Nhà nước pháp quyền (NNPQ) là một vấn đề được sự quan tâm đặc
biệt của nhiều nhà nghiên cứu. Họ đã tiếp cận vấn đề ở nhiều góc độ khác
nhau do đó đã có những cách hiểu khác nhau về nhà nước pháp quyền.
Qua nghiên cứu sự hình thành, phát triển và các quan điểm lý luận về
nhà nước pháp quyền hiện nay, chúng ta có thể xác định, nhà nước pháp
quyền là nhà nước xây dựng nền pháp luật để quản lí xã hội và đặt mình
dưới pháp luật. Mỗi cơ quan nhà nước đều phải được tổ chức và chỉ được
phép hoạt động trong khuôn khổ nhất định của pháp luật. Trong đó phương
thức tổ chức, xây dựng và vận hành bộ máy nhà nước do pháp luật quy định
và thừa nhận tính tối cao của pháp luật; bao hàm việc xác định rõ ràng quyền
lập pháp, hành pháp và tư pháp, với hệ thống pháp luật đầy đủ, rõ ràng, minh
bạch, thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân để điều chỉnh những quan
hệ pháp luật phát sinh trong xã hội, nhất là việc bảo đảm quyền và lợi ích
hợp pháp cơ bản của công dân (hoặc con người nói chung).
Hòa chung vào dòng chảy của lịch sử nhân loại, Việt Nam đã trải qua
các hình thái xã hội: CXNT->XHPK, Bỏ qua giai đoạn TBCN tiến lên xây
dựng XHCN. Các mô hình xã hội này hình thành dựa trên các điều kiện kinh
tế, xã hội phù hợp với từng giai đoạn lịch sử.
- Từ hình thái XH ban đầu là CXNT thì Nhà nước lúc này chưa hình
thành, con người sống theo bầy đàn, sống chủ yếu bằng săn bắt hái lượm.
cuộc sống hoàn toàn phụ thuộc vào thiên nhiên, chưa xuất hiện của tư hữu,
cuộc sống vẫn đảm bảo tính công bằng, dân chủ.
- Chuyển sang mô hình NNPK, mô hình nhà nước đầu tiên ở Việt
Nam, với cơ chế tập quyền Vua là ngưới đứng đầu nhà nước, có quyền tối
cao. Pháp luật được nhà nước lập nên để bảo vệ quyền lợi cho những kẻ cầm
quyền, pháp luật được sử dụng như một công cụ cai trị mà tất cả mọi người
phải tuân thủ. Với mô hình nhà nước này cuộc sống của người dân vô cùng
cơ cực, lầm than. Họ sống mà không hề biết đến “nhân quyền”- những
quyền mà con người được hưởng .
- Đến khi mô hình nhà nước XHCN xuất hiện, đây là mô hình nhà
nước tiến bộ trên thế giới. Trải qua các kì Hiến pháp 1946, 1959, 1980 và
1 - Quá trình nhận thức của Đảng ta về Nhà nước pháp quyền
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc cũng như
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Đảng ta luôn quan tâm lãnh đạo việc
củng cố, từng bước hoàn thiện bộ máy nhà nước và tăng cường pháp chế xã
hội chủ nghĩa. Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng nền kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý
của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta hết sức coi trọng
việc cải cách bộ máy nhà nước, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật
phù hợp với điều kiện mới. Đặc biệt, tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa
nhiệm kỳ khóa VII (1994), Đảng ta đã khẳng định phương hướng xây dựng
Nhà nước pháp quyền Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Phương hướng đó được cụ thể hóa một bước tại Hội nghị Ban Chấp hành
Trung ương lần thứ tám, khóa VII đầu năm 1995. Tại Hội nghị này, 5 quan
điểm cơ bản để tiến hành cải cách bộ máy nhà nước theo định hướng xây
dựng Nhà nước pháp quyền được xác định. Tiếp đến, tại Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ VIII, Đảng ta một lần nữa khẳng định 5 quan điểm cơ bản
nêu trên. Đó là:
- Xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân; lấy
liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm
nền tảng, do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của
nhân dân, giữ nghiêm kỷ cương xã hội, chuyên chính với mọi hoạt động xâm
phạm lợi ích của Tổ quốc và nhân dân.
- Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa
các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp,
tư pháp.
- Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động
của Nhà nước.
- Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp
quyền Việt Nam. Quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo
dục, nâng cao đạo đức.
Bốn là: Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công
dân; nâng cao trách nhiệm pháp lý giữa Nhà nước và công dân, thực hành
dân chủ, đồng thời tăng cường kỷ cương, kỷ luật.
Năm là: Nhà nước tôn trọng và thực hiện đầy đủ các điều ước quốc tế
mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Sáu là: Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, sự giám sát của nhân dân và sự phản
biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của
Mặt trận.
Như vậy, xuất phát từ bản chất của chế độ, điều kiện, hoàn cảnh lịch
sử cụ thể, ngoài việc đáp ứng các yêu cầu, đặc điểm cơ bản của Nhà nước
pháp quyền nói chung thì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
còn có những đặc trưng riêng thể hiện rõ nét bản chất của Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa. Đó là:
- Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước mà ở
đó quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch và phối
hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp,
hành pháp, tư pháp; không tam quyền phân lập; mọi cách thức tổ chức và
hoạt động của Nhà nước đều có mục đích chung là vì lợi ích xã hội, lợi ích
quốc gia, dân tộc và lấy việc phục vụ nhân dân làm mục đích duy nhất và tối
cao.
- Việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam được thực hiện trong điều kiện một đảng cầm quyền duy nhất là
Đảng Cộng sản Việt Nam.
3 - Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, việc tiếp tục
xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam cần tập trung
vào một số việc sau đây:
1 - Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong điều