, hầu hết những máy ĐTDĐ đang sử
dụng chuẩn GSM hiện nay không thể sử dụng chuẩn CDMA. Nếu tiếp tục phát triển
GSM, hệ thống thông tin di động này sẽ phải phát triển lên WTDMA mới đáp ứng
11
được nhu cầu truy cập di động các loại thông tin từ mạng Internet với tốc độ cao, thay
vì với tốc độ 9.600 bit/giây như hiện nay, và so với 144.000 bit/giây của CDMA.
b/ Đặc điểm sản phẩm và dịch vụ
Dịch vụ thông tin di động là sản phẩm truyền đưa tin tức, do vậy nó bị chi phối
bởi những đặc điểm kinh tế chung của sản phẩm Bưu điện như sau:
- Là một loại sản phẩm thiết yếu của đời sống xã hội.
- Là loại sản phẩm tiêu dùng một lần.
- Sản phẩm bưu điện ít chịu sự cạnh tranh của các loại sản phẩm khác, nó có
tính độc quyền tự nhiên (đặc biệt là trong Viễn thông).
- Giá thành của một đơn vị giá trị sử dụng của sản phẩm bưu điện ở những địa
phương khác nhau là rất khác nhau, và được tạo ra ở đâu thì được bán tại đó, không
thể tính đến việc sản xuất ở nơi có chi phí thấp để bán ở nơi có doanh thu cao.
- Sản phẩm dịch vụ bưu điện được tiêu thụ ngay trong quá trình tạo ra nó, nên
việc đảm bảo chất lượng khai thác, chất lượng sản phẩm bưu điện có yêu cầu rất cao.
- Thông tin di động là sản phẩm vô hình không nhìn thấy được.
Để có được dịch vụ ĐTDĐ cung cấp cho KH phải qua các công việc sau đây:
lạc tới các vùng sâu, vùng xa). Đến nay, do khoa học công nghệ phát triển, giá thành
của thiết bị thu phát sóng không còn “trên trời” nữa và đặc biệt là khi thu nhập của
người dân tăng cao nên nhu cầu về sử dụng ĐTDĐ tăng mạnh. Sử dụng ĐTDĐ ngày
nay đã trở thành nhu cầu thiết yếu của mọi thành phần trong xã hội.
Xuất phát từ nhu cầu đó đòi hỏi các DN kinh doanh thông tin di động phải đầu
tư mở rộng mạng lưới ở khắp mọi nơi mới đáp ứng được nhu cầu của KH và mới có
khả năng thắng lợi trong kinh doanh có tính cạnh tranh quyết liệt như ở lĩnh vực thông
tin di động hiện nay tại thị trường Việt Nam.
1.1.2. Đặc điểm kinh doanh thông tin di động xét trong mối quan hệ với nâng
cao năng lực cạnh tranh của dịch vụ Viễn thông
13
Thị trường Viễn thông di động là nơi diễn ra sự cạnh tranh gay gắt và là lĩnh
vực hoạt động nhạy cảm nhất. Cạnh tranh trong thương trường chính là phải phục vụ
KH tốt nhất, mang lại cho KH những GTGT cao hơn hoặc/và mới lạ hơn để KH lựa
chọn mình chứ không lựa chọn các đối thủ cạnh tranh của mình. Trong tiến trình đầy
biến động về nâng cao NLCT, DN cung cấp dịch vụ Viễn thông di động cần nắm vững
các đặc điểm kinh doanh của sản phẩm và có khả năng tạo được cho mình một quy
trình vận động liên hoàn để tạo và/hay giữ thế mạnh hoặc ít nhất là đừng để lâm vào
thế bị động bởi sự tiến công không ngừng của các đối thủ cạnh tranh. Quy trình vận
động liên hoàn đó tập trung vào sáu lĩnh vực:
1.1.2.1. Chất lượng sản phẩm: giành giữ thị phần và khai phá thị trường
Chất lượng sản phẩm đề cập ở đây không phải là “chất lượng chuẩn mực” (cần
thiết phải có) mà chính là “chất lượng vượt trội” theo nghĩa “đổi mới sản phẩm” để tạo
ra sự khác biệt so với đối thủ cạnh tranh. Bởi chất lượng là điều “đương nhiên phải có”
nhưng không mang đến lợi thế cạnh tranh có tính quyết định, vì không tạo được thêm
cho sản phẩm một sự đặc thù nào khác so với những sản phẩm của các DN hoạt động
trong những nền kinh tế có các mức độ hiện đại và tiên tiến tương đương.
Ví dụ: Một số thông tin khác biệt về dịch vụ thoại di động giữa Viettel với các
nhà cung cấp khác:
Vinafone
Mobifone
S-fone
EVNTelecom
HT Mobile
Trả trước
4
4
4
9
2
4
Trả sau
3
1
1
6
1
5
Tổng
7
5
4
15
3
9
- Sự ra đời của gói cước TOMATO cho thấy ý nghĩa xã hội rất lớn, vì KH của
Viettel Telecom.
Điều quan trọng là quá trình đổi mới sản phẩm phải là một quá trình tiếp diễn
liên tục bởi công nghệ dù hiện đại đến đâu và dù có bản quyền vẫn có thể bị bắt chước
mà còn phải đi nhanh. Nếu mỗi bước tiến của DN đều bị bắt kịp ngay bởi các đối thủ
cạnh tranh thì DN ấy không có gì hơn các DN khác. Do đó, thời gian là một yếu tố
quan trọng trong việc tạo ra lợi thế trong nâng cao NLCT: thấu hiểu chất lượng của
thời gian mới nắm bắt được sự vận hành của “dòng chảy chính” ở thị trường, nhằm tạo
16
ra “dòng chảy mới”, mang thêm cho DN một trọng lượng mà các đối thủ cạnh tranh
khó có thể cân bằng ngay được. Sự có mặt của sản phẩm kịp thời trên thị trường, nghĩa
là đúng lúc mà KH yêu cầu và trước hơn nhiều so với các DN khác trong cùng lĩnh
vực, chính là một yếu tố quan trọng của nâng cao NLCT.
Trong một môi trường cạnh tranh, người đi sau muốn khẳng định mình thì phải
có cách làm riêng. Viettel là DN đi sau VNPT, đã có cách làm nào để thể hiện sự khác
biệt? Sự khác biệt thể hiện từ cách chăm sóc KH. Những ngày Viettel khởi đầu xây
dựng hạ tầng cho dịch vụ di động, hai “đại gia” đi trước là Vina và Mobi đã chiếm
lĩnh phần thị trường mang lại doanh thu cao nhất là KH có thu nhập cao. Với phân
khúc này, họ đã chỉ cần tập trung đầu tư hạ tầng kỹ thuật và phủ sóng tại các thành
phố lớn. Viettel không còn cơ hội để đầu tư trọng điểm và thu hồi vốn nhanh, không
còn cơ hội đầu tư đến đâu là có thể kinh doanh ngay đến đó. Vì vậy ngay từ đầu,
Viettel phải là mạng cung cấp dịch vụ ĐTDĐ phủ sóng toàn quốc, phủ sóng cả những
nơi chưa ai phủ sóng. Đây là tiền đề để Viettel Mobile có được thực lực kinh doanh,
tạo ra sự khác biệt quan trọng trong một thị trường không còn mới. Tính đến 02/2008,
Viettel đã có 7500 trạm phát sóng, phủ sóng hầu hết các vùng biên giới hải đảo, vùng
sâu/xa, tạo nên ưu thế cạnh tranh. Tiên phong ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến của
thế giới vào kinh doanh dịch vụ và đẩy mạnh phong trào cải tiến kỹ thuật là những
việc Viettel ưu tiên hàng đầu. Cái mới mẻ luôn được khuyến khích với các khẩu hiệu:
“Mỗi ngày một ý tưởng, mỗi tuần một sáng kiến, mỗi tháng một đề tài”; “Ghi nhận và
tôn vinh những ý tưởng nhỏ nhất”…Viettel còn là DN Viễn thông đầu tiên của Việt
Nam cung cấp dịch vụ di động tại nước ngoài.
Thời gian còn đóng một vai trò cơ bản trong việc giữ và bành trướng thị phần từ
một sản phẩm mới vừa thâm nhập thị trường. Bất cứ mặt hàng nào, nếu DN đi trước mở
tiệm phải có tính chất hấp dẫn đặc thù và thường xuyên thay đổi để làm bùng cháy
18
nhiệt tình của KH: sự hào hứng của khách khi khám phá ra những thế giới và không
gian luôn luôn đầy ấn tượng bất ngờ.
1.1.2.4. Chất lượng dịch vụ: kết nối, giữ thị phần và chống rời mạng
Dịch vụ là thực hiện những gì mà DN đã hứa hẹn nhằm thiết lập, củng cố và mở
rộng những quan hệ đối tác lâu dài với KH và thị trường, dịch vụ chỉ đạt chất lượng
khi KH cảm nhận rõ ràng là việc thực hiện các hứa hẹn đó của DN mang đến cho KH
GTGT nhiều hơn các DN khác hoạt động trong cùng lĩnh vực.
Có ba thời điểm để DN chứng minh cụ thể những hứa hẹn với KH. Đó là khi:
KH giao diện với cơ sở vật chất; gặp gỡ với nhân viên và tiếp xúc với cơ cấu của DN.
Cơ sở vật chất chủ yếu của DN là để phục vụ KH đúng theo những gì mà DN
đã hứa hẹn trước đó. Nếu cơ sở vật chất của DN không mang đến cho KH một tiện ích
tối thiểu nào mà lại nhắm vào việc xây dựng một hình thức hào nhoáng cho DN (nhất
là cho ban lãnh đạo) thì cơ sở vật chất đó chỉ có tính phản tác dụng.
Lúc mà KH tiếp xúc với nhân viên của DN là khoảng thời gian mà ngành quản
lý kinh doanh gọi bằng thuật ngữ “Giây lát của sự thật”: tác phong ứng xử, nhất là sự
phản ứng linh hoạt và nhanh chóng của nhân viên trước những vấn đề của KH là thước
đo một cách hết sức thực tế về cung cách dịch vụ của DN.
Viettel Telecom là một công ty ngày càng đổi mới về cung cách phục vụ. Mỗi
một nhân viên của Viettel là một nhân viên CSKH (từ giao dịch viên tại cửa hàng trực
tiếp đến Ban lãnh đạo). Mỗi KH được coi là một cá thể, được một nhân viên tiếp đón
và chăm sóc trong suốt quá trình giao dịch (điện thoại thăm hỏi dịch vụ sử dụng có
trục trặc kỹ thuật không, KH có thắc mắc gì về các thông tin khác không, được tư vấn
kỹ về các dịch vụ GTGT, gửi hoa và thiếp chúc mừng trong các ngày lễ, sinh nhật…)
Để có được sự linh hoạt trong việc phục vụ KH, cơ cấu của DN nhất thiết được
hình thành theo triết lý “Tất cả vì KH”. Nếu khẩu hiệu “KH là thượng đế” được đề cao
thì vai trò của những người gần gũi thường xuyên nhất với “thượng đế” (là các giao
dịch viên tại các cửa hàng trực tiếp) cũng phải được đề cao. Họ là bộ phận tiếp xúc với
Lúc thương hiệu đạt vị thế cao nhất là lúc mà chu kỳ sống của thương hiệu phát
triển đến độ bao gồm đầy đủ việc biểu trưng cho chất lượng sản phẩm/dịch vụ, nhân
cách và giá trị đề cao bởi DN. Khi ấy thương hiệu sẽ phát huy sức mạnh của mình để
mang đến cho KH một GTGT đặc biệt và tạo cho DN một lợi thế cạnh tranh đặc thù.
Tóm lại, chất lượng thương hiệu dựa trên việc kết nối ba khái niệm cơ bản:
- Bản sắc: định nghĩa rõ nhân cách và giá trị mà DN muốn mang đến cho KH
nói riêng và cho môi trường kinh tế - xã hội nói chung với thương hiệu của mình.
- Danh tiếng: xác định rõ các GTGT đặc thù mang đến cho KH, cho thị trường
và cho xã hội bởi thương hiệu.
- Quan hệ: xác định những phương thức để truyền bá rộng rãi nhân cách và giá
trị biểu trưng bởi thương hiệu (hoạt động nhân đạo, khuyến học, văn hóa, văn nghệ,
thể thao…) nhằm tạo dựng những quan hệ tin cậy, lâu dài với các đối tác của DN.
Như vậy, lợi thế cạnh tranh của thương hiệu không còn chỉ là dựa vào các việc
chuyên về hình thức như: bao bì, mẫu mã, đóng gói mà cơ bản là phải chia sẻ với KH
và với môi trường xã hội niềm tự hào về nhân cách và giá trị cuộc sống được đề cao và
thực hiện bởi DN. Viettel định hướng chiến lược thương hiệu theo cách xây dựng hình
ảnh Viettel, đặt tên các dịch vụ có tiền tố là Viettel (Viettel Mobile, Viettel Internet,
Viettel Telecom…)
1.1.2.6. Chất lượng giá cả: hợp ý và hợp thời
Chất lượng của giá cả nằm trong khoảng cách giữa GTGT đạt được khi sử dụng
sản phẩm/dịch vụ và cái giá phải trả để có được sản phẩm/dịch vụ đó.
Nhìn từ lý thuyết của chính sách giá cả, các chủ trương của những DN áp dụng
giá bán rẻ nhất hoặc các hình thức khuyến mãi là một lập luận có cơ cấu nội tại hết sức
hợp lý: (a) giá rẻ hoặc khuyến mãi sẽ có thêm nhiều người mua; (b) nhiều người mua
sẽ mở rộng thị phần; (c) thị phần phát triển sẽ tạo hướng cho việc thiết lập nền kinh tế
quy mô; (d) vận hành của kinh tế quy mô sẽ hạ giá thành trung bình của sản phẩm/dịch
vụ; (e) giảm giá thành của sản phẩm/dịch vụ sẽ mang đến cho DN một lợi thế cạnh
21
tranh trong việc ấn định linh hoạt một chính sách giá cả mới hầu đánh bật các đối thủ
NLCT là “Khả năng của các DN, các ngành, các quốc gia hoặc khu vực tạo ra thu
nhập tương đối cao hơn và mức độ sử dụng lao động cao hơn, trong khi vẫn đối mặt
với cạnh tranh quốc tế”. Đây là một cách định nghĩa đã kết hợp cả cấp độ DN, ngành
và cấp độ quốc gia.
Xét ở góc độ ngành, một ngành kinh tế được coi là có NLCT khi các DN trong
ngành và sản phẩm chủ đạo của ngành có NLCT trên thị trường. Các yếu tố quyết định
NLCT của một ngành kinh tế bao gồm: lợi thế so sánh của ngành, môi trường kinh tế
vĩ mô và môi trường kinh doanh, NLCT của các DN trong ngành và NLCT của sản
phẩm/dịch vụ đặc thù của ngành.
1.2.1.2. Năng lực cạnh tranh của dịch vụ Viễn thông
NLCT của dịch vụ Viễn thông trên thị trường trong nước và quốc tế là sự thể
hiện tính ưu việt hay tính hơn hẳn của nó cả về định tính và định lượng với các chỉ tiêu
như: chất lượng dịch vụ (mạng Viễn thông di động), thương hiệu, mức độ giao dịch và
uy tín của dịch vụ trên thị trường, chất lượng CSKH, giá cước, lưu lượng thoại trên
mạng, uy tín của sản phẩm trên thị trường, phạm vi phủ sóng…
Cùng với quá trình tăng trưởng và phát triển của mỗi nền kinh tế thì các quan hệ
thương mại cũng phát triển, theo đó diễn ra sự mở rộng thị trường trao đổi hàng hoá và
dịch vụ. Mỗi một gói sản phẩm do từng nhà cung cấp đưa ra thị trường sẽ được KH
phản ứng với mức độ cao/thấp khác nhau. Sự phản ứng của KH thể hiện qua việc mua
hay không mua gói sản phẩm đó là biểu hiện tổng quát cuối cùng về NLCT của sản
phẩm đó. Nói cách khác, cạnh tranh giữa các mạng thoại di động trên một thị trường
Viễn thông di động là quá trình thể hiện khả năng hấp dẫn tiêu dùng của các sản phẩm
đối với KH trên thị trường và trong một thời gian nhất định.