z
TIỂU LUẬN: ĐỊA CHẤT MÔI TRƯỜNG
ĐỀ TÀI
“ẢNH HƯỞNG CỦA CANH TÁC TRÊN ĐẤT DỐC
ĐẾN MÔI TRƯỜNG ĐỊA CHẤT”.
Nhóm sv
GVHD: T.S CAO VIỆT HÀ
TIỂU LUẬN: ĐỊA CHẤT MÔI TRƯỜNG.
ĐỀ TÀI: “ẢNH HƯỞNG CỦA CANH TÁC TRÊN ĐẤT DỐC ĐẾN MÔI
TRƯỜNG ĐỊA CHẤT”.
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: TS. CAO VIỆT HÀ.
NHÓM:
STT Họ và tên Mã sinh viên
1 Phạm Thị Tuyết Minh 553395
2 Hoàng Ngọc Trà My 553396
3 Biện Thị Ngân 553397
4 Nguyễn Thị Ngân 553399
5 Ngô Thị Ngọc 553401
6 Trần Thị Thanh Nhàn 553402
I. Đặt vấn đề.
Đảm bảo an ninh lương thực là một trong những vấn đề trọng yếu của hầu
hết các quốc gia trên thế giới vì thế mà ngày nay nguồn tài nguyên đất và nước
đang rất được quan tâm. Trong tài nguyên đất nông nghiệp thì đất dốc có đặc tính
nhạy cảm với môi trường, dễ biến đổi dưới tác động của hàng loạt yếu tố ngoại
cảnh như: thời tiết, khí hậu nhất là mưa lũ vì vậy muốn giảm những tác động đó
triệu ha đất nông nghiệp, trong đó đất dốc vùng đồi núi chiếm khoảng 65,9% và
có khoảng 544 triệu ha đất canh tác mất khả năng sản xuất. Các vùng đồi múi
trên thế giới có độ dốc trên 10
0
chiếm 50 – 60% diện tích đất nông nghiệp.
Hằng năm trên thế giới, không kể sản lượng nhóm cây nông lâm nghiệp
khác trồng trên đất dốc, riêng lúa nương canh tác trên đất dốc đẫ và dang là
nhuồn lương thực quan trọng để nuôi sống nhiều triệu người đóng góp 3,8% sản
lượng lúa toàn cầu. Phần lớn diện tích cây lương thực này phân bố tập trung chủ
yếu ở Ấn Độ (6,2 triệu ha), Brazil (3,1 triệu ha), Indonesia (1,4 triệu ha) và rải
rác ở các nước trong khu vực khoảng 7,0 triệu ha (Dobermann và Fairhutst,
2000).
I.2 Hiện trạng ở Việt Nam.
Ở ViệtNam, đất dốc chiếm khoảng 74% đất tự nhiên. do hầu hết đất bằng
đã được sử dụng khá triệt để nên miền núi là nơi duy nhất còn tiềm năng mở rộng
đất canh tác. Trong diện tích 9,4 triệu ha đất nông nghiệp chỉ có 4,06 triệu ha là
đất lúa, còn trên 5 triệu ha chủ yếu là đất dốc, trong đó đất nương rẫy trồng lúa
khoảng 640 ngàn ha, diện tích còn lại là đất rừng và đất chưa sử dụng. So với
miền xuôi thì cơ cấu cây trồng ở miền núi đa dạng hơn nhiều. Trong khi hầu hết
đất bằng ở miền xuôi phải dành cho sản xuất lương thực thì miền núi là nơi có
tiềm năng đất đai để trồng cây ăn quả, cây lương thực có giá trị cao,đó là chưa kể
các loài rau quả ôn đới trồng trên các vùng núi cao. Ngoài ra miền núi còn đáp
ứng 1 số nhu cầu về chuồng trại, chăn thả, đồng cỏ để phát triển chăn nuôi, tiềm
năng về thủy điện…
Tuy nhiên, nếu viêc canh tác hợp và lý đúng cách thì môi trường địa chất
sẽ bị ảnh hưởng rất lớn. Đầu tiên phải nói đến đó là xói mòn và rửa trôi, xói mòn
và rửa trôi là những mối đe doạ thường xuyên đối với đất dốc và vùng nhiệt đới
ẩm, gây nên sự mất dinh dưỡng và độ phì của lớp đất mặt, dẫn đến sự axít hoá
trong đất. Những tác động này thậm chí còn trở nên tồi tệ hơn nếu như đất canh
tác không có thảm thực vật che phủ hoặc là đất bị đốt cháy trước mùa mưa.Thứ 2
+ Địa hình núi tại độ dốc >15
0
( có độ cao1000 – 2000m), quá trình xâm
thực và bào mòn khá mạnh, phân bố ở khắp các khu vực vùng đồi núi, canh tác
nông nghiệp gặp nhiều khó khăn.
+ Địa hình núi thấp và đồi có độ cao < 1000m độ dốc từ 8- 25%, đây là
vùng sản xuất nông nghiệp chính của miền núi với các cây dài ngày và hoa màu
chủ yếu nhờ nước trời.
+ Địa hình núi và cao nguyên: địa hình tuy khá cao nhưng ít bị chia cắt,
khá bằng phẳng, ít dốc, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp hỗn hợp.
+Địa hình bán bình nguyên: phân bố thành những dải đất hẹp, khá bằng
phẳng, sản xuất nông nghiệp thuận lợi nhưng diện tích ít, manh mún.
+ Địa hình thung lũng và trũng giữa núi: tạo nên những bồn địa và cánh
đồng khá bằng phẳng trên các độ dốc khác nhau của vùng đồi núi, là nơi sản xuất
lúa nước, hoa màu ngắn ngày quan trọng nhưng diện tích hẹp, manh mún.
Đất dốc gồm các loại đất có độ phì khác nhau, với điều kiện tiểu khí hậu, địa
hình, chế độ nước khác nhau đã tạo nên sự phát triển rất đa dạng và phong phú
của các thực vật tự nhiên và cây trồng , vật nuôi của vùng đồi núi nước ta.
- Đặc trưng khoáng sét ở đất dồi núi.
Đất đồi núi có độ cao biến động từ vài chục mét vùng đồi cho đến 2.000 –
3.000 m vùng núi cao và trải dài qua 15 vĩ độ từ Bắc vào Nam. Thành phần
khoáng vật vừa bị chi phối bởi đá mẹ vừa chịu tác động của điều kiện hình thành
đất của địa phương.
- Đặc trưng lý học đất dốc.
Tính chất vật lý đất dốc rất khác nhau giữa các loại đất phụ thuộc vào loại đá
mẹ phát sinh. Qua nghiên cứu cho thấy rằng hàm lượng cấp hạt sét trong thành
phần cơ giới giao động trong phạm vi khá rộng từ 12-62%, cấp hạt đá thô có
chiều hướng ngược lại, thay đổi trong khoảng 4-60%. Dung trọng đất hầu hết khá
cao, giao động từ 1,08g/cm
3
Châu), Sa Pa ( Lào Cai). Yếu tố quan trọng quan trọng của khu vực này là đất
phải đủ dày, kết von và đá ong ở sâu mà khi san không bị lộ ra trên mặt đất.
ruộng bậc thang san ngay có ưu thế nổi bật: triệt tiêu dòng chảy, giữ nước, giữ
đất, giảm xói mòn và duy trì sự ổn định năng suất cây trồng trong chu kì canh tác.
Tuy nhiên khi tạo ruộng bậc thang san ngay không tránh sự xáo trộn các tầng đất
sắp xếp có quy luật từ hàng ngàn năm, phá vỡ cấu trúc, trộn tầng đất canh tác với
đất cái ít mầu mỡ bật từ dưới lên, cắt các lỗ hổng mao quản và phi mao quản vốn
là một hệ thống liên tục, mùn và chất dinh dưỡng dễ tiêu giảm…. dẫn tới độ phì
nhiêu hữu hiệu giảm. Dù giảm nhẹ cũng cần thời gian dài mới phục hồi được độ
phì nhiêu, nếu giảm nặng thì nguy cơ hỏng đất là chắc chắn.
- Ruộng bậc thang san dần:
Ở Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái và Tây Nguyên nông dân áp dụng
phương pháp này phổ biến đối với cây ngắn ngày và dài ngày. Đặc điểm của
phương pháp này là kết hợp san ủi nhẹ với việc tạo ra các băng chắn để đất tích
lũy mé dưới lô trồng. Sau mỗi vụ mưa đất trôi sẽ bị chặn lại, bồi tụ trên ruộng
tầng vì thế hạn chế việc xói món và mất dinh dưỡng. Nói chung ruộng bậc thang
san dần tránh được căng thẳng về công xây dựng và đầu tư nặng ban đầu.
- Ruộng bậc thang lúa nước: đây là kiểu canh tác lâu đời và khá bền vững.
• Là một phương thức định canh trên mặt bằng, có không gian
khép kín tránh được xói mòn, tiếp nhận vật liệu rửa trôi từ
xung quanh, hạn chế tốc độ dòng chảy từ trên cao xuống
thung lũng.
• Trong môi trường nước, quá trình hóa học có lợi cho việc duy
trì độ phì nhiều hữu hiệu: phân giải chất hữu cơ chậm lại, có
sự tích lũy mùn và có dung tích hấp thu cao hơn.
Trong điều kiện khử là ưu thế có sự chuyển hóa các oxit đa hóa trị sang
hóa trị hai ( Fe
3+
sang Fe
2+
giữa các hàng hoặc gốc cây. Thực tiễn này giúp giữ độ ẩm đất, hạn chế cỏ
dại và tăng cấu trúc đất, làm cho đất tơi xốp. Những mặt mạnh:
• Ngăn chặn tác động trực tiếp của các hạt nước mưa lên đất trống,
trọc và giảm rửa trôi và mất đất
• Hạn chế cỏ dại và giảm công lao động để làm cỏ
• Tăng chất hữu cơ cho đất
• Cải thiện các tính chất lý-hóa học của đất
• Giúp điều chỉnh, giảm nhiệt độ của đất vào mùa hè
4.1.3 Biện pháp sinh học:
- Trồng cây phân xanh: cây phân xanh là loại cây được trồng chủ yếu để
làm đất trồng tốt, để tái tạo chất dinh dưỡng thực vật, chất hữu cơ và cũng
rất có ích trong quản lý trang trại hữu cơ.Chúng thường cố định đạm, tuy
nhiên không phải luôn như vậy. Chúng có thể được trồng cùng với cây
trồng khác hoặc được sử dụng như cây che bóng. Chúng ngăn không cho
chất dinh dưỡng bị rửa trôi khỏi đất trồng giữa những mùa vụ chính.Cây
phân xanh giúp:
• Tạo và tái tạo chất dinh dưỡng thực vật và chất hữu cơ.
• Cải thiện cấu trúc đất trồng.
• Cải thiện khả năng giữ nước của đất trồng.
• Kiểm soát xói mòn đất trồng.
Thực tế cho thấy trồng xen băng cây phân xanh theo đường đồng mức như
muống hoa vàng, cốt khí…giữa cây công nghiệp (cà phê, cao su, điều) và cây
ngắn ngày (ngô, lúa nương, sắn…) là biện pháp đơn giản và có hiệu quả trong
việc bảo vệ đất, chống xói mòn, cải tạo độ phì của đất và góp phần tăng năng suất
cây trồng. Bên cạnh việc hạn chế xói mòn đất, cây băng xanh còn ảnh hưởng tích
cực đến tính chất lý hóa của đất: Điều hòa chế độ nhiệt và ẩm độ của đất, cải
thiện độ xốp tầng mặt, tăng hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất thông qua
sinh khối hữu cơ trả lại hàng năm.
- Luân canh cây trồng: nhiều loài cây trồng khác nhau được gieo trồng kế
tiếp nhau, cây nọ sau cây kia trên cùng một mảnh đất hay thửa ruộng.
hoàn toàn không có khả năng canh tác thì bỏ
chuyển sang vùng khác còn rừng, đất tốt.
Hình 2: Xã Thôn Mai, huyện
Tương Dương, Tỉnh Nghệ
An.
• Du canh
luân hồi: Là kiểu du canh trên nương rẫy định canh trong khoảng 2-5 năm
khi năng suất xuống dưới mức chấp nhận được thì bỏ hóa khoảng 7-8 năm
đến 12-15 năm rồi quay trở lại. Thường gặp ở người Dao, Ba Na, Ê Đê,
Gia Rài
• Du canh bổ trợ: Được thực hiện bởi các cộng đồng cư dân miền núi vùng
cao sống chủ yếu bằng canh tác lúa nước kết hợp làm rẫy trên đồi lân cận
lấy nguồn năng lương thực bổ sung. Các dân tốc sử dụng phương thức này
là Mường, Tày, Thái, Nùng
Ta nhận thấy rất rõ sự ảnh hưởng của các phương thức này đến vùng
đất nơi người dân canh tác. Trong thời kỳ bỏ hóa lớp thảm thực vật suy
giảm. Tạo điều kiện thuận lợi cho các tác nhân như gió và nước tạo lên các
hiện tượng xói mòn, rửa trôi, lũ ống, lũ quét
4.2.2 Độc canh là: hình thức mà người dân chỉ trông một loại cây duy nhất trong
lần canh tác đó.
Hình 3: Trồng ngô, sắn độc canh ở Văn Yên và Văn Chấn, tỉnh Yên Bái.
Độc canh cũng là một trong nhữg nguyên nhân dẫn đến xói mòn, rửa trôi
lớp đất mặt, vì khi trồng độc canh thì đất ở khoảng cách giữa các gốc cây không
có thảm thực vật che phủ. Bên cạnh đó việc trồng độc canh còn làm cho đất mất
cân bằng dinh dưỡng bởi mỗi loại cây sẽ hút một lượng dinh dưỡng nhất định
trong quá trình sống và với nhu cầu về hàm lượng các chất là khác nhau. Hiện
tượng chặt đất cũng một phần do trồng độc canh nhất là khi trồng độc canh ngô,
sắn. . . chặt đất ảnh hưởng nhiều đến tính chất của đất như: làm tăng dung trọng
đất, giảm độ ẩm, độ xốp, độ thoáng khí và cả đến nhiệt trong đất.
4.2.3 Trồng chay là: hình thức trồng trọt dựa chính vào các tài nguyên sẵn có để
đất tạo tầng chặt bí không thoát nước.
• Rửa trôi các chất kiềm, kiềm thổ dẫn đến chua hóa đất.
Khi đất bị rửa trôi các cation kiềm, kiềm thổ bị rửa trôi theo. Đồng hành với
quá trình rửa trôi kiềm (Na
+
, K
+
, NH
4
+
) và kiềm thổ (Ca
2+
, Mg
2+
) có quá trình
giải phóng các ion H
+
và Al
3+
vào dung dich. Các ion này sẽ đi vào phức hệ hấp
phụ của keo đất ngày càng nhiều đrr chiếm chỗ trống do kiềm bị rửa trôi ra. Như
vậy, keo đất ngày càng bão hòa các cation H
+
, Al
3+
trở nên chua hơn. Ngoài ra
còn có tác động của cây trồng vi sinh vậy thu hút một cách chọn lọc các nguyên
tố và các gốc có khả năng làm tăng pH đất, tiết ra các axit hữu cơ, cộng với việc
sử dụng phân bón làm cho đất canh tác ngày càng chua và giảm các tính năng của
mình.
Hình 6: Xói mòn rãnh làm bồi lấp dòng sông_sông Đà.
Ảnh hưởng còn xảy ra đồi với hạ lưu các con sông, đôi khi ở rất xa vùng bị
xói mòn, nguồn gốc của đất trầm tích. Đất dọc theo sông bị cuốn trôi và lắng dần
trên đường đi. Đất trầm tích nâng độ cao cảu lòng sông làm giảm khả năng chứa
nước của con sông.
• Đất bị gió cuốn gây nguy hiểm cho đất đai.
Đất bị gió cuốn là kẻ phá hoại do xói mòn đứng thứ hai sau xói mòn do
nước. Lớp đất mặt theo gió có thể bị đưa đi xa và giống như bị nước cuốn đi,
thường đổ bộ xuống chỗ nào đó. Những đồng ruộng, nhà máy, các công trình xây
dựng có thể bị hư hại nặng do xói mòn gió, đôi khi chúng bị vùi lấp hoàn toàn.
• Sạt đất, trượt lở đất:
Hình 7: Sạt lở ở Trà Giác, huyện vùng cao
Bắc Trà My.
Hình 8: Trượt đất ở Cao Phạ, Mù Cang
Chải, Yên Bái.
Không chỉ làm lấp đất đang sản xuất mà còn làm cho việc định hình một số
khu sản xuất ở vùng đồi núi trở nên thiếu ổn định. Đã quan sát thấy hàng loạt vụ
sạt đất cát ở Mường Khương, Bắc Hà, Văn Bàn (Lào Cai). Những nơi có độ dốc
cao tầng đất không dày, sâu trên 1m đã gặp những tầng đá vụn, đát mỏng và rời
rạc khi mưa lớ n nước ngấm tới lớp đá vụn, đất không bám được vào lớp đá vụn
phía dưới bị bong ra, đùn xuống phía dưới theo trọng lực.
• Lũ bùn, lũ ống, lũ quét:
Kéo theo đá bùn, cuội, sỏi lấp đầy các ruộng lúa trên bình diện 1-2km
2
.
Hình 9: Lũ quét ở xã Nậm Lúc, Bắc Hà, Lào Cai.
5. Biện pháp cải tạo đất dốc.
Để hình thành đất cần khoảng thời gian hàng mấy nghìn năm. Theo như tính
toán của nhà bác học nổi tiếng người Hoa Kỳ là Kh. Bennett thì để hình thành chỉ
một lớp đất có độ sâu 2cm đã đòi hỏi từ 300 năm tới 1000 năm. Vì thế khi canh tác
xói mòn.
5.3. Các biện pháp canh tác.
- Có rất nhiều biện pháp có thể lồng ghép trong suốt quá trình phát hoang, làm
đất đến chăm sóc và thu hoạch:
+ Gieo trồng và làm đất theo đường đồng mức giúp hạn chế xói mòn và rửa
trôi.
+ Làm đất tối thiểu hoặc không làm đất làm giảm trực tiếp tác động của hạt
mưa trên đất trống, giảm sự thoái hóa cấu trúc đất và tốc độ khoáng hóa.
+ Che tủ mặt đất làm tăng chất hữu cơ cho đất, cải thiện tính chất lí hóa của đất
5.4. Biện pháp sinh học
Biện pháp này áp dụng trên tất cả các loại độ dốc giúp ngăn chặn sự mất
dinh dưỡng đồng thời làm đất tốt hơn và tăng năng suất cây trồng:
+ Luân canh cây trồng.
+ Trồng cây che phủ giúp giảm nhu cầu sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu.
+ Tăng cường hữu cơ cho đất bằng kinh nghiệm tạo băng phân xanh.
Ngoài những biện pháp kỹ thuật trên cần phải giáo dục , tuyên truyền với
cộng đồng về bảo vệ tài nguyên đất đai đặc biệt là các đồng bào dân tộc thiểu số
_ cư dân chủ yếu trên vùng đất dốc để sử dụng đất đai bền vững và hiệu quả
nhất.
III: KẾT LUẬN
Các biện pháp canh tác trên đất dốc thì đều gây lên các ảnh hưởng nhất định
đến môi trường địa chất, không chỉ ở tại đó mà cả ở các khu vực lân cận xung
quanh, thậm chí các vùng cách rất xa nơi canh tác.
Phương thức canh tác du canh nương rẫy kết hợp với trồng thuần, trồng chay
là nguyên nhân chủ yếu gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường địa chất. Bên cạnh
đó các tập tục như chăn thả gia xúc tự do, trồng tỉa theo mùa mưa góp phần tạo
điều kiện thuận lợi cho các tác nhân thiên nhiên tác động đến môi trường địa chất.
Các ảnh hưởng của việc canh tác đến đất dốc sẽ trở thành tích cực nếu con
người áp dụng đúng các biện pháp canh tác như: làm ruộng bậc thang, trồng theo
rãnh, trồng tủ gốc, các công thức luân canh, xen canh cây trồng hợp lý, các mô