Tiểu luận cao học Môi trường và phát triển bền vững: Những khó khăn và thách thức khi thực thi vấn đề “phát triển bền vững trong nông nghiệp” ở nước ta - Pdf 31

Môn: Quản lý và sử dụng đất nông nghiệp bền vững

PHẦN MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh chung của nền kinh tế toàn cầu, những cơ hội, vận hội mới
đang mở ra ngày một nhiều hơn cho Việt Nam cũng như các nước đang phát triển
trong khu vực và trên thế giới. Đó là những cơ hội giao lưu học hỏi, tiếp cận công
nghệ, phương pháp, mở rộng thị trường...Bên cạnh đó cũng không thể phủ nhận
những thách thức lớn đang đặt ra trước mắt một nền kinh tế còn non trẻ của nước
ta mà trong đó nông nghiệp vẫn chiếm tỉ trọng 17,97% và lại là một nền nông
nghiệp manh mún và lạc hậu. Trong những năm gần đây, sản xuất nông nghiệp
Việt Nam đã đạt những tiến bộ đáng kể trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất,
góp phần không nhỏ trong tăng trưởng kinh kế cũng như nâng cao đời sống người
dân. Đó là nhờ vào chính sách quản lý hiệu quả; có tính chiến lược, quy hoạch phát
triển năng động và hợp lý của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, những thành tựu đạt
được vẫn còn mang tính khu vực, tập trung vào những vùng trọng điểm, có tiềm
năng và truyền thống sản xuất tốt.
Sản xuất nông nghiệp luôn được coi là ngành sản xuất quan trọng, có tiềm
năng lớn của nước ta. Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất chủ yếu của nền kinh
tế, cung cấp những sản phẩm thiết yếu như lương thực, thực phẩm cho con người
tồn tại. Trong bối cảnh nền kinh tế phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, sản xuất
nông nghiệp càng tỏ rõ vai trò rất quan trọng, góp phần bảo đảm an sinh xã hội và
an ninh lương thực, tăng kim ngạch xuất khẩu. Ðảng và Nhà nước đã quan tâm
nhiều tới nông nghiệp, nông dân, nông thôn, tăng mức đầu tư để khuyến khích
nông nghiệp phát triển. Cùng với sự phát triển nông nghiệp qua các nền nông
nghiệp của nhân loại thì phát triển nông nghiệp bền vững chiếm một vị trí quan
trọng nhiều khi có tính quyết định trong sự phát triển chung của toàn xã hội.
Nông nghiệp giữ vai trò giữ gìn và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi
trường. Ở bất kì nước nào, sản xuất nông nghiệp cũng gắn liền với việc sử dụng và
GVHD: TS. Lê Thanh Bồn
Học viên: Đinh Công Nhân _Cao học QLĐĐ_K20B


Bài tiểu luận xin “chứng minh những khó khăn và thách thức khi thực
thi vấn đề “ phát triển bền vững trong nông nghiệp” ở nước ta”.
GVHD: TS. Lê Thanh Bồn
Học viên: Đinh Công Nhân _Cao học QLĐĐ_K20B

-2-


Môn: Quản lý và sử dụng đất nông nghiệp bền vững

PHẦN NỘI DUNG
1. Khái niệm về phát triển nông nghiệp bền vững
Khái niệm về phát triển nông nghiệp bền vững trong sự phát triển của toàn
xã hội loài người mới chỉ hình thành rõ nét trong những năm 1990 qua các hội thảo
và xuất bản. Điều quan trọng nhất của phát triển nông nghiệp bền vững là cải thiện
chất lượng cuộc sống trong sự tiếp cận đúng đắn về môi trường, để giữ gìn tài
nguyên cơ bản nhất cho thế hệ mai sau.
Theo FAO: Nông nghiệp bền vững bao gồm quản lý có hiệu quả tài nguyên
cho nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu cuộc sống của con người, đồng thời giữ gìn
và cải tạo tài nguyên thiên nhiên môi trường và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
(FAO, 1989).

(Nguồn Internet)
2. Những khó khăn và thách thức khi phát triển nông nghiệp bền vững
Phát triển nông nghiệp bền vững là mô hình phát triển mà trong đó có sự
ràng buộc giữa tăng trưởng của nông nghiệp và tăng trưởng chung của nền kinh tế,
với môi trường tự nhiên, sự nghèo đói và môi trường con người ở nông thôn.
GVHD: TS. Lê Thanh Bồn
Học viên: Đinh Công Nhân _Cao học QLĐĐ_K20B



GVHD: TS. Lê Thanh Bồn
Học viên: Đinh Công Nhân _Cao học QLĐĐ_K20B

-4-


Môn: Quản lý và sử dụng đất nông nghiệp bền vững

Tình trạng sử dụng hóa chất tràn lan trong nông nghiệp hiện nay cũng rất
đáng báo động đẫn đến nguy cơ đất nông nghiệp bị thoái hóa, bạc màu. Trong khi
đó, các công ty trong lĩnh vực chế phẩm sinh học của ta lại rất yếu, nhiều sản phẩm
nhập từ nước ngoài về đã quá hạn sử dụng hoặc đã bị cấm sử dụng trên thế giới,
chính vì vậy mà gây khó khăn thêm cho phát triển nông nghiệp. Sử dụng quá mức
các đầu vào hóa học Nông nghiệp càng phát triển thì các đầu vào có nguồn gốc hóa
học như phân hóa học, thuốc bảo vệ thực vật, các vật tư thiết bị như nilon, chất dẻo
càng được dùng ở mức độ cao. Sự lạm dụng các loại đầu vào này đã làm giảm khả
năng vốn có của hệ sinh thái nông nghiệp, diệt trừ hết các vi sinh vật có lợi và làm
tăng nguy cơ phá hại của dịch hại nông nghiệp, ô nhiễm đất đai, nguồn nước,
không khí, tạo nên dư lượng cao về các sản phẩm hóa học tồn động trong sản phẩm
không có lợi cho sức khỏe con người. Những tiến bộ về thâm canh tăng năng suất
cây trồng đã dẫn tới tình trạng lạm dụng phân hóa học và các chất độc trừ sâu
bệnh, trừ cỏ đã làm hỏng cấu tượng và nhiễm độc chất, làm ô nhiễm môi trường và
ô nhiễm nguồn nước. Việc công nghiệp hoá nông nghiệp theo mục đích thu lợi
nhuận tối đa của các tập đoàn tư bản siêu quốc gia đã làm phá sản hàng triệu nông
dân nghèo. Theo kết quả đánh giá của Chương Trình Môi Trường của Liên hợp
quốc : 1,2 tỷ ha ( gần 11% diện tích dất trồng trọt của Thế Giới đang bị thoái hóa ở
mức trung bình hoặc trầm trọng), khoảng 950 triệu đất bị nhiễm mặn. Cuối thập kỉ
80, hàng năm có từ 17 đến 20 triệu ha rừng bị tàn phá (Brundland Report ,1987).
Cần nhận thức đúng đắn về vai trò và cách sử dụng các đầu vào có nguồn gốc hóa

và tinh thần. Mặc dù sản lượng lương thực mỗi năm lại tăng hơn 1 triệu tấn nhưng
thu nhập của nông dân thì vẫn chưa được cải thiện bao nhiêu. Cả nước còn 2,25
triệu hộ nghèo, chiếm 14,5% số hộ cả nước, trong đó 90% thuộc khu vực nông
thôn. Có 300.000 hộ còn thiếu đói thường xuyên và 400.000 hộ sống du canh, du
cư. Chênh lệch mức sống dân cư giữa thành thị và nông thôn ngày càng dãn rộng.
Hiện nay, độ dãn này cách nhau khoảng 5 lần.
Điều đáng lo ngại nhất là nguồn lao động nông nghiệp tuy dồi dào nhưng
lao động qua đào tạo chỉ chiếm 24%, ở nông thôn nơi trực tiếp sản xuất chỉ có
13%. Trình độ canh tác của đại bộ phận người dân tham gia sản xuất nông nghiệp
còn thấp và chưa đáp ứng được với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
GVHD: TS. Lê Thanh Bồn
Học viên: Đinh Công Nhân _Cao học QLĐĐ_K20B

-6-


Môn: Quản lý và sử dụng đất nông nghiệp bền vững

nghiệp nông thôn. Ngoài ra, đặc điểm chung trong sản xuất nông nghiệp ở các
huyện miền núi nước ta hiện nay có trình độ, tập quán canh tác của người dân còn
thấp, hầu hết chưa theo đúng khung thời vụ nên ảnh hưởng rất nhiều đến năng suất,
chất lượng của các mặt hàng nông sản.
Nông nghiệp Việt Nam đang đối đầu với nhiều khó khăn của sự phát triển
kinh tế như: quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, công nghệ lạc hậu, năng suất, độ
đồng đều, chất lượng sản phẩm còn thấp, khả năng hợp tác liên kết của nông dân
Việt Nam nói chung còn yếu. Đây là yếu tố khiến ngành nông nghiệp Việt Nam
không thể đáp ứng được những đơn đặt hàng với số lượng lớn.
• Nhóm các yếu tố bên ngoại tác động đến nông nghiệp, bao gồm các yếu tố
sau.
Công tác bảo vệ thực vật và thú y, công tác khuyến nông, đặc biệt đối với

vệ thực vật, thuốc thú y…dịch vụ hỗ trợ như tín dụng, vận tải, kho bãi, viễn thông
tăng trưởng chậm, giao thông nông thôn tuy đã được đầu tư nhưng chưa thật nhiều.
Tổng công ty máy động lực và máy nông nghiệp chỉ đáp ứng được 25% nhu cầu
thị trường trong nước. Công nghệ và dịch vụ sau thu hoạch chưa phát triển, tỷ lệ
thất thoát sau thu hoạch của lúa từ 12% đến 14%, rau quả 30% ,tỷ lệ này là rất lớn.
Dịch vụ và cơ sở hạ tầng hỗ trợ cho phát triển nông nghiệp nông thôn không
theo kịp đà tăng trưởng kinh tế toàn xã hội. Hệ thống cơ sở hạ tầng, thủy lợi phục
vụ tưới tiêu hoặc còn thiếu hoặc chưa được sử dụng hợp lý, bị hư hỏng do mưa lũ
nên chưa đáp ứng được yêu cầu của sản xuất.
Một khó khăn nữa của ngành nông nghiệp là giá cả vật tư nông nghiệp ngày
càng gia tăng trong khi giá thành sản phẩm tăng rất ít hoặc không tăng khiến người
sản xuất có thu nhập rất thấp làm cho người nông dân có xu hướng chuyển đổi
sang các loại giống cây trồng, vật nuôi cho thu nhập cao hơn gây ảnh hưởng đến cơ
cấu sản xuất của nông nghiệp.
Chất lượng nông sản cũng là một khó khăn của nông nghiệp Việt Nam. Mặc
dù nông nghiệp là ngành xuất khẩu chủ lực của nước ta và là ngành duy nhất có
thặng dư xuất khẩu nhưng giá trị xuất khẩu nông sản của nước ta lại không cao vì
các sản phẩm nông sản của ta xuất khẩu ra thị trường thế giới chủ yếu là các nông
GVHD: TS. Lê Thanh Bồn
Học viên: Đinh Công Nhân _Cao học QLĐĐ_K20B

-8-


Môn: Quản lý và sử dụng đất nông nghiệp bền vững

sản thô, hàm lượng chất xám trong sản phẩm là rất ít nên giá cả không cao. Một ví
dụ là sau 3 năm gia nhập WTO ngành thủy sản nước ta đã phải đối đầu với các vụ
kiện liên quan đến vệ sinh an toàn thực phẩm gây ảnh hưởng không.
Khó khăn nữa là khi gia nhập WTO thì nông nghiệp của chúng ta lại thiếu

xuất nông nghiệp tăng. An ninh sinh học đang trở thành vấn đề quan trọng. Cùng
với quá trình biến đổi khí hậu, tình trạng thiên tai trong tương lai sẽ diễn ra ngày
càng tăng với nhiều diễn biến phức tạp hơn. Tình trạng sạt lở, lũ lụt, ngập mặn, hạn
hán tại một số vùng sẽ xảy ra với mức độ nghiêm trọng hơn ảnh hưởng không nhỏ
tới đời sống sinh hoạt và sản xuất của người dân. Các biểu hiện thời tiết cực đoan
có nhiều khả năng gây ảnh hưởng tiêu cực cho sản xuất nông nghiệp. Thứ ba, ô
nhiễm và nguy cơ gây suy thoái môi trường. Tăng trưởng nông nghiệp của Việt
Nam thời gian qua lạm dụng phân bón, hóa chất bảo vệ, thuốc thú y, chất kích
thích tăng trưởng… gây tác động xấu đến môi trường, làm tăng mức độ ô nhiễm và
suy yếu nguồn tài nguyên thiên nhiên. Tính trạng ô nhiễm môi trường nếu không
có biện pháp ngăn chặn kịp thời sẽ mang lại những hậu quả hết sức nghiêm trọng,
đe dọa sản xuất trong nước và khả năng cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên thị
trường.
Mặc dù, nhu cầu tiêu dùng chung trên thế giới đang chững lại trong điều kiện
khủng hoảng kinh tế thế giới trước mắt, nhưng nhìn lâu dài, nông sản với chất
lượng cao đảm bảo vệ sinh an toàn luôn luôn có thị trường và giá tốt. Trong vài
chục năm tới, cả thị trường trong nước và xuất khẩu đều có triển vọng tốt cho sản
xuất nông nghiệp. Trong bối cảnh hội nhập ngày càng đẩy mạnh, một khi sản xuất
nông nghiệp chuyển sang hướng có giá trị gia tăng cao và chất lượng tốt thì cơ hội
để Việt Nam liên kết với các doanh nghiệp và quốc gia khác để mở rộng thị trường
nông sản là rất to lớn.
4. Đề xuất một số giải pháp
Giải pháp và định hướng cho PTNNBV vủa nước ta trong thời gian tới Quy
hoạch sản xuất tổng thể trên toàn quốc và cung cấp đầy đủ thông tin cho nông dân.
Sản xuất nông nghiệp luôn xảy ra tình trạng tự phát, làm theo phong trào như cá ba
sa; chưa giải quyết xong hậu quả dư thừa do phát triển quá mức lại lo thiếu nguyên
liệu vào vụ tới; phá cây ăn quả đồng bằng sông Cửu Long để trồng lúa, cà phê, hồ
GVHD: TS. Lê Thanh Bồn
Học viên: Đinh Công Nhân _Cao học QLĐĐ_K20B


đổi mục đích t ùy tiện. Chiến lược phải được giao cho Bộ Nông nghiệp và phát
triển nông thôn và chịu trách nhiệm trước Chính phủ, nhân dân.
GVHD: TS. Lê Thanh Bồn
Học viên: Đinh Công Nhân _Cao học QLĐĐ_K20B

- 11 -


Môn: Quản lý và sử dụng đất nông nghiệp bền vững

Lợi nhuận từ sản xuất nông nghiệp thấp, vì vậy nông dân cần được hỗ trợ
nhiều hơn nữa để sản xuất các mặt hàng chiến lược (như lúa, nuôi trồng thủy sản...)
* Cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn theo hướng bền
vững:
Xây dựng chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, da dạng ngành nghề và chuyển đổi cơ cấu kinh tế ở nông
thôn.
Xây dựng chương trình đưa nhanh tiến bộ khoa học và kỹ thuật vào nông
nghiệp: nhất là chương trình giống. Xây dựng và mở rộng mô hình hàng hóa ở
vùng núi khó khăn.
Điều chỉnh, bổ sung cập nhật quy hoạch phát triển nông – lâm – ngư nghiệp
trong từng vùng kinh tế và liên vùng theo hướng phát triển bền vững, gắn sản xuất
với thị trường, gắn vùng nguyên liệu với công nghiệp chế biến.
Xây dựng đề án chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và nông thôn theo hướng
công nghiệp hóa, phát huy thế mạn của từng vùng: phát triển nông sản có chất
lượng và hiệu quả, gắn sản xuất với thị trường trong nước và thị trường quốc tế
nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên (đất đai, lao động và nguồn vốn), nâng
cao thu nhập trên một đơn vị ha đất canh tác, trên một ngày công lao động, cải
thiện đời sống nông dân.
* Xây dựng đề án sử dụng hợp lý tài nguyên nông nghiệp và nông thôn:

Tập trung đầu tư kết hợp cải tiến tổ chức, phát triển toàn diện toàn bộ chuỗi
ngành hàng (từ sản xuất, chế biến đến buôn bán) đối với những ngành có lợi thế
như lúa gạo, các da trơn ở ĐBSCL, cây công nghiệp ở Tây Nguyên... tại các vùng
chuyên canh sản xuất hàng hóa phục vụ xuất khẩu trọng điểm (theo mô hình cánh
đồng mẫu lớn, cánh đồng liên kết…). Ưu tiên đầu tư kết cấu hạ tầng, hệ thống dịch
vụ phục vụ sản xuất kinh doanh và hệ thống kho tàng, chế biến, vận chuyển, tiếp
thị… nhằm nâng cao giá trị gia tăng và giảm giá thành nông sản.
Xây dựng hệ thống cảnh báo sớm nhằm phát hiện kịp thời các loại bệnh dịch
nguy hiểm, nâng cao năng lực dự báo khí tượng thủy văn nhằm ứng phó với biến
GVHD: TS. Lê Thanh Bồn
Học viên: Đinh Công Nhân _Cao học QLĐĐ_K20B

- 13 -


Môn: Quản lý và sử dụng đất nông nghiệp bền vững

đổi khí hậu, hoàn thiện hệ thống thông tin thị trường làm cơ sở cho công tác điều
hành và dự báo thị trường. Tiến hành bảo hiểm sản xuất nông nghiệp
Cải cách và tăng cường vai trò của hội nông dân, vai trò của các hiệp hội
ngành hàng và các HTX nông nghiệp. Nâng cao vai trò của các tổ chức này trong
việc cung cấp các dịch vụ công. Nâng cao vai trò giám sát của cộng đồng đối với
các dịch vụ công và các hoạt động sử dụng nguồn lực chung. Cải cách thủ tục hành
chính, tập trung hoạt động của Nhà nước vào những hoạt động quản lý chính
(chính sách, quy hoạch, tiêu chuẩn...). Xóa bỏ cơ chế xin cho, chuyển sang đối tác
khách hàng trong quản lý Nhà nước và giao thêm quyền tự chủ cho người dân cho
phát triển nông thôn đặc biệt trong nông thôn mới.
Xử lý dứt điểm, cổ phần hóa và sắp xếp lại các doanh nghiệp nông lâm
nghiệp nhằm cải thiện hiệu quả sử dụng đất bằng cách làm rõ đối tượng quản lý và
sử dụng có hiệu quả cao nhất.

của nông nghiệp Việt Nam còn thấp so với yêu cầu của sự phát triển bền vững. Về
cơ bản nền nông nghiệp Việt Nam vẫn chưa thoát khỏi tình trạng sản xuất nhỏ,
phân tán, manh mún, khả năng cạnh tranh thấp. Trong khi đó chất lượng nguồn lao
động nông nghiệp Việt Nam vẫn còn thấp kém, chưa đáp ứng được yêu cầu của
quá trình xây dựng một nền nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững. Chiến
lược thị trường đối với hàng hoá nông sản chưa được quan tâm đúng mức, làm cho
người nông dân luôn là người chịu nhiều thiệt thòi nhất.
Xuất phát từ định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam với mục
tiêu tổng quát của phát triển bền vững là đạt được sự đầy đủ về vật chất, sự giàu có
về tinh thần và văn hoá, sự bình đẳng của các công dân và sự đồng thuận của xã
GVHD: TS. Lê Thanh Bồn
Học viên: Đinh Công Nhân _Cao học QLĐĐ_K20B

- 15 -


Môn: Quản lý và sử dụng đất nông nghiệp bền vững

hội, sự hài hoà giữa con người với tự nhiên, phát triển phải kết hợp chặt chẽ, hợp lý
và hài hoà được ba mặt là phát triển kinh tế, phát triển xã nước ta trong thời kỳ
mới. Để xây dựng và phát triển bền vững cần thực hiện một cách đồng bộ, toàn
diện, triệt để, hệ thống các giải pháp từ cấp trung ương đến cơ sở, từ quản lý đến
sản xuất, từ công tác quy hoạch ban đầu cho đến những chính sách cụ thể.
Xây dựng một nền nông nghiệp bền vững là vấn đề có tính chiến lược quan
trọng đối với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là một bộ phận hữu cơ trong
quá trình phát triển bền vững kinh tế - xã hội của đất nước. Do đó để thúc đẩy phát
triển nông nghiệp theo hướng bền vững đòi hỏi phải có sự đồng thuận và nỗ lực to
lớn của Nhà nước, các cấp, các ngành, các địa phương và đặc biệt là của chính
những người nông dân và cộng đồng dân cư nông thôn.
Phát triển bền vững nông nghiệp là một biện pháp của phát triển bền vững


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status