Nâng cao năng lực cạnh tranh của tổng công ty viễn thông quân đội viettel trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế - Pdf 30



TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
o0o

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
TỔNG CÔNG TY VIỄN THÔNG QUÂN ĐỘI – VIETTEL
TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Họ và tên sinh viên : Lê Mai Trang
Lớp : Anh 7
Khóa : 42B – KT&KDQT
Giáo viên hƣớng dẫn : PGS. TS Phạm Duy Liên
thông, lĩnh vực hạ tầng, lĩnh vực kinh tế mũi nhọn của đất nƣớc, Tổng công ty Viễn
thông Quân đội – Viettel không nằm ngoài vòng xoáy hội nhập này. Để xây dựng
và định vị thƣơng hiệu Viettel trên thị trƣờng cũng nhƣ thực hiện vai trò chủ đạo
của mình trong nền kinh tế quốc gia, Viettel đã không ngừng vƣơn lên, mở rộng
mạng lƣới viễn thông trên cả nƣớc, phát triển cung cấp nhiều dịch vụ mới, tiên tiến,
hiện đại với mục tiêu: “Quan tâm - Chăm sóc - Sáng tạo - Đột phá”. Song các mối
quan hệ ngày càng mở rộng thì cơ hội cho các doanh nghiệp đến càng nhiều nhƣng
Trƣờng Đại học Ngoại Thƣơng Khóa luận tốt
nghiệp

Lê Mai Trang Lớp
A7K42B

2
thách thức đặt ra cũng không nhỏ. Viettel luôn bị đe dọa bởi các đối thủ cạnh tranh
hiện tại và tiềm ẩn ở cả trong và ngoài nƣớc. Do đó, vấn đề nâng cao năng lực cạnh
tranh của Viettel là nhiệm vụ hàng đầu để giúp doanh nghiệp này đứng vững ở thị
trƣờng trong nƣớc cũng nhƣ vƣơn ra cạnh tranh hiệu quả trên thị trƣờng quốc tế.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn cũng nhƣ tính cấp bách của vấn đề, em đã quyết
định chọn đề tài: “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Tổng công ty Viễn thông
Quân đội – Viettel trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” làm đề tài cho khóa
luận tốt nghiệp của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
Vận dụng những kiến thức và lý luận đƣợc trang bị ở nhà trƣờng để áp dụng
vào thực tiễn hiện trạng tình hình cạnh tranh của các doanh nghiệp thƣơng mại nói
chung và của Tổng công ty Viễn thông Quân đội – Viettel nói riêng. Trên cơ sở đó
đƣa ra những đánh giá và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh
tranh của Tổng công ty Viễn thông Quân đội – Viettel.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tƣợng nghiên cứu của khóa luận là quá trình hoạt động kinh doanh của
Trƣờng Đại học Ngoại Thƣơng Khóa luận tốt
nghiệp

Lê Mai Trang Lớp
A7K42B

4
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH
TRANH CỦA DOANH NGHIỆP
I. KHÁI NIỆM CẠNH TRANH, NĂNG LỰC CẠNH TRANH.

A7K42B

5
kinh doanh và của một nền kinh tế, không có hành vi của hàng hoá. Nhƣ vậy thì
cạnh tranh đƣợc coi là một phƣơng thức vận động của thị trƣờng. Đối với ngƣời
mua họ muốn mua đƣợc hàng hóa chất lƣợng cao với mức giá hợp lý. Còn ngƣợc
lại, các doanh nghiệp bao giờ cũng muốn tối đa hóa lợi nhuận, họ phải hạ chi phí
sản xuất và tìm cách giành giật từng khách hàng và thị trƣờng về phía mình và nhƣ
vậy cạnh tranh sẽ xảy ra.
* Một số điều kiện cơ bản để xuất hiện cạnh tranh trong kinh tế là:
- Phải tồn tại một thị trƣờng nghĩa là phải có một nền kinh tế thị trƣờng.
- Thị trƣờng đó phải có tối thiểu hai thành viên bên cung hoặc bên cầu cung
cấp hay tiêu thụ cùng một loại sản phẩm, dịch vụ hoặc các sản phẩm, dịch vụ tƣơng
tự nhau hoặc có tính chất thay thế cho nhau.
- Mức độ đạt mục tiêu của thành viên này sẽ ảnh hƣởng tiêu cực đến mức độ
đạt mục tiêu của thành viên khác (chẳng hạn việc mở rộng thị phần của một doanh
nghiệp sẽ có nguy cơ làm mất thị phần của các doanh nghiệp còn lại, làm giảm
doanh thu và lợi nhuận của các doanh nghiệp còn lại).
Cạnh tranh là một trong những đặc trƣng cơ bản và là động lực phát triển của
nền kinh tế thị trƣờng, khả năng cạnh tranh là điều kiện sống còn của mỗi sản phẩm,
mỗi doanh nghiệp, và mỗi quốc gia. Kết quả cạnh tranh sẽ xác định vị thế của doanh
nghiệp trên thị trƣờng, cạnh tranh sẽ tạo ra cho doanh nghiệp sự linh hoạt, nỗ lực
phấn đấu đổi mới công nghệ, năng suất, nguồn nhân lực và buộc doanh nghiệp
phải hƣớng vào thị trƣờng để định hƣớng hoạt động sản xuất kinh doanh. Cạnh
tranh sẽ đào thải những doanh nghiệp hoạt động yếu kém, giúp doanh nghiệp tìm tòi
và khắc phục những yếu điểm để vƣơn lên nắm giữ thị trƣờng. Doanh nghiệp nào
có chính sách cạnh tranh hiệu quả sẽ tạo ra đƣợc vị thế trên thị trƣờng, tăng lợi
nhuận và tăng thu nhập cho ngƣời lao động. Doanh nghiệp nào không có chính sách
cạnh tranh hiệu quả thì sẽ không thể phát triển sản phẩm và mở rộng mạng lƣới
khách hàng, thậm chí có thể dẫn đến phá sản. Tuy nhiên, vị thế cạnh tranh chỉ mang

khái niệm này, năng lực cạnh tranh chỉ bó hẹp ở việc giảm chi phí sản xuất, các xí
nghiệp nếu muốn có năng lực cạnh tranh trên thị trƣờng thì chỉ cần tìm cách tối
thiểu hóa chi phí sản xuất, nghĩa là sản xuất ra những sản phẩm có chất lƣợng tƣơng
tự nhƣng với giá thành rẻ hơn các xí nghiệp khác là đã có đƣợc năng lực cạnh tranh
cao hơn trên thị trƣờng. Khái niệm về năng lực cạnh tranh này còn khá phiến diện
và thô sơ, nó chƣa đề cập đến khía cạnh cải tiến sản phẩm để đáp ứng tốt hơn nhu
cầu của thị trƣờng.
Trƣờng Đại học Ngoại Thƣơng Khóa luận tốt
nghiệp

Lê Mai Trang Lớp
A7K42B

7
Trong điều kiện hoàn cảnh mới các nhà kinh tế học đã đƣa ra những lý thuyết
về năng lực cạnh tranh mới nhƣ lý thuyết của Heckser – Ohlin. Sau đó lý thuyết này
đƣợc nhà kinh tế Samuelson bổ sung nên đƣợc gọi là mô hình Heckser - Ohlin -
Samuelson, lý thuyết này phân tích lợi thế cạnh tranh theo các nhân tố. Đến Paul
Krugman, Helpman,… các ông đã phân tích lợi thế cạnh tranh dựa vào quy mô, sự
khác biệt hóa. Michael Porter thì đƣa ra khái niệm về năng lực cạnh tranh dƣới cái
nhìn của một nhà quản trị chiến lƣợc. Ông cho rằng: “Để có thể cạnh tranh thành
công, các doanh nghiệp phải có lợi thế cạnh tranh dƣới hình thức hoặc là có chi phí
thấp hơn hoặc là có khả năng khác biệt hóa sản phẩm nhằm đạt đƣợc những mức
giá cao hơn trung bình. Để duy trì lợi thế cạnh tranh, các doanh nghiệp cần đạt đƣợc
những lợi thế cạnh tranh ngày càng tinh vi hơn. Qua đó có thể cung cấp những hàng
hóa hay dịch vụ có chất lƣợng cao hơn hoặc sản xuất có hiệu quả hơn”[15, trang 29].
Theo khái niệm này, vấn đề năng lực cạnh tranh còn bao hàm cả việc doanh nghiệp
phải liên tục duy trì lợi thế cạnh tranh của mình. Hay nói cách khác, doanh nghiệp
phải duy trì tỷ suất lợi nhuận trên cơ sở bám sát nhịp độ phát triển của thị trƣờng,
hoặc chủ động tạo lập nên sự phát triển của thị trƣờng. Theo Michael Porter, việc hạ

nhất thời, vì các đối thủ cạnh tranh có thể dễ dàng tìm cách sở hữu nguồn lực giống
nhƣ của doanh nghiệp. Mặt khác, nếu doanh nghiệp xây dựng lợi thế cạnh tranh dựa
vào những nguồn lực vô hình (nhƣ uy tín thƣơng hiệu, nghệ thuật quản lý…) thì lợi
thế sẽ có xu hƣớng lâu bền hơn, các đối thủ khó sao chép hơn. Điều này đã đƣợc
chứng minh trong thực tế nhiều doanh nghiệp khi thay đổi ngƣời lãnh đạo đã biến
doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, trì trệ, thậm chí có nguy cơ phá sản, trở thành
doanh nghiệp năng động, hiệu quả.
II. NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA DOANH NGHIỆP.
1. Các yếu tố môi trƣờng vĩ mô
1.1. Yếu tố kinh tế.
Các yếu tố kinh tế có ảnh hƣởng rất lớn và tổng hợp đến năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp. Vì các yếu tố kinh tế thì rất phong phú và đa dạng nên sau đây
chúng ta chỉ đi sâu phân tích một số yếu tố kinh tế chính có ảnh hƣởng lớn nhất đến
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
- Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế: Nếu tốc độ này cao sẽ làm phát sinh
thêm các nhu cầu mới do thu nhập của ngƣời lao động tăng lên và dẫn đến khả năng
thanh toán đối với các hàng hoá và dịch vụ cũng tăng lên. Đây là cơ hội lớn để các
doanh nghiệp hình thành, mở rộng sản xuất và phát triển. Nhƣng đồng thời với cơ
Trƣờng Đại học Ngoại Thƣơng Khóa luận tốt
nghiệp

Lê Mai Trang Lớp
A7K42B

9
hội này thì cũng có những mối đe doạ mới, đó là xuất hiện thêm nhiều đối thủ cạnh
tranh, chi phí và tiền lƣơng sẽ tăng lên làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp.
- Tỷ lệ lạm phát: Lạm phát có thể gây xáo trộn nền kinh tế làm cho sự tăng


10
sẽ làm giảm sức ép từ các doanh nghiệp nƣớc ngoài và tạo nhiều cơ hội để tăng sản
phẩm xuất khẩu. Tuy nhiên nó cũng là mối đe dọa đối với những doanh nghiệp sử
dụng phần lớn nguyên vật liệu là ngoại nhập.
- Quan hệ giao lưu quốc tế: Những thay đổi về môi trƣờng quốc tế có thể tạo
ra cả cơ hội và nguy cơ cho việc mở rộng thị trƣờng trong nƣớc và ngoài nƣớc của
một doanh nghiệp. Đối với các nƣớc đang phát triển nhƣ Việt Nam thì mở rộng giao
lƣu quốc tế mang lại nhiều cơ hội cho doanh nghiệp nƣớc ngoài đầu tƣ vào nhƣng
cũng tạo ra sự cạnh tranh ngày càng mạnh hơn ở thị trƣờng trong nƣớc.
Nhƣ vậy, có rất nhiều vấn đề trong yếu tố kinh tế ảnh hƣởng trực tiếp hay
gián tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghịêp. Có những yếu tố là
nguy cơ, có những yếu tố là cơ hội, có những yếu tố là cơ hội đối với doanh nghiệp
này nhƣng lại là nguy cơ đối với doanh nghiệp khác. Ngoài những yếu tố nêu trên,
còn một số yếu tố kinh tế khác cần phải kể đến là: tỷ lệ thất nghiệp, chính sách tài
chính, tiền tệ, thu nhập quốc dân, thu nhập bình quân đầu ngƣời…
1.2. Yếu tố công nghệ
Nhóm yếu tố này có ý nghĩa quyết định đến môi trƣờng cạnh tranh và năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Sự phát triển của khoa học công nghệ làm xuất
hiện nhiều lĩnh vực kinh doanh mới, hoàn thiện hơn công nghệ sản xuất hiện có, đặc
biệt là trong lĩnh vực điện tử, viễn thông, tin học, xây dựng, công nghệ sinh học và
công nghiệp nói chung. Khoa học công nghệ tác động đến chi phí cá biệt của doanh
nghiệp, qua đó tạo nên sức cạnh tranh của doanh nghiệp nói chung. Đối với những
nƣớc chậm và đang phát triển, giá và chất lƣợng có ý nghĩa ngang nhau trong cạnh
tranh. Tuy nhiên, trên thế giới hiện nay đã chuyển từ cạnh tranh về giá sang cạnh
tranh về chất lƣợng, cạnh tranh giữa các sản phẩm và dịch vụ có hàm lƣợng khoa
học công nghệ cao. Chính vì vậy, việc ứng dụng khoa học công nghệ mới vào sản
xuất kinh doanh là tiền đề để các doanh nghiệp ổn định và nâng cao sức cạnh tranh
của mình. Các doanh nghiệp thƣờng phải dành số vốn nhất định cho nghiên cứu,
ứng dụng và phát triển công nghệ để hạn chế ảnh hƣởng do sự thay đổi của môi

điều chỉnh các quyết định kinh doanh. Các yếu tố này thƣờng tiến triển chậm nên
đôi khi thƣờng khó nhận biết. Cùng với sự phát triển kinh tế, sự biến động về các
yếu tố xã hội ngày càng có tác động mạnh hơn đến hoạt động của các doanh nghiệp
nhƣ: tỷ lệ sinh đẻ, sự lão hoá dân số, quy mô của gia đình… Một ví dụ cụ thể nhƣ
phong trào nâng cao sức khoẻ sẽ tạo ra cơ hội lớn cho các doanh nghiệp sản xuất
các sản phẩm đồ uống không có chất làm ngọt hay chiết xuất từ hoa quả. Đồng thời
nó lại cũng là mối đe dọa đối với các doanh nghiệp sản xuất thuốc lá, rƣợu, bia vì
Trƣờng Đại học Ngoại Thƣơng Khóa luận tốt
nghiệp

Lê Mai Trang Lớp
A7K42B

12
sản phẩm của các doanh nghiệp này có ảnh hƣởng xấu đến sức khỏe của ngƣời tiêu
dùng.
1.5. Xu hướng toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế.
Cũng giống nhƣ các yếu tố khác, xu hƣớng toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế
cũng có tác động hai mặt đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Xu
hƣớng toàn cầu hoá mở ra rất nhiều cơ hội nhƣng đồng thời cũng đƣa đến cho
doanh nghiệp không ít nguy cơ và mối đe dọa. Toàn cầu hoá sẽ giúp mở rộng thị
trƣờng hoạt động của doanh nghiệp, xoá bỏ các rào cản kinh tế, giúp doanh nghiệp
tiếp thu đƣợc những tiến bộ khoa học công nghệ một cách nhanh chóng nhƣng đồng
thời nó cũng tạo ra áp lực cạnh tranh mạnh mẽ hơn do sức ép từ các đối thủ tiềm ẩn
cùng ngành ngày càng tăng, và sức ép của các doanh nghiệp nƣớc ngoài thâm nhập
vào thị trƣờng nội địa cũng tăng. Chính vì vậy, các doanh nghiệp trong nƣớc phải
nhận thức rõ toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế là một xu thế không thể đảo ngƣợc. Họ
buộc phải nâng cao sức cạnh tranh, phải nhanh chóng nắm lấy cơ hội do quá trình
này tạo ra nhƣng đồng thời phải có biện pháp để đẩy lùi và hạn chế nguy cơ, thách
thức.


(Nguồn: Chiến lược cạnh tranh của M. Porter (năm 1996), Nhà xuất bản Khoa học
Xã hội, Hà Nội.)
2.1. Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hoạt động trong ngành
Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hoạt động trong ngành là yếu tố quan
trọng tạo ra cơ hội hoặc mối đe doạ cho các doanh nghiệp. Nếu sự cạnh tranh này là
Sự đe doạ của những
đối thủ tiềm ẩn
Cạnh tranh của các
đối thủ đang hoạt
động trong ngành
Sự đe doạ của các sản
phẩm thay thế
Sức
ép của
ngƣời
cung
ứng
Sức
ép của
khách
hàng
Trƣờng Đại học Ngoại Thƣơng Khóa luận tốt
nghiệp

Lê Mai Trang Lớp
A7K42B

14
yếu, các doanh nghiệp sẽ có cơ hội để nâng giá, mở rộng hoạt động sản xuất kinh


Lê Mai Trang Lớp
A7K42B

15
làm cho cạnh tranh trở nên gay gắt và quyết liệt hơn. Một số trở ngại chủ yếu là:
máy móc thiết bị khó có thể sử dụng vào ngành khác nên muốn ra khỏi ngành doanh
nghiệp buộc phải bán toàn bộ tài sản này, chi phí cố định lớn, sự gắn bó về tình cảm
đối với ngành…
2.2. Khả năng cạnh tranh của đối thủ tiềm ẩn
Đối thủ tiềm ẩn là những đối thủ mới tham gia vào ngành hoặc hiện không ở
trong ngành nhƣng có khả năng nhảy vào hoạt động kinh doanh trong ngành. Đối
thủ mới tham gia vào ngành có thể là yếu tố làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp
do họ đƣa vào khai thác các năng lực sản xuất mới với mong muốn giành đƣợc một
phần thị trƣờng. Do vậy, những doanh nghiệp đang hoạt động tìm mọi cách để hạn
chế các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn nhảy vào lĩnh vực kinh doanh của họ. Doanh
nghiệp phải biết đƣợc đối thủ nào mới xuất hiện. Nó có bị cản trở xâm nhập thị
trƣờng từ phía các đối thủ khác không? Có thể làm gì để cản trở đối thủ này? Cƣờng
độ cạnh tranh đặc trƣng bởi số lƣợng đối thủ cạnh tranh và tỷ trọng đối thủ ngang
sức chiếm bao nhiêu trong số đó? Các đối thủ ngang sức có những điểm nào mạnh
hơn, điểm nào yếu hơn? Đánh giá chung bằng hệ thống điểm thì doanh nghiệp đứng
vị trí thứ mấy? Làm gì để vƣơn lên vị trí trội hơn? Một loạt các câu hỏi trên, doanh
nghiệp cần phải nghiên cứu kỹ và trả lời chi tiết nếu muốn giành đƣợc lợi thế cạnh
tranh trên thị trƣờng.
Nghiên cứu về trở ngại đối với những đối thủ tiềm ẩn khi muốn xâm nhập vào
một ngành, nhà kinh tế học Joe Bain đã xác định 3 trở ngại chủ yếu là:
- Sự ưa chuộng sản phẩm: Đó chính là sự ƣa thích của ngƣời mua đối với sản
phẩm của các doanh nghiệp hiện đang hoạt động. Sự ƣa chuộng này làm giảm bớt
sự thâm nhập vào ngành của các đối thủ tiềm ẩn do để phá vỡ đƣợc “lòng trung
thành” này là khó khăn và tốn kém.

2.4. Sức ép của khách hàng
Khách hàng là danh từ chung để chỉ những ngƣời hay tổ chức mua sản phẩm
hay dịch vụ của doanh nghiệp. Khách hàng bao gồm: ngƣời tiêu dùng trực tiếp, các
trung gian phân phối (các nhà bán sỉ, bán lẻ và các đại lý), khách hàng công nghiệp,
khách hàng cơ quan. Mối tƣơng quan giữa khả năng mặc cả, trả giá của khách hàng
đối với sản phẩm của doanh nghiệp chính là mối tƣơng quan giữa khả năng mua của
khách hàng với khả năng bán của doanh nghiệp. Nếu khách hàng là ngƣời mua với
khối lƣợng lớn so với doanh thu của toàn bộ ngành, họ sẽ có quyền ép giá nhất định.
Nếu sản phẩm của doanh nghiệp cung cấp chiếm một tỷ trọng lớn và quyết định đến
Trƣờng Đại học Ngoại Thƣơng Khóa luận tốt
nghiệp

Lê Mai Trang Lớp
A7K42B

17
thu nhập, tổng chi phí của khách hàng thì họ cũng sẽ tìm cách gây sức ép đối với
doanh nghiệp để đƣợc lợi. Nếu khách hàng không bị ràng buộc và có thể chuyển
sang mua sản phẩm của các doanh nghiệp khác với giá rẻ hơn một cách dễ dàng khi
đó các doanh nghiệp trong ngành tìm cách đối phó với nhau và buộc phải giảm giá
hàng loạt. Nếu khách hàng có thu nhập thấp thƣờng tạo áp lực buộc các doanh
nghiệp sản xuất cung cấp với giá rẻ hơn. Khách hàng càng có đủ thông tin về nhu
cầu, về giá cả trên thị trƣờng thì họ càng có khả năng ép giá đối với doanh nghiệp.
2.5. Sức ép của người cung cấp
Nhà cung cấp là chỉ những cá nhân hay tổ chức cung ứng các loại yếu tố đầu
vào cho doanh nghiệp nhƣ: nguyên liệu, vật liệu, bán thành phẩm, lao động, máy
móc thiết bị kỹ thuật, tiền vốn Giữa các nhà cung cấp và doanh nghiệp thƣờng
diễn ra các cuộc thƣơng lƣợng về giá cả, chất lƣợng và thời hạn giao hàng. Khả
năng thƣơng lƣợng về giá cả của các nhà cung cấp tùy thuộc vào mức lãi gộp và
chất lƣợng hàng hóa (dịch vụ) mà họ dự định cung ứng cho doanh nghiệp. Các nhà

Một công ty hoạt động có lãi khi doanh thu của họ lớn hơn chi phí tiến hành hoạt
động tạo ra giá trị. Để có lợi thế cạnh tranh công ty phải thực hiện các hoạt động tạo
ra giá trị với chi phí thấp hơn các đối thủ của nó, hoặc tiêu thụ sản phẩm với giá cao
hơn bằng cách tạo ra sự khác biệt của sản phẩm. Quá trình tạo ra sản phẩm đƣợc trình
bày dƣới dạng chuỗi giá trị theo cách mô tả của giáo sƣ Michael Porter (trƣờng quản
trị kinh doanh Harvard).
Các đối thủ
cạnh tranh tiềm
ẩn

Chính
trị

Kinh tế
Các công ty
trong ngành
Sức ép
từ khách
hàng
Sức ép
từ nhà
cung cấp
Sản phẩm thay thế
Xã hội
Công
nghệ
Môi trƣờng vĩ mô
Trƣờng Đại học Ngoại Thƣơng Khóa luận tốt
nghiệp


3.1.2. Marketing, bán hàng và dịch vụ
Marketing là một quá trình xác định, dự báo, thiết lập và thỏa mãn các nhu
cầu mong muốn của ngƣời tiêu dùng đối với sản phẩm hay dịch vụ. Việc phân tích
hoạt động Marketing thƣờng bao gồm các nội dung: phân tích khách hàng, nghiên
Cơ sở hạ tầng
Hệ thống thông tin
Nguồn nhân lực
Nghiên cứu-phát triển
Tài chính
Hoạt
động
bổ
trợ
Giá
trị
Các hoạt động chính
Cung
ứng
bên
ngoài
Sản
xuất
Cung
ứng nội
bộ
Marketing
và bán hàng
Dịch
vụ
Trƣờng Đại học Ngoại Thƣơng Khóa luận tốt

Lê Mai Trang Lớp
A7K42B

21
3.2. Các hoạt động bổ trợ
3.2.1. Quản lý nguyên vật liệu
Chức năng quản lý nguyên vật liệu đƣợc coi là phƣơng pháp quản lý khoa
học, nó đang trở thành một hoạt động ngày càng quan trọng ở nhiều công ty do nó
có thể giúp công ty giảm đƣợc chi phí so với đối thủ cạnh tranh. Đối với một số
doanh nghiệp vừa và nhỏ, hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, chi phí về nguyên vật
liệu và vận chuyển thƣờng chiếm tới gần 60% trong doanh thu tiêu thụ hàng hoá.
Do vậy quản lý nguyên vật liệu một cách hiệu quả có thể giảm lƣợng tiền mặt nằm
trong dự trữ để tăng đầu tƣ vào máy móc thiết bị.
3.2.2. Tài chính
Bất cứ một doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển đều cần có nguồn
vốn, mà trƣớc hết là nguồn vốn tài chính. Nguồn tài chính của doanh nghiệp có thể
huy động bằng nhiều hình thức: nguồn tự có, nguồn vốn vay, ngân sách cấp, trợ cấp,
biếu tặng… Nguồn tài chính có ý nghĩa quyết định giúp doanh nghiệp chớp cơ hội
đầu tƣ, mở rộng quy mô sản xuất, tận dụng lợi thế về quy mô và vƣợt lên trƣớc đối
thủ cạnh tranh.
Tuy nhiên, năng lực tài chính của doanh nghiệp không chỉ thể hiện ở quy
mô vốn kinh doanh. Có những doanh nghiệp quy mô vốn lớn nhƣng không mạnh,
đó là do cơ cấu tài sản, nguồn vốn không phù hợp với quy mô và đặc thù sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp, doanh nghiệp chƣa biết cách khai thác và sử dụng
hiệu quả nguồn lực tài chính của mình, không tránh đƣợc nguy cơ nợ đọng trong
thanh toán. Ngƣợc lại, có những doanh nghiệp quy mô nhỏ nhƣng vẫn đƣợc coi là
mạnh vì doanh nghiệp đã duy trì tình trạng tài chính tốt, biết cách huy động những
nguồn tài chính thích hợp để sản xuất - kinh doanh những sản phẩm có sức cạnh
tranh phục vụ tốt thị trƣờng mục tiêu.
3.2.3. Nghiên cứu và phát triển

cấp cơ sở cho tất cả các quyết định quản trị, vì thế nó có thể tạo nên những lợi thế
cạnh tranh chủ yếu. Có rất nhiều cách để có thông tin nhƣ: điều tra (điện thoại,
phỏng vấn), số liệu thống kê, Internet, thu thập không chính thức… Tuy nhiên ngày
nay do sự giảm mạnh trong chi phí của công nghệ tin học, thông tin liên lạc cho
phép sử dụng hệ thống máy tính vốn chỉ sử dụng trong văn phòng nay đƣợc dùng
Trƣờng Đại học Ngoại Thƣơng Khóa luận tốt
nghiệp

Lê Mai Trang Lớp
A7K42B

23
trong mọi hoạt động, sử dụng hệ thống này giúp cho doanh nghiệp có đƣợc thông
tin nhanh, kịp thời và tƣơng đối chính xác. Một hệ thống thông tin hữu hiệu cũng
giống nhƣ một thƣ viện thu thập, phân loại và lƣu trữ dữ liệu. Đây là nguồn chiến
lƣợc quan trọng, theo dõi các thay đổi của môi trƣờng, nhận ra các mối đe dọa trong
cạnh tranh và hỗ trợ cho việc thực hiện đánh giá, kiểm soát chiến lƣợc.
3.2.6. Cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng bao gồm các bộ phận: kế hoạch, tài chính kế toán, pháp lý…
Nó tạo điều kiện cho các chức năng cơ bản và các chức năng bổ trợ khác hoạt động.
Tầm quan trọng của chức năng này là nền tảng để các hoạt động khác đƣợc diễn ra
thông suốt và vai trò của kế hoạch đã đƣợc G.A Steiner đánh giá là: “Không có
công ty nào kiếm đƣợc một xu lợi nhuận khi lập kế hoạch, nhƣng lợi nhuận sẽ đến
từ việc thực hiện các kế hoạch”[21].
III. CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH
NGHIỆP
1. Nhóm chỉ tiêu định lƣợng.
Là nhóm chỉ tiêu có thể cân đo đong đếm bằng số lƣợng cụ thể. Nó bao gồm
một số chỉ tiêu sau:
1.1. Doanh số bán:

càng lớn, lợi nhuận càng nhiều và khă năng cạnh tranh của doanh nghiệp càng lớn.
+ Nếu bán hàng theo hình thức bán chịu nhiều thì khả năng thu hồi vốn
chậm, đôi khi còn gặp rủi ro trong việc thu hồi vốn, khi đó thị phần lớn chƣa hẳn đã
tốt, có lúc còn gây khó khăn cho doanh nghiệp.
Thƣờng có các loại thị phần sau:
+ Thị phần tương đối: Là tỷ lệ so sánh về doanh số của doanh nghiệp với
doanh số của đối thủ cạnh tranh mạnh nhất. Nó cho biết vị thế của sản phẩm trong
cạnh tranh trên thị trƣờng là nhƣ thế nào, thông qua sự biến động của các chỉ tiêu
mà doanh nghiệp biết mình đang ở vị trí nào, từ đó vạch ra chiến lƣợc cạnh tranh
hợp lý.
+ Thị phần của doanh nghiệp trong phân đoạn mà doanh nghiệp phục vụ: Là
tỷ lệ phần trăm doanh số của doanh nghiệp so với doanh số của phân đoạn thị
trƣờng đó.
+ Thị phần của doanh nghiệp so với toàn bộ thị trường: Là tỷ lệ phần trăm
doanh số của doanh nghiệp so với doanh số của toàn ngành.

Trích đoạn NHỮNG KIẾN NGHỊ VỚI NHÀ NƢỚC
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status