BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM TP. HCM
Tiểu luận độc học môi trường
GVHD:Trần Thúy Nhàn
1
I.
Khái niệm độc chất dung môi
Dung môi là một chất lỏng, rắn, hoặc khí dùng để hòa tan một chất tan
rắn, lỏng, hoặc khí khác, tạo thành một dung dịch có thể hòa tan trong một
thể tích dung môi nhất định ở một nhiệt độ quy định.
-
Đặc trưng chung của dung môi là tính dễ bay hơi, có thể tan trong mỡ
cũng có thể tan trong nước, nên có nhiều khả năng gây tác động có hại đến
con người qua đường hô hấp,đồng thời có thể gây chuyển hóa sinh học bên
trong cơ thể con người. Một số chất dung môi hữu cơ phổ biến có tác động
ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ con người gồm các chất VOCs, Benzen,
Toluen.
II.
Nguồn gốc của đôc chất dung môi.
Đa phần các dung môi có nguồn gốc nhân tạo.Dung môi được sản
xuất ra chủ yếu nhằm phục vụ cho các ngành công nghiệp.Người ta chia
dung môi ra loại là dung môi hữu cơ và dung môi vô cơ.Trong đó các dung
xuất hiện trong nước tiểu và tốc độ thải của chúng phụ thuộcvào sự tiếp xúc
các dung môi đó tại nơi làm việc.
Đối với tất cả các hóa chất dung môi, sự giám sát sinh học có thể bao
gồm cả việc ước lượngnồng độ các hợp chất không thay đổi trong máu.
Tất cả các dung môi hữu cơ đều có một đặc tính chung là nhanh
chóng hấp thụ trong phổi và khi bị nhiễm các độc chất dung môi thì chúng
làm cản trở quá trình trao đổi chất của cơ thể.
Có nhiều loại dung môi hữu cơ gây độc cấp tính và mãn tính cho
người và động vật khi tiếp xúc trực tiếp với chúng.
Sau đây là một số loại dung môi tiêu biểu mà chúng ta thường sử
dụng trong các phòng thin ghiệm hoặc trong sản xuất:
•
Benzen (C6H6) : Benzen là một hydrocacbon thơm, chất lỏng không
màu, dễ bay hơi, dung môi hòa tan ñược nhiều chất như mỡ, cao su, vecni,
da sợi, vải len v.vv. Benzen là một nguyên liệu quan trọng trong sản xuất
công nghiệp, tuy nhiên do benzen có độc tính cao nên một số nước nước có
luật cấm sử dụng benzen. Rất nhiều công việc mà công nhân phải tiếp xúc
trực tiếp với benzen như sản xuất dầu mỏ, than đá; công nghiệp hóa chất,
công nghiệp sản xuất sơn, vecni, men, mực in; công nghiệp dệt, thuộc da,
sản xuất vải sợi, len.
3
•
Toluen (C6H5CH3) :Toluen là chất lỏng, dễ cháy, ít bay hơi hơn
benzen và hòa tan ñược trong nhiều chất. Toluen ñược sử dụng rộng rãi
trong công nghiệp sản xuất sơn, nhựa thông, kéo, sản xuất cao su, tráng kẽm.
Một ứng dụng quan trọng của CS2 là làm sợi tơ nhân tạo. Trong
quá trình sản xuất sợi tơ nhân tạo thì sản phẩm của các quá trình hóa học tạo
ra sản phẩm cuối là H2SO3.
4
IV.Đặc tính cụ thể của các loại độc chất dung môi.
Benzene:
Benzene là một loại dung môi hòa tan được rất nhiều chất như mỡ,
cao su, vecni, da, sợi, vải, len … Trong công nghiệp hóa học, benzene
được sử dụng trong quá trình tổng hợp.
a) Tính chất
Benzene là một hydrocarbon thơm, có công thức C6H6 được chiết từ
than đá hoặc dầu mỏ.
Benzene là một chất lỏng không màu, dễ bay hơi, có mùi. Nóng
chảy ở nhiệt độ 5,48oC, sôi ở 80độ C. Ở nhiệt độ bình thường, benzene nhẹ hơn
nước, d = 0,87g. Hơi benzene nặng hơn không khí, 1 lít hơi benzene ở điều kiện
tiêu chuẩn nặng 3,25g. Khi benzene hỗn hợp với không khí ở tỷ lệ 1,4 – 6% có khả
năng gây nổ.
b) Tác hại
Benzene hấp thụ thông qua phổi và qua da. Khi tiếp xúc ở liều cao
gây độc cấp tính, suy giảm thần kinh trung ương, gây chóng mặt, nhức
đầu, ngôp thở và dẫn đến rối loạn tiêu hóa như kém ăn, xung huyết niêm
mạc miệng, nôn, rối loạn huyết học, thiếu máu. Khi ngừng tiếp xúc với
benzene bệnh vẫn bị kéo dài do benzene tích lũy trong các mô mỡ, tủy
xương gây ra bệnh bạch cầu. Nếu bị nhiễm mãn tính thì gây xáo trộn
đường dạ dày, ruột, nhiễm sắc thể bạch cầu, gây xáo trộn DNA di truyền.
Hợp chất của benzene phức tạp khi chuyển hóa thành sinh học, benzene
dễ dàng kết hợp với protein hoặc nucleic acid trong cơ thể.
đầu, chán ăn, xanh xao, thiếu máu, tuần hoàn máu không bình thường.
Nếu phải làm việc liên tục trong tình trạng tiếp xúc với toluene sẽ dẫn
đến tình trạng thẫn thờ, mất trí nhớ và dễ xúc động.
Xylene
a) Tính chất
Xylene cũng là một loại dung môi hữu cơ. Nhìn chung, xylene ít
độc hơn và ít được sử dụng hơn so với toluene. Xylene được sử dụng
trong sản xuất sơn, vecni và tổng hợp các thuốc nhuộm; xylene cũng
được thêm vào chất đốt như là chất phụ gia. Xylene được ứng dụng nhiều
trong phòng thí nghiệm để tổng hợp paraffin.
6
b) Tác hại
Khi hít phải hơi xylene thì từ 60 – 65% được giữ lại ở trong phổi,
gây tổn thương cho phổi. Khi tiếp xúc với xylene thì nó được hấp thụ
qua da và đào thải qua nước tiểu. Quá trình chuyển hóa sinh học của
xylene cũng giống như toluene: khi cơ thể bị nhiễm xylene thì xylene sẽ
chuyển hóa thành methylhippuric acid và dấu hiệu này tìm thấy trong
nước tiểu.
Người ta chưa phát hiện nhiễm mãn tính bởi xylene. Tuy nhiên,
những công nhân làm việc, khi tiếp xúc với xylene, đều phàn nàn rằng,
họ cảm thấy có vị ngọt ở trong miệng và gây bứt rứt khó chịu, đồng thời
bị mắc chứng viêm da.
Carbon tetrachloride
a) Tính chất
Công thức CCl4, nhiệt độ sôi 77,2oC, áp suất bay hơi ở 20oC là 91
mmHg. Carbon tetrachloride phân hủy thành phosgene (COCl2) và
hydrochloric acid dưới tác dụng nhiệt. CCl4 được sử dụng như là một dung
nó đã được thay thế bằng các dung môi khác.
b) Quá trình hấp thụ tetrachloroethane
Khi hít phải hoặc tiếp xúc loại dung môi này, nó được hấp thụ qua
phổi và da; sau đó, nó được bài tiết ra ngoài nhưng quá trình bài tiết diễn
ra chậm. Quá trình hấp thụ chất này vào cơ thể diễn ra phức tạp.
c) Tác hại
Tetrachloroethane là loại dung môi độc nhất của nhóm chlorine
hydrocarbon. Tetrachloroethane có mùi giống như mùi của chloroform
nhưng khả năng gây mê của nó cao hơn gấp hai hay ba lần chloroform.
Tetrachloroethane gây ra hai hội chứng đặc biệt, đó là nhiễm độc
hệ thần kinh và tác động trực tiếp và mạnh mẽ lên gan. Người ta đã thấy
rằng, các phụ nữ, trong quá trình sản xuất ngọc trai nhân tạo, phải tiếp
xúc với loại dung môi này khiến họ dễ bị rùng mình, chóng mặt và đau
đầu. Nếu tiếp xúc ở nồng độ lớn hơn thì có triệu chứng đau gan và kết
quả bị vàng da, có thể dẫn đến cái chết.
8
Methylene chloride (dichlormethane)
a) Tính chất
Methylene chloride là loại dung môi bay hơi mạnh, được sử dụng
trong sản xuất phim cellulose acetate và cũng là một thành phần của sơn.
b) Quá trình hấp thụ của methylene chloride
Methylene chloride hấp thụ qua phổi và có thể hấp thụ qua da. Khi
đi vào cơ thể, methylene chloride chuyển đổi thành CO2, qua giai đoạn
trung gian là carbon monoxide kết hợp với hemoglobin tạo thành
carboxyhemoglobin. Sau khi bị ngộ độc methylene chloride khoảng 150
ppm thì nó sẽ tạo ra sản phẩm tương đương carborxyhemoglobin và 35
ppm carbon monoxide trong cùng một thời gian. Trong cả hai trường
c) Tác hại của carbon disulfide
Carbon disulfide là một hệ độc đa dạng, nó đã gây nhiều tác động
mà người ta đã khám phá ra. Chủ yếu nhất, ngộ độc CS2 làm cho mất trí
nhớ, gây rối loạn tâm thần, gây tức giận một cách vô cớ mà không tự kiềm chế
được, mất ngủ, ảnh hưởng đến hệ tuần hoàn máu, gây bệnh tim.
10
V.
MỘT SỐ LOẠI ĐỘC CHẤT DUNG MÔI KHÁC.
Carbontetracholoride (CCI4)
Nguồn gốc: Dung môi hữu cơ dùng đe dập tắt lửa và làm sạch, khô đồ dùng trong
gia đình và trong công nghiệp.
Tác động của độc chất
Phương thức đi vào cơ thể: Chất này đi vào cơ thể chủ yếu qua đường hô hấp, dễ
dàng tích tụ trong mô mỡ, một nửa lượng hấp thụ được chuyển hóa đào thải ra
ngoài.
Tetrachloride hấp thụ qua đường hô hấp thường tích tụ trong thận và tác động lên
thận, hấp thụ qua đường tiêu hóa thường tích tụ trong gan và tác động lên gan.
CCl4 trong cơ thể dễ dàng tác dụng với các enzyme trong cơ thể tạo ra gốc tự do
CCl3+ làm tăng tính kiềm trong cơ thể và làm mất hoạt tính enzyme. Gốc CCl3+ gây
độc cực mạnh cho tế bào.
Biểu hiện nhiễm độc: tác động lên hệ thần kinh và gan. Người tiếp xúc với loại
dung môi này hay bị rùng mình, chóng mặt và đau đầu. Nếu tiếp xúc lâu sẽ ảnh
hưởng tới gan dẫn tới vàng da và có thể chết.
Methylene chloride (CM7CI7)
Giới thiệu chung:
Tác động: Những biểu hiện khi nhiễm độc CS2 là mất trí nhớ, gây rối loạn tâm
thần, dễ tức giận, mất ngủ, hệ tuần hoàn máu bị suy yếu gây ra bệnh tim.
VI.
Ảnh hưởng của các độc chất dung môi trong thực tế
Trong thực tế hiện nay việc sử dụng các dung môi hữu cơ trong sản xuất ,chế
biến,trong các ngành công nghiệp là không thể thiếu.Và những ảnh hưởng của nó
đến sưc khỏe con người là điều không thể tránh khỏi.
Những dung môi hữu cơ chúng ta có thể biết đến như benzene, Toluene,
….vv,những dung môi theo nhiều cách khác nhau ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián
tiếp đến con người,nhẹ thì chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe con người trong một thời
gian ngắn,hoặc nặng hơn có thể ảnh hưởng dài hạn và để lại những di chứng nặng
nề,trường hợp xấu có thể ảnh hưởng đến tính mạng.
Một vài ví dụ thường xảy ra trong thực tế
12
- Sự việc gần 2000 công nhân tập đoàn Hongfu Việt nam bị hội chứng nhiễm
độc thần kinh do môi trường làm việc có dung môi hữu cơ quá cao mà cụ thể
là dung môi hidrocacbon, etyl axetat và N-propyn axetat. Gây chóng mặt,
đau đầu, buồn nôn, mệt mỏi, ho, khó thở… vì máu thiếu ôxy.
- Bệnh nhiễm độc Benzen nghề nghiệp, với liều thấp hơn, hàm lượng khoảng
20-30 mg/l không khí, thường thấy có giai đoạn kích thích thần kinh, tiếp
đến giai đoạn suy sụp cơ thể dẫn đến tình trạng trụy tim, sau 20-30 phút, nạn
nhân mê man.
Hàm lượng benzen trên l0mg/l gây nhiễm độc bán cấp, sau vài giờ nạn nhân
thấy khó chịu, nhức đầu, chóng mặt, nôn.
Thể nhiễm độc nhẹ giống như người say rượu. Niêm mạc màu đỏ tươi là một
- Thông tin tuyên truyền cho người lao động và chủ sử dụng lao động tác hại của
dung môi hữu cơ đối với sức khỏe và biện pháp dự phòng;
- Trang bị đầy đủ và sử dụng hiệu quả phương tiện bảo vệ cá nhân;
- Tắm rửa, thay quần áo sau ca làm việc;
- Định kỳ đo nồng độ dung môi hữu cơ và đánh giá điều kiện làm việc ở người lao
động;
- Khám tuyển: khám toàn thân chú ý đến các tổn thương viêm da và làm xét
nghiệm với dung môi hữu cơ với những công nhân sẽ phải làm việc tiếp xúc với
dung môi hữu cơ và không tuyển những công nhân bị nhạy cảm với dung môi hữu
cơ vào nhưng vị trí này;
- Khám sức khỏe định kỳ: khám toàn diện; chú ý đến bệnh viêm da tiếp xúc và
bệnh dị ứng toàn thân;
- Khám bệnh nghề nghiệp: thực hiện khám bệnh nghề nghiệp cho nhưng người lao
động làm việc trong môi trường có dung môi hữu cơ theo đúng hướng dẫn của Bộ
Y tế, chú ý các xét nghiệm cận lâm sàng để phát hiện sớm bệnh viêm da tiếp xúc.
14