Tiểu luận cao học đường lối trị nước của phái pháp gia vận dụng tư tưởng trị nước của pháp gia vào việc xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa việt nam hiện nay - Pdf 35

LỜI NÓI ĐẦU
Trong lịch sử Trung Quốc cổ đại, vào cuối thời chiến quốc, quá trình
phát triển kinh tế - xã hội mạnh mẽ cùng với sự phân hoá giai cấp ngày càng
sâu sắc, đã cho ra đời một tầng lớp mới là địa chủ và thương nhân, họ là lực
lượng nắm giữ, chi phối nền kinh tế đất nước. Nhưng quyền lực chính trị đang
trong tay tầng lớp quý tộc cũ và đang trở thành vật cản của phát triển xã hội.
Pháp gia ra đời đã đáp ứng được yêu cầu trên. Tư tưởng pháp gia được áp dụng
thành công và đưa nước Tần trở thành bá chủ thống nhất Trung Quốc vào năm
221 trước Công nguyên.
Học thuyết pháp trị của phái Pháp gia hình thành và phát triển bởi các
nhà tư tưởng như: Quản Trọng, Thận Đáo, Thân Bất Hại, Thương Ưởng và
được hoàn thiện bởi đại biểu xuất sắc là Hàn Phi Tử. Nội dung cơ bản của tư
tưởng Pháp gia là đề cao vai trò của Pháp luật và chủ trương dùng pháp luật hà
khắc để trị nước. Qua việc sử dụng "Pháp", "Thuật" và "Thế" trong đường lối
pháp trị có một vai trò đặc biệt trong sự nghiệp thống nhất đất nước và phát
triển xã hội cuối thời Xuân Thu - Chiến Quốc. Tư tưởng Pháp gia mặc dù chỉ
nổi lên trong một thời gian ngắn nhưng vẫn có giá trị lịch sử lâu dài và có ý
nghĩa đến tận ngày nay. Để hiểu một cách tương đối có hệ thống về đường lối
trị nước của phái Pháp gia chúng ta cần phải tìm hiểu tư tưởng cơ bản của các
nhà pháp trị đã nêu trên cũng như những những luận chứng khá thuyết phục về
sự cần thiết của đường lối Pháp trị.
Với tiểu luận học phần chính trị học nâng cao, học viên mạnh dạn tự
nghiên cứu, tìm hiểu cho chính bản thân mình và có thể chia sẻ một phần kiến
thức cho những học viên, đồng nghiệp muốn tìm hiểu về đường lối trị nước
của phái Pháp gia. Đồng thời vận dụng tư tưởng trị nước của pháp gia vào việc
xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện
nay./.


2


liêm... trong phép trị nước. Như vậy có thể thấy rằng Quản Trọng chính là thủy
tổ của Pháp gia, đồng thời ông cũng là cầu nối Nho gia với Pháp gia.
1.1.2. Thân Bất Hại (401-337 TCN), Ông là người nước Trịnh chuyên
học về hình danh, làm quan đến bậc tướng quốc. Thân Bất Hại đưa ra chủ
trương ly khai "Đạo đức" chống "Lễ" và đề cao "Thuật" trong phép trị nước.
Thân Bất Hại cho rằng "thuật" là cái "bí hiểm" của vua, theo đó nhà vua không
được lộ ra cho kẻ bề tôi biết là vua sáng suốt hay không, biết nhiều hay biết ít,
yêu hay ghét mình... bởi điều đó sẽ khiến bề tôi không thể đề phòng, nói dối và
lừa gạt nhà vua.
1.1.3. Thận Đáo (370-290 TCN), Ông là người nước Triệu và chịu
ảnh hưởng một số tư tưởng triết học về đạo của Lão Tử, nhưng về chính trị
ông lại đề xướng đường lối trị nước bằng pháp luật. Thận Đáo cho rằng Pháp
luật phải khách quan như vật "vô vi" và điều đó loại trừ thiên kiến chủ quan,
riêng tư của người cầm quyền. Phải nói rằng đây là một tư tưởng khá tiến bộ
mà sau này Hàn Phi Tử đã tiếp thu và hoàn thiện. Trong phép trị nước, đặc
biệt Thận Đáo đề cao vai trò của "Thế". Ông cho rằng: Người hiền mà chịu
khuất kẻ bất tiếu là vì quyền thế nhẹ, địa vị thấp: kẻ bất tiếu mà phục được
người hiền vì quyền trọng vị cao. Nghiêu hồi còn làm dân thường thì
không trị được ba người mà Kiệt khi làm thiên tử có thể làm loạn cả thiên
hạ, do đó biết rằng quyền thế và địa vị đủ để nhờ cậy được mà bậc hiền, trí
không đủ cho ta hâm mộ. Cây ná yếu mà bắn được mũi tên lên cao là nhờ sức
gió đưa đi, kẻ bất tiếu mà lệnh ban ra được thi hành là nhờ sức giúp đỡ của
quần chúng, do đó mà xét thì hiền và trí không đủ cho đám đông phục tùng,
mà quyền thế và địa vị đủ khuất phục được người hiền.
1.1.4. Thương Ưởng: Ông đã hai lần giúp vua Tần cải cách pháp luật
hành chính và kinh tế làm cho nước Tần trở nên hùng mạnh. Trong phép trị
nước Thương Ưởng đề cao "pháp" theo nguyên tắc "Dĩ hình khử hình" (dùng
hình phạt để trừ bỏ hình phạm). Theo ông pháp luật phải nghiêm và ban bố
cho dân ai cũng biết, kẻ trên người dưới đều phải thi hành, ai có tội thì phạt và


ràng ở nơi cửa công, hình phạt chắc chắn đối với lòng dân, thưởng cho những
kẻ cẩn thận giữ pháp luật, nhưng phạt những kẻ làm trái lệnh. Đây là một tư


5
tưởng hết sức tiến bộ so với đương thời, nội dung chủ yếu của “pháp” có thể
quy về hai khái niệm chủ yếu là “thưởng” và “phạt”.
Hàn Phi cho rằng, xây dựng pháp luật (lập pháp) cần phải xét đến các
nguyên tắc sau: Tính tư lợi; Hợp với thời thế; Ổn định, thống nhất; Phù hợp
với tình người, dễ biết dễ làm; Đơn giản mà đầy đủ; Thưởng hậu phạt nặng.
Đối với việc chấp pháp, nguyên tắc của Hàn Phi Tử là tăng cường giáo dục
pháp chế, tức là “dĩ pháp vi giáo”; Mọi người, đều bình đẳng trước pháp luật,
tức “pháp bất a quý”, “hình bất tị đại thần, thưởng thiện bất di tứ phu”. Đến
bản thân bậc quân chủ – nhà vua cũng phải tôn trọng và tuân thủ pháp luật: Kẻ
làm vua chúa là kẻ phải giữ pháp luật, căn cứ vào kết quả mà xét để lập công
lao; Nếu nhà vua biết bỏ điều riêng tư, làm theo phép công thì chẳng những
dân sẽ được yên, mà nước cũng được trị. Nếu xét theo ý nghĩa của những luận
điểm này thì có thể thấy rằng, mặc dù Hàn Phi chủ trương quân quyền thần
thánh không thể xâm phạm, song hình thái quân quyền này vẫn bị chế ước bởi
pháp quyền; Nghiêm khắc cẩn thận, “tín thưởng tất phạt”, không được tùy ý
thưởng cho người không có công, vô cớ sát hại người vô tội; Dùng sức mạnh
đạo đức hỗ trợ cho việc thi hành pháp luật.
Hàn Phi Tử chủ trương dùng pháp trị, song cũng rất chú trọng đến
“thuật” cai trị của người làm vua, để kiểm tra, giám sát bầy tôi, bởi vì “bầy tôi
đối với nhà vua không phải có tình thân cốt nhục, chỉ vì bị tình thế buộc không
thể không thờ”. Nhà vua dựa vào pháp trị để làm cho đất nước giàu mạnh,
song nếu “không có cái thuật để biết kẻ gian thì chỉ lấy cái giàu mạnh của nước
mà làm giàu có cho các quan đại thần mà thôi”. Do vậy, nhà vua phải có
“thuật” để dùng người. Đối với Hàn Phi Tử, “thuật” chính là một loạt các
phương pháp bổ nhiệm, miễn nhiệm, thi cử, thưởng phạt của nhà vua. Trong

trong đó "Pháp" là trung tâm, "Thuật và "Thế" là những điều kiện tất yếu trong
việc thi hành pháp luật. Pháp luật phải vì lẽ phải và phải phục vụ lợi ích chung
"việc phạt tội không loại trừ bậc đại thần, việc thưởng công không bỏ sót công
kẻ thất phu" (hình quá bất tị đại thần, thưởng thiện bất di tứ phu).
Hàn Phi Tử phê phán mạnh mẽ lý thuyết chính trị của Nho gia, ông cho
rằng cách cai trị dựa trên nhân đức của nhà cầm quyền dưới các tên gọi như
“nhân trị”, đức trị” hay “lễ trị”, lý tưởng chính trị Nghiêu, Thuấn là trái với


7
thực tế và nếu áp dụng quan niệm đó sẽ làm hỏng pháp độ, dẫn đến loạn đất
nước.
Ngoài các nội dung "Pháp", "Thuật", "Thế" đã nêu ở trên, tư tưởng
Pháp gia còn hết sức coi trọng việc xây dựng quân đội hùng mạnh đủ sức đè
bẹp và thôn tính các nước khác. Pháp gia cũng rất chú trọng phát triển nông
nghiệp, tích trữ lương thực và của cải làm cho đời sống của xã hội no đủ.
Tư tưởng pháp trị đã hình thành khá sớm trong lịch sử tư tưởng Trung
Quốc cổ đại với Quản Trọng là người khởi xướng. Sự nghiệp thống nhất và
phát triển đất nước của Trung Quốc lúc bấy giờ đòi hỏi tư tưởng pháp trị phải
phát triển lên một trình độ mới trong đó tư tưởng về "Pháp", "Thuật", "Thế"
vừa được phát triển hoàn thiện vừa thống nhất với nhau trong một học thuyết
duy nhất. Hàn Phi Tử đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ lịch sử đó. Tư tưởng
chủ đạo của pháp gia là muốn trị nước, yên dân phải lấy pháp luật làm trọng
và nếu dùng pháp trị thì xã hội có phức tạp bao nhiêu, nước có đông dân bao
nhiêu thì vẫn "trị quốc bình thiên hạ" được. Học thuyết chính trị của Pháp gia
đã được vương quốc Tần ra sức vận dụng và kết cục đã đưa nước Tần đến
thành công trong việc kết thúc cục diện phân tán cát cứ, thống nhất được đất
nước Trung Hoa sau những năm dài chiến tranh khốc liệt.
Như vậy, những tư tưởng về pháp trị của pháp gia đã có những đóng
góp to lớn cho sự phát triển của tư tưởng Trung Quốc cổ đại và nhất là cho sự

cấp; Người đề nghị Chính phủ lâm thời "tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng
tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu...", để nhân dân tự do lựa chọn những
người có tài, có đức để gánh vác công việc nước nhà. Đó là Nhà nước thực
hiện chức năng chuyên chính vô sản nhằm bảo vệ thành quả cách mạng và xây
dựng thành công CNXH ở Việt Nam. Nhà nước pháp quyền XHCN phải là
một nhà nước được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ của hiến pháp và
pháp luật, thể hiện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân. Từ năm 1919, tại
điều 7 trong 8 Yêu sách của nhân dân An Nam, Nguyễn Ái Quốc đã viết:
“Thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật”. Ngay từ những năm
1922, trong bài "Việt Nam yêu cầu ca" có 8 điều thì có một điều (Điều 7)
Người viết:
“Bảy xin hiến pháp ban hành
Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”


9
Theo Người: Pháp luật là phép của dân, dùng để ngăn cản những hành
động có hại cho dân, để bảo vệ lợi ích chung của đại đa số nhân dân. Chủ tịch
Hồ Chí Minh luôn luôn chủ trương đề cao việc quản lý nhà nước bằng công cụ
pháp luật. Trước khi có Hiến pháp, Người cho rằng, một xã hội không thể sống
một ngày không có pháp luật, cho nên Người đã ký Sắc lệnh giữ lại mọi luật lệ
của chế độ cũ, chỉ trừ những điều luật trái với nền độc lập, tự do. Đồng thời,
Người ký một loạt Sắc lệnh cấp bách: Sắc lệnh bảo đảm tự do cá nhân, Sắc
lệnh bãi bỏ thuế thân, Sắc lệnh tổ chức Tòa án độc lập với hành chính... Đó là
nền tảng trước mắt và lâu dài cho một nhà nước pháp quyền. Tư tưởng pháp
quyền của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện trong hoạt động của Chính phủ, của
các cấp chính quyền, của các tổ chức, Người đòi hỏi tất cả mọi tổ chức và cá
nhân phải chấp hành pháp luật, không ai được đứng trên, đứng ngoài pháp luật.
Trong điều kiện có chính quyền người đặc biệt quan tâm, nhắc nhở đội ngũ cán
bộ công chức: Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục

quyền vẫn được thể hiện. Đó là, nhà nước - công cụ thực hiện quyền làm chủ
của nhân dân. Cụm từ “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” lần đầu tiên
được sử dụng tại Hội nghị Trung ương 2 khóa VII (11- 1991). Đến Hội nghị
giữa nhiệm kỳ, khóa VII (Tháng 1/1994) Đảng ta chính thức dùng khái niệm
"nhà nước pháp quyền XHCN". Những nội dung đặc trưng của nhà nước pháp
quyền XHCN Việt Nam từng bước được làm rõ và khẳng định. Những đặc
trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam được xác định ở
những nội dung chủ yếu sau: Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân
dân trong đó nền tảng là khối đại đoàn kết toàn dân tộc với nòng cốt là liên
minh giữa giai cấp công nhân với nông dân và tầng lớp trí thức; Nhà nước hợp
hiến, quản lý và điều hành xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục,
nâng cao đạo đức và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa; quyền lực nhà
nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước
trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; Nhà nước được
tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ; Nhà nước do Đảng
Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
Trong quá trình nhận thức ngày càng rõ hơn vị trí, vai trò của pháp luật,
Đảng ta đã sử dụng khái niệm “nhà nước pháp quyền” và từng bước xác định
rõ ràng, cụ thể những yêu cầu, đặc trưng phù hợp với các đặc điểm về chính


11
trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của nước ta, nhất là những đặc điểm đó được đặt
trong bối cảnh của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Từ chỗ sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau như: “Nhà nước cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam”; “Nhà nước của dân, do dân, vì dân”; “Nhà nước pháp
quyền Việt Nam”; “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”; “Nhà nước pháp
quyền của dân, do dân, vì dân” ... đến nay, trong các văn kiện chính thức của
Đảng đã thống nhất sử dụng khái niệm “Nhà nước pháp quyền XHCN Việt
Nam”.

nhân dân và hoạt động của doanh nghiệp, bước đầu đạt được một số kết quả.
Cải cách tư pháp được đẩy mạnh. Tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư
pháp được đổi mới. Tổ chức bộ máy chính quyền địa phương các cấp được
củng cố, kiện toàn, chất lượng, hiệu quả hoạt động từng bước được nâng lên.
Việc đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức được
quan tâm...
Tuy nhiên, công tác xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN chưa theo
kịp yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và quản lý đất nước. Năng lực xây dựng
thể chế còn hạn chế, hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách chưa đồng bộ,
thống nhất. Công tác điều hành, tổ chức thực thi pháp luật có những mặt còn
yếu. Tổ chức bộ máy ở một số cơ quan nhà nước còn chưa hợp lý, chức năng,
nhiệm vụ của một số cơ quan chưa đủ rõ, còn chồng chéo. Chất lượng đội ngũ
cán bộ, công chức chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới của đất
nước. Cải cách hành chính chưa đạt yêu cầu đề ra, còn nhiều thủ tục hành
chính gây phiền hà cho tổ chức và công dân. Hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà
nước trên một số lĩnh vực còn yếu. Cải cách tư pháp còn chậm, chưa đồng bộ.
Công tác điều tra, giam giữ, truy tố, xét xử trong một số trường hợp chưa chính
xác, tình trạng án tồn đọng, án bị hủy còn nhiều. Công tác phòng, chống tham
nhũng, lãng phí chưa đạt được yêu cầu đề ra. Quan liêu, tham nhũng, lãng phí
vẫn còn nghiêm trọng, chưa được ngăn chặn, đẩy lùi. Sự nghiệp đổi mới, xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc của đất nước ta trong thời kỳ mới đòi hỏi phải tiếp tục
đẩy mạnh, thực hiện tốt hơn, có hiệu quả hơn nhiệm vụ xây dựng nhà nước
pháp quyền XHCN.
Qua các kỳ đại hội, đến Đại hội XI Đảng ta tiếp tục khẳng định các quan
điểm về xây dựng “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của nhân dân, do


13
nhân dân, vì nhân dân do Đảng cộng sản lãnh đạo”. Đây là một bước tiến dài
trên con đường nhận thức về nhà nước pháp quyền ở nước ta.

14
Nhà nước ta thật sự là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; nhà nước
phải chăm lo, phục vụ nhân dân, bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng của mọi
người dân.
2.2. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN
theo tinh thần nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI (thể hiện trong Chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội và Báo cáo Chính trị) tập trung vào 3 vấn
đề lớn sau:
Thứ nhất, Tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước.
Ðổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, bảo đảm để Quốc hội thật sự là cơ
quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất.
Nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội. Cải tiến, nâng cao chất lượng các kỳ
họp của Quốc hội, hoạt động của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân
tộc và các Ủy ban của Quốc hội; nhất là cải tiến, nâng cao chất lượng xây dựng
pháp luật, quyết định và giám sát các vấn đề quan trọng của đất nước. Tiếp tục
đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ theo hướng xây dựng nền hành
chính thống nhất, thông suốt, trong sạch, vững mạnh, tổ chức tinh gọn, hợp lý;
xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, tổ chức bộ máy của
các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan của Chính phủ; thực hiện phân cấp hợp lý
cho chính quyền địa phương, đồng thời nâng cao chất lượng quy hoạch và tăng
cường thanh tra, kiểm tra, giám sát của Trung ương; đẩy mạnh cải cách hành
chính, bãi bỏ các thủ tục hành chính gây phiền hà cho tổ chức và công dân.
Ðẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp, xây dựng hệ thống tư
pháp trong sạch, vững mạnh. Hoàn chỉnh chính sách, pháp luật về hình sự, dân
sự, thủ tục tố tụng tư pháp. Ðổi mới tổ chức, nâng cao chất lượng hoạt động
của hệ thống tòa án, viện kiểm sát, cơ quan điều tra, các tổ chức bổ trợ tư
pháp... Tiếp tục đổi mới tổ chức, nâng cao chất lượng hoạt động của chính
quyền địa phương, hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân các cấp; tiếp tục thực
hiện thí điểm chủ trương không tổ chức hội đồng nhân dân quận, huyện,
phường; nghiên cứu tổ chức chính quyền đô thị, hải đảo.

nước thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, do Đảng lãnh đạo;
thực hiện tốt chức năng quản lý kinh tế và đời sống xã hội; giải quyết đúng
mối quan hệ giữa nhà nước với các tổ chức khác trong hệ thống chính trị, với


16
nhân dân, với thị trường. Nâng cao năng lực quản lý và điều hành của nhà
nước theo pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và kỷ luật, kỷ
cương. Nhà nước chăm lo, phục vụ nhân dân, bảo đảm quyền, lợi ích chính
đáng của mọi người dân.
Nghiên cứu xây dựng, bổ sung các thể chế và cơ chế vận hành cụ thể để
bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và nguyên
tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát
giữa các cơ quan trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp và tư
pháp. Nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý kinh tế của nhà nước phù hợp với
yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tiếp tục
hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách để vận hành có hiệu quả nền
kinh tế và thực hiện tốt các cam kết quốc tế, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc.
Nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 cho phù hợp với tình hình
mới (Trong năm 2013). Tiếp tục xây dựng, từng bước hoàn thiện cơ chế kiểm
tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các
cơ quan công quyền.
Thứ hai, tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước.
Đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, bảo đảm Quốc hội thực sự
là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao
nhất. Hoàn thiện cơ chế bầu cử đại biểu Quốc hội để cử tri lựa chọn và bầu
những người thực sự tiêu biểu vào Quốc hội. Tiếp tục phát huy dân chủ, tính
công khai, đối thoại trong thảo luận, hoạt động chất vấn tại diễn đàn Quốc hội.
Nghiên cứu xác định rõ hơn quyền hạn và trách nhiệm của Chủ tịch
nước để thực hiện đầy đủ chức năng nguyên thủ quốc gia, thay mặt Nhà nước

vụ. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cả về bản lĩnh chính trị,
phẩm chất đạo đức, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, quản lý nhà nước.
Có chính sách đãi ngộ, động viên, khuyến khích cán bộ, công chức hoàn thành
nhiệm vụ và có cơ chế loại bỏ, bãi miễn những người không hoàn thành nhiệm
vụ, vi phạm kỷ luật, mất uy tín với nhân dân. Tổng kết việc thực hiện "nhất thể
hóa" một số chức vụ lãnh đạo Đảng, nhà nước để có chủ trương phù hợp. Đây
là điểm mới so với Đại hội X.
Thứ tư, tích cực thực hành tiết kiệm, phòng ngừa và kiên quyết chống
tham nhũng, lãng phí.


18
Phòng và chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm là nhiệm vụ
vừa cấp bách, vừa lâu dài. Mọi cán bộ lãnh đạo của Đảng, nhà nước, Mặt trận
Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân từ trung ương đến cơ sở và từng đảng viên
phải gương mẫu thực hiện và trực tiếp tham gia đấu tranh phòng, chống tham
nhũng, lãng phí. Tiếp tục hoàn thiện thể chế và đẩy mạnh cải cách hành chính
phục vụ phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tập trung vào các lĩnh vực dễ xảy
ra tham nhũng, lãng phí. Nghiên cứu phân cấp, quy định rõ chức năng cho các
ngành, các cấp trong phòng, chống tham nhũng. Chú trọng các biện pháp
phòng ngừa tham nhũng, lãng phí. Thực hiện chế độ công khai, minh bạch về
kinh tế, tài chính trong các cơ quan hành chính, đơn vị cung ứng dịch vụ công,
doanh nghiệp nhà nước.
Công khai, minh bạch về cơ chế, chính sách, các dự án đầu tư, xây dựng
cơ bản, mua sắm từ ngân sách nhà nước, huy động đóng góp của nhân dân,
quản lý và sử dụng đất đai, tài sản công, công tác tiếp nhận, bổ nhiệm cán bộ.
Thực hiện có hiệu quả việc kê khai và công khai tài sản, thu nhập của cán bộ,
công chức theo quy định. Cải cách chính sách tiền lương, thu nhập, chính sách
nhà ở bảo đảm cuộc sống cho cán bộ, công chức để góp phần phòng, chống
tham nhũng. Tổng kết, đánh giá cơ chế và mô hình tổ chức cơ quan phòng,

nhưng không rõ ràng cấp nào giải quyết vấn đề gì ?. Trong thiết kế hệ thống,
cấp cơ sở, cấp dân bầu, cấp có trách nhiệm chưa quy về một mối. Cấp dưới
trong hệ thống hành chính trở thành cấp lệ thuộc khi cấp trên giao việc và trách
nhiệm, đôi khi không tương xứng. Trên thực tế, đã có nhiều chuyển biến trong
vấn đề trao quyền rộng rãi hơn cho các đô thị, nhưng chưa đồng đều. Tại các
đô thị lớn, vấn đề tự chủ tương đối về tài chính ngày càng trở nên rõ ràng và
cấp thiết. Tuy nhiên, việc phân cấp vẫn chưa đến với cấp đô thị trực thuộc tỉnh
hoặc trực thuộc huyện. Bộ máy và cách thức quản lý ở thị trấn vẫn khá giống ở
xã và ở huyện vẫn giống với thành phố, thị xã trực thuộc tỉnh. Cấp dưới cấp
tỉnh chưa được quyết định mức thu phí, lệ phí, chính sách ưu đãi. Đây vẫn còn
là vấn đề tranh luận và cân nhắc trong thiết kế mô hình chính quyền đô thị sắp
tới.
Trong xu thế cải cách, vấn đề cải cách tổ chức bộ máy chính quyền đô
thị đã và đang được nhìn nhận tích cực với chủ trương từ Trung ương cho đến
sự đồng thuận ở nhiều địa phương. Năm 2013, các địa phương sẽ góp ý cho dự


20
thảo Hiến pháp mới đều hướng đến giải quyết các vấn đề có tính cốt lõi như
hình thành quyền lực; cơ sở của trách nhiệm và bất tín nhiệm; cách thức giám
sát đối với bộ máy hành pháp ở địa phương và Trung ương. Những đề xuất và
thực hiện thí điểm mô hình hợp nhất chức danh bí thư và chủ tịch, bỏ cấp hội
đồng nhân dân trung gian, bầu trực tiếp chức danh chủ tịch UBND các xã và
thị trấn; bỏ hội đồng nhân dân quận và phường, đổi tên UBND thành ủy ban
hành chính và trao quyền bỏ phiếu bất tín nhiệm cho hội đồng nhân dân cùng
cấp...
Trong thời gian tới chúng ta cần cải cách và đổi mới cách thức tổ chức
chính quyền đô thị bằng những quan điểm và giải pháp sau:
Thứ nhất, Bỏ bớt cơ quan quyền lực cấp trung gian và cấp địa phương
để hội đồng nhân dân thực quyết và thực quyền;

nước ta hiện nay. Chúng ta phải biết vận dụng linh hoạt, sáng tạo những yếu tố
tích cực của học thuyết pháp gia về các quan điểm "Pháp", "Thuật", "Thế".
Cần phải xây dựng và sớm hoàn thiện hệ thống luật pháp, tăng cường pháp chế
XHCN; trong công tác tổ chức cần bổ nhiệm cán bộ có trình độ, năng lực và
thật sự dân chủ, khách quan thì mới tuyển chọn được người có tài vào làm việc
tại bộ máy công quyền; tăng cường vị trí, vai trò, quyền lực của thiết chế Chủ
tịch nước, đổi mới, cải cách và xây dựng chính quyền đô thị và nông thôn phù
hợp với xu thế phát triển của đất nước. Kết hợp một cách hài hoà các quan
điểm trên, trong đó cũng phải đề cao đức trị, phát triển sự nghiệp giáo dục, gắn
với xây dựng nền văn hoá Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc.


22
Xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, của mọi cấp, mọi
ngành và toàn thể nhân dân ta. Mỗi chúng ta hãy nêu cao ý chí cách mạng, tích
cực học tập, lao động sáng tạo để xây dựng nhà nước ta là nhà nước pháp
quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân thực sự trong sạch, vững
mạnh, hiệu quả, đủ năng lực quản lý, điều hành xây dựng nước ta thật sự dân
giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh./.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status