PHẦN THỨ NHẤT
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Kinh tế thị trường là việc tổ chức nền kinh tế xã hội dựa trên cơ sở một nền sản
xuất hàng hoá. Thị trường luôn mở ra các cơ hội kinh doanh mới cho các doanh
nghiệp, nhưng đồng thời cũng chứa đựng những mối nguy cơ đe doạ cho các doanh
nghiệp. Để các doanh nghiệp có thể đứng vững trước qui luật cạnh tranh khắc nghiệt
của cơ chế thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp luôn phải vận động, tìm tòi hướng đi
cho phù hợp
Đối với một doanh nghiệp sản xuất hàng hóa nói chung, công tác chế biến đóng
vai trò rất quan trọng đến kết quả kinh doanh của công ty. Công tác chế biến giúp
doanh nghiệp tạo ra sản phẩm với các cấp chất lượng khác nhau. Các doanh nghiệp
làm tốt khâu chế biến sẽ tạo được cho bản thân doanh nghiệp những lợi thế nhất định
so với các đối thủ cùng ngành trên thương trường.
Đối với một doanh nghiệp chế biến nghành hàng lâm sản thì công tác chế biến gỗ
cũng không ngoại lệ , công tác chế biến gỗ đóng vai trò hết sức quan trọng và nó quyết
định đến thành công của doanh nghiệp. Công tác chế biến gỗ sẽ quyết định phần lớn
đến giá thành sản phẩm ngoại trừ các yếu tố về giá cả đầu vào.
Trên thế giới hiện nay rất nhiều quốc gia có thế mạnh về nguồn nguyên liệu gỗ đã
và đang đầu tư rất lớn công nghệ cho công tác chế biến gỗ như Malaysia, philippines…
do đó chất lượng sản phẩm cũng như giá thành sản phẩm của họ giảm rất nhiều so với
các nước kém đầu tư hơn về công tác chế biến. Có sự đầu tư lớn về công nghệ do đó
họ có lợi thế cạnh tranh rất lớn trên thị trường quốc tế
Việt Nam cũng là một nước có nguồn nguyên liệu gỗ hết sức phong phú, đa dạng
về chủng loại cũng như chất lượng.Xong thực tế là các doanh nghiệp Việt Nam chưa
tận dụng được cơ hội về nguồn nguyên liệu này, các doanh nghiệp việt nam với qui mô
nhỏ và trang bị công nghệ lạc hậu hầu hết chỉ sản xuất các sản phẩm phôi gỗ thô để
xuất khẩu. Một phần do công tác quản lý còn kém hiệu quả, một phần do chưa được
đầu tư thích đáng về công nghệ dẫn đến công tác chế biến chưa thực sự hiệu quả làm
cho doanh nghiệp mất đi lợi thế cạnh tranh trên thị trường
1
phần chế biến gỗ cao su daklak
1.4 Phạm vi nghiên cứu
2
1.4.1 Phạm vi về không gian
Đề tài nghiên cứu trong phạm vi Công ty cổ phần chế biến gỗ cao su DakLak
1.4.2 Phạm vi về thời gian
- Thời gian nghiên cứu : 06/10/2010 – 10/11/2010
- Thời gian của số liệu nghiên cứu : 2007- 2009
3
PHẦN THỨ HAI
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận về công tác chế biến gỗ
2.1.1 Khái niệm, phân loại, yêu cầu của sản phẩm mộc
2.1.1.1 Khái niệm chung về sản phẩm mộc
Hiện nay với sự phát triện của khoa học kỹ thuật đã xuất hiện nhiều loại vật liệu mới,
nhưng vật liệu gỗ - vật liệu truyền thống vẫn được người sử dụng ưa chuộng. Nhu cầu
về các đồ dùng về các đồ dùng bằng gỗ ngày càng cao, với xu hướng đồ gỗ vừa mang
phong cách hiện đại, vừa mang tính truyền thống, với nhiều mẫu mã, kiểu dáng sang
trọng, kết cấu mới lạ, đem lại sự ấm cúng gần gũi thân quen với người sử dụng, bởi nó
có sự giao lưu qua lại giữa: “đồ gỗ - môi trường – người sử dụng”.
Các sản phẩm làm từ gỗ gọi chung là sản phẩm mộc, sản phẩm mộc rất đa dạng và
phong phú về chủng loại, nguyên lý kết cấu, về chức năng công dụng… các sản phẩm
mộc trang trí nội thất như bàn, ghế, giường, tủ, ván sàn nhà, khung trang trí như khung
tranh… các sản phẩm trang trí ngoại thất như bàn ghế ngoài trời đặt ở khu vực nhà ở,
công viên, bãi biển, bệnh viện, trường học… Ngoài ra còn có các sản phẩm mộc mỹ
nghệ như các sản phẩm sơn mài, trạm trổ, tượng phật…
2.1.1.2 Phân loại sản phẩm mộc
a) Phân loại theo ngành sản xuất
- Ngành chuyên sản xuất đồ gỗ dân dụng (nội ngoại thất).
- Ngành chuyên sản xuất cánh cửa, khung cửa.
- Vân thớ đẹp: vân thớ tự nhiên và nhân thớ nhân tạo
- Sản phẩm mộc có sự thích ứng môi trường như vị trí ,diện tích xung quanh
- Phù hợp với thời đại, mang tính chất cổ truyền dân tộc, yêu cầu sử dụng tốt, thuận
tiện và tiên nghi trong quá trình sử dụng, chú ý đến điều kiện sử dụng, tâm sinh lý
người sử dụng, và chú ý đến tính chất của nguyên liệu
b) Yêu cầu sử dụng
- Công dụng trực tiếp : thực sự phù hợp với người về tâm lý, lưa tuồi sử dụng ,sử
dụng đúng chức năng , đúng môi trường sử dụng
- Độ bền: Đảm bào điều kiện chịu đựng trong quá trình sử dụng đảm bảo các mối
liên kết bền vững, làm việc an toàn
- Tuổi thọ : Độ bền của sản phẩm kéo dài yêu cầu nguyên vật liệu phải có tuổi thọ
cao, các mối liên kết bền vững
5
- Sản phẩm giữ nguyên hình dáng : các chị tiết bộ phận giữ nguyên hình dáng ban
đầu, không có hiện tượng co rút, biến đổi hình dáng trong quá trình sử dụng
- Tiện nghi, tiện lợi, thoái mái, thuận tiện trong quá trình sử dụng di chuyển sắp xếp
dễ dàng
c) Yêu cầu kinh tế
Sản phẩm đảm bảo yêu cầu thẩm mỹ, yêu cầu sử dụng nhưng chưa đảm bảo yêu
cầu kinh tế thì chưa đảm bảo yêu cầu chung của một sản mộc. Sản phẩm đẹp, sử dụng
tốt nhưng giá thành cao thì vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu về thị hiếu của người tiêu
dùng, chưa có sức cạnh tranh.
2.1.2 Quy trình sản xuất, gia công đồ mộc
2.1.2.1 Khái niệm:
Công nghệ: Bằng những ứng dụng kỹ thuật thay đổi hình dạng, kích thước, bản
chất của nguyên liệu thì gọi là công nghệ
Công nghệ gồm 2 yếu tố: yếu tố thụ động là nguyên liệu, yếu tố chủ động là con
người và trang bị máy móc, công cụ.
- Khâu công nghệ: trong quá trình công nghệ gồm có nhiều khâu, các khâu đó được
gọi là khâu công nghệ. Các khâu công nghệ được thực hiện ở các vị trí khác nhau.
(không kể thời gian dự trữ). Chu kỳ sản xuất ngắn, vòng quay nhanh thì vốn lưu động
cần cho kinh doanh ít.
+ Nhịp độ sản xuất là khoảng thời gian giữa hai sản phẩm kế tiếp nhau đi ra khỏi
khâu công nghệ nào đó.
- Khái niệm về loại hình sản xuất
Căn cứ vào quy mô sản xuất và kế hoạch sản xuất chia ra làm 3 loại hình khác nhau:
+ Sản xuất đơn chiếc
+ Sản xuất hàng loạt khối lượng vừa
+ Sản xuất khối lượng lớn
Một số khái niệm về hoạt động sản xuất khác:
- Thao tác: là những động tác cụ thể của công nhân tác động lên máy móc hoặc
nguyên liệu để biến nó thành sản phẩm.
- Phương thức gia công: Dựa vào các loại máy chia làm 2 phương thức gia công:
+ Phương thức gia công cố định: bàn máy, nguyên liệu cố định, mấy chuyển động
như: máy cưa vòng nằm, khoan đục lỗ…
+ Phương thức gia công di động: ngược lại, nguyên liệu, bàn máy di động như: cưa
đĩa, bào thẩm, bào cuốn, cưa vòng đứng…
7
- Định vị gia công: xác định vị trí của chi tiết, bàn máy để phù hợp vị trí yêu cầu
khi thi công. Một chi tiết cần 1 lần định vị hay 2,3 lần do yêu cầu.
- Nơi làm việc: chính là diện tích để đặt máy và diện tích để cho người công nhân
thao tác, nó chính là một phần thuộc mặt bằng công nghệ.
- Quy trình sản xuất: Từ quy trình công nghệ bố trí trên mặt bằng sản xuất tạo thành
quy trình sản xuất.
Bố trí dây chuyền sản xuất làm sao cho chu kỳ sản xuất ngắn nhất. Khi bố trí quy
trình sản xuất phải chọn các phương án sao cho khâu vận chuyển ngắn nhất.
Ví dụ: Xẻ dọc Cắt ngắn Thẩm Cuốn…
- Lưu trình công nghệ: là gồm các bước gia công chi tiết, nói một cách tổng quát là
không cụ thể từng thiết bị.
Ví dụ: Nguyên liệu Pha cắt phôi Gia công sơ chế Gia công tinh chế lắp
- Hoạt động bố trí sản xuất đòi hỏi có sự nỗ lực và đầu tư rất lớn về sức lực và tài
chính.
- Đây là một vấn đề dài hạn mà sai lầm sẽ khó khắc phục hoặc rất tốn kém
2.1.3.2 Các yêu cầu trong bố trí sản xuất
Do ý nghĩa quan trọng và tính chất phức tạp của bố trí sản xuất cùng với những trở
ngại về công nghệ, tổ chức trong quá trình bố trí sản xuất, để thiết kế phương án bố trí
sản xuất thích hợp với lĩnh vực kinh doanh và điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp,
cần phải đảm bảo những yêu cầu mang tính nguyên tắc sau :
- Tính hiệu quả của hoạt động sản xuất;
- An toàn cho người lao động;
- Thích hợp với đặc điểm với thiết kế của sản phẩm và dịch vụ;
- Phù hợp với khối lượng sản phẩm sản xuất;
- Đáp ứng những đòi hỏi của công nghệ và phương pháp chế biến;
- Thích ứng với môi trường sản xuất bao gồm cả môi trường bên trong và bên ngoài
của doanh nghiệp
2.1.4 Giá thành sản phẩm
2.1.4.1 Khái niệm
Để đánh giá đúng chất lượng hoạt động của doanh nghiệp và phân tích đúng giá
thành sản phẩm , thì chúng ta phải phân biệt được ảnh hưởng của biến đổi giá thành
trong quá trình sản xuất
Để sản xuất ra một sản phẩm thì chúng ta phải cần nhiều yếu tố góp phần tạo ra kết
cấu sản phẩm, ở đây chúng ta đưa ra một số khái niệm cơ bản về giá thành như sau :
9
Giá thành là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp,được biểu hiện bằng tiền, bằng toàn bộ
những hao phí tư liệu sản xuất như trả lương, phụ cấp ngoài lương và chi phí khác
nhằm sản xuất và tiêu thụ một khối lượng sản phẩm nhất định
Hay ta có thể nói đơn giản hơn giá thành là tổng hợp các chi phí đầu vào luôn nhỏ
hơn giá bán sản phẩm, mà giá sản phẩm bán ta bắt buộc phải có lợi nhuận, hơn nữa giá
thành là cơ sở căn cứ quan trọng để công ty quyết định ra giá bán sản phẩm sao cho
phù hợp. Giá thành sản phẩm càng hạ thì lợi nhuận càng cao và ngược lại. Cho nên
+ Giá thành toàn bộ : Bao gồm giá thành công xưởng cộng chi phí lưu thông (tiêu
thụ)
Như vậy ta có rất nhiều loại giá thành khác nhau theo từng thời gian công đoạn cho
ta các con số khác nhau về giá thành. Nhưng mỗi loại giá thành mang một đặc thù
riêng giúp cho dễ so sánh, phân tích các nhân tố ảnh hưởng để làm chỉ tiêu hạ giá thành
sản phẩm
2.1.4.2 Ý nghĩa của việc Hạ giá thành
Hạ giá thành là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của doanh nghiệp, ý nghĩa
quan trọng của hạ giá thành được thể hiện qua các mặt sau:
- Hạ giá thành trong phạm vi từng doanh nghiệp làm cho lợi nhuận của doanh
nghiệp tăng lên, các quỹ của doanh nghiệp ngày càng được mở rộng, đời sống vật chất
và tinh thần của công nhân viên chức ngày càng được nâng cao, điều kiện lao động
ngày càng được cải thiện.
- Hạ thấp giá thành trong phạm vi cả nước là một nguồn vốn quan trọng để mở rộng
tái sản xuất xã hội. Vì giá thành là một bộ phận của giá trị, biểu hiện tiền tệ của giá trị
gọi là giá cả, chênh lệch giữa giá cả và giá thành là tích lũy tiền tệ doanh nghiệp. Muấn
tiến hành công nghiệp hóa xã hội với tốc độ cao đòi hỏi phải có vốn lớn. Nguồn vốn
chủ yếu để thỏa mãn nhu cầu đó phải dựa vào tích lũy nội bộ tức là dựa vào tích lũy
tiền tệ tại các doanh nghiệp. Trong điều kiện giá cả được ổn định, giá thành càng giảm
thì tích lũy tiền tệ càng tăng làm cho nguồn vốn để tái sản xuất xã hội càng nhiều.
- Hạ giá thành còn có ý nghĩa tạo điều kiện quan trọng cho việc hạ thấp giá cả, nâng
cao đời sống vật chất của nhân dân lao động. Khi định giá cả, nhà nước dựa vào giá
thành bình quân toàn ngành của sản phẩm. Vì vậy phần lớn hoặc tất cả các doanh
nghiệp sản xuất cùng loại sản phẩm nào đó đều hạ thấp giá thành thì nhà nước sẽ có
điều kiện xét đến việc hạ thấp giá cả. Tuy nhiên việc hạ giá thành sản phẩm không có ý
nghĩa là hạ thấp chất lượng sản phẩm, mà chất lượng sản phẩm luôn phải được quan
tâm đúng mức để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dung
11
2.1.4.3 Các biện pháp chủ yếu để hạ giá thành sản phẩm
Trong đơn vị sản xuất kinh doanh ngoài việc xác định kế hoạch giá thành đơn vị
Hàng loạt vấn đề giúp ta xem xét để có biện pháp tối ưu, giảm tiêu hao nguyên vật
liệu. Ngoài ra ta phải tăng cường công tác quản lý nguyên vật liệu bằng các biện pháp,
các chế độ chỉ định để nâng cao tinh thần trách nhiệm của công nhân trong sản xuất.
Đông thời động viên khuyến khích các cán bộ kỹ thuật, công nhân viên không ngừng
cải tiến sáng kiến để có biện pháp hữu hiệu giảm chi phí nguyên vật liệu trên một đơn
vị sản phẩm
Cải tiến kết cấu sản phẩm
Yêu cầu đặt ra là sản phẩm phải gọn nhẹ trong quá trình sử dụng, sản phẩm phải
không ngừng cải tiến để phù hợp với yêu cầu kỹ thuật ngày càng cao và đáp ứng thị
hiếu của người tiêu dùng.
Sản phẩm có kết cấu gọn nhẹ đi đôi với việc giảm tỷ trọng nguyên nhiên liệu, chi
phí sẽ thấp hơn, ngày càng phù hợp với yêu cầu của thị trường. Với quy trình công
nghệ tiên tiến chắc chắn sản phẩm làm ra sẽ đảm bảo hơn về yêu cầu kỹ thuật với sản
phẩm cùng loại mà chưa được cải tiến. Trong tương lai không xa, với trình độ khoa
học kỹ thuật ngày càng tiến tiến các sản phẩm có chiều hướng đi vào gọn nhẹ và tinh
vi hơn.
Giảm chi phí vận chuyện, chi phí bốc dỡ và giảm tỷ lệ phế phẩm
Muấn giảm được các chi phí trong vận chuyển bốc dỡ, ta phải có những phương án
hết sức cụ thể như lượng vật tư tồn kho phải phù hợp với yêu cầu sản xuất, kho vật tư
phải gắn với sản xuất, thuận tiện cho việc cấp phát vật tư hàng ngày, đồng thời cần
tránh nhiều khâu trung gian trong cấp phát vật tư.
Giảm tối đa tỷ lệ phế phẩm , sản phẩm hỏng trong sản xuất, ta luôn phải phấn đấu
để hạ thấp nhất có thể tỷ lệ phế phấm. Nhưng trong thực tế tỷ lệ này là không thể
lường trước được
Tỷ lệ phế phẩm hỏng phụ thuộc vào các yếu tố
- Quy cách của vật tư
- Tình trạng thiết bị
- Trình độ công nhân cao hay thấp
- Điều kiện làm việc và nơi làm việc
Muấn tỷ lệ phế phẩm hạ ở mức thấp nhất thì các yếu tố trên phải đươc đảm bảo
)
- Vật liệu liên kết (G
VLLK
)
b) Các chi phí liên quan khác
- Chi phí động lực sản xuất (G
DL
)
Là chi phí điện năng cung cấp cho các thiết bị máy móc hoạt động và chi phí
điện năng cung cấp cho thắp sang trong quá trình sản xuất
- Chi phí tiền lương công nhân (G
L
)
- Chi phí khấu hao máy móc (G
M
)
- Chi phí quản lý nhà máy (G
QL
)
c) Giá thành sản phẩm xuất xưởng
14
G
SP
= G
NL +
G
VLP
+ G
VLLK
+ G
Sản phẩm được nhập kho thành phẩm, sẵn sàng cung cấp cho thị trường.
Chu kỳ sản xuất dài làm cho vốn đầu tư trong các doanh nghiệp lâm nghiệp phải
nằm rất lâu trong quá trình sản xuất dưới dạng sản phẩm dở dang, vì thế quay vòng vốn
rất chậm, rất lâu được thu hồi, dẫn đến hiệu quả kinh tế trong kinh doanh lâm nghiệp
thường thấp , độ rủi ro cao.
2.1.6.2 Đặc điểm về địa bàn hoạt động của doanh nghiệp lâm nghiệp
15
Gắn liền với tư liệu sản xuất chủ yếu là rừng và tài nguyên rừng, các doanh nghiệp
lâm nghiệp thường được phân bổ hoặc có vùng nguyên liệu ở các nơi xa xôi hẻo lánh,
địa hình phức tạp, cở sở hạ tầng kém phát triển
Đặc điểm này đặt các doanh nghiệp lâm nghiệp trước những khó khăn trong tổ
chức sản xuất, cũng như khâu vận chuyển nguyên liệu và thành phẩm.
Đặc điểm này đòi hỏi các doanh nghiệp cần có phương án chủ động xây dựng cơ sở
hạ tầng và tổ chức các dịch vụ hỗ trợ cho công tác chế biến trong doanh nghiệp
2.1.6.3 Tính mùa vụ trong sản xuất
Trong sản xuất lâm nghiệp có nhiều hoạt động mang tính thời vụ ở các mức độ
khác nhau, làm nẩy sinh các yêu cầu nhất định trong quá trình tổ chức sản xuất của các
doanh nghiệp
Tính mùa vụ được quyết định bởi đối tượng lao động chủ yếu là cây rừng, là những
thực thể sinh học. Hơn nữa sản xuất lâm nghiệp thường diễn ra ở điều kiện ngoài trời
nên chịu ảnh hưởng rất mạnh của yếu tố thời tiết.
Tính mùa vụ của sản xuất đòi hỏi doanh nghiệp phải xây dựng được phương án tổ
chức sản xuất, tổ chức lao động hết sức linh hoạt và khoa học để vừa tận dụng được
những điều kiện thuận lợi, tránh được những ảnh hưởng bất lợi của thời tiết trong tổ
chức sản xuất, đồng thời phải chủ động áp dụng các biện pháp tổ chức-kỹ thuật thích
hợp để hạn chế đến mức thấp nhất những ảnh hưởng của tính mùa vụ đối với sản xuất
kinh doanh.
2.1.7 Đặc điểm của mặt hàng lâm sản ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm
2.1.7.1 Đặc điểm về sản phẩm
- Là một công ty chuyên khai thác và chế biến mặt hàng lâm sản, trước hết sản
9. Ghép dọc
10. Cắt quy cách thô
11. Máy bào 4 mặt
12.Chọn quy cách , chọn màu
13. Trải keo
14. Ghép ngang
15. Máy rong quy cách
16. Máy cắt tinh quy cách
17. Máy chà nhám phá
18.Máy chà nhám tinh
Tuy nhiên, các loại sản phẩm đó được phân chia theo từng cấp tuỳ theo yêu cầu của
khách hàng (sản phẩm chất lượng cao hay thấp).
- Trong nền kinh tế ngày nay, do sự tác động của nền kinh tế thị trường cùng với sự
hội nhập kinh tế đang diễn ra từng ngày, từng giờ, các sản phẩm nhập ngoại có chất
lượng cao, mẫu mã đẹp đi đôi với chất lượng của sản phẩm cạnh tranh rất mạnh với
các loại sản phẩm trong nước, làm cho nhu cầu về hình thức mẫu mã sản phẩm, chất
lượng sản phẩm của doanh nghiệp cũng được đẩy lên rất cao, đòi hỏi doanh nghiệp sản
xuất mặt hàng lâm sản như công ty Cổ phần chế biến gỗ cao su DakLak thường xuyên
17
phải tiếp cận những công nghệ, máy móc mới cũng như thiết kế những kiểu dáng mẫu
mã của các sản phẩm đi đôi với chất lượng của sản phẩm để đáp ứng nhu cầu ngày
càng cao của khách hàng. Việc doanh thu của loại hình sản xuất này mang lại lợi nhuận
rất cao nên nó ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Ngoài ra khi sản xuất loại sản phẩm này đều không gây mất nhiều chi phí bảo
quản dẫn đến giảm chi phí sản xuất kinh doanh và tăng hiệu quả kinh doanh cho doanh
nghiệp.
- Một đặc điểm nữa về sản phẩm là được sản xuất theo nhu cầu thị trường và đơn
đặt hàng của khách hàng, đặc điểm này có thuận lợi là không có nhiều hàng tồn kho ứ
đọng hay thất thoát vốn, nhưng cũng chính đặc điểm này làm cho doanh nghiệp không
chủ động được nhiều trong việc sản xuất kinh doanh để nâng cao hiệu quả cũng như tiết
quản lý rừng tại Việt Nam và các doanh nghiệp chế biến gỗ Việt Nam đang phụ thuộc
chủ yếu vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu với tỷ trọng không nhỏ thường không có
nguồn gốc rõ ràng. Theo như số liệu công bố trên website của FSC, đến cuối tháng
3/2008 Việt Nam mới có 151/2.500 cơ sở chế biến gỗ được cấp giấy chứng nhận quản
lý rừng bền vững FSC-CoC và FSC.
- Trở thành thành viên của WTO, bên cạnh những cơ hội ngành công nghiệp chế
biến gỗ Việt Nam ngày càng phải đối mặt nhiều hơn với các mặt hàng gỗ của các nước
cả ở thị trường trong và ngoài nước. Các lợi thế tương đối của ngành công nghiệp chế
biến gỗ Việt Nam như lao động dồi đào, khéo léo, giá nhân công rẻ, chi phí thấp … sẽ
bị hạn chế bởi các sản phẩm tương tự của các nước có điều kiện tương đồng, đặc biệt
áp lực cạnh tranh từ Trung Quốc, Đài Loan và các nước trong khu vực như Thái Lan,
Indonesia, Malaysia … Chỉ tính riêng Trung Quốc đã có trên 50.000 cơ sở sản xuất với
hơn 50 triệu nhân công và sản xuất với doanh số gần 20 tỷ USD/năm.
- Sản xuất đồ gỗ trên thế giới hiện là ngành hàng tăng trưởng với tốc độ rất nhanh
2.2.2 Công nghiệp chế biến gỗ ở việt nam
Trong những năm qua, ngành công nghiệp chế biến gỗ đã có bước phát triển vượt
bậc, kim ngạch xuất khẩu hàng năm tăng 30 - 40%, đã đưa Việt Nam trở thành một
trong những quốc gia xuất khẩu đồ gỗ hàng đầu trong khu vực và thế giới. Hiện cả
nước có 2.562 doanh nghiệp chế biến gỗ và 27.000 cơ sở chế biến gỗ nhỏ lẻ, trong đó
có 421 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài . Đã hình thành các cụm công nghiệp
chế biến gỗ có quy mô lớn, gồm: cụm các tỉnh miền Đông Nam Bộ, gồm TP.HCM,
Đồng Nai và Bình Dương; cụm các tỉnh Tây Nguyên và Nam Trung Bộ; cụm Hà Nội
và các tỉnh lân cận. Trong đó, cụm các tỉnh miền Đông Nam Bộ trở thành một khu liên
hợp chế biến đồ gỗ cao cấp, lớn nhất nước.
19
Bảng
2.3
Phân
sản
xuấ
t
Diện
tí
ch
(ha) Cơ
cấu
(%)
Cả
nước 4.787.711 100 2526
Miền
Bắc 2.045.252 42,71 497
Tây
Bắc 105.018 2,20 216
Đông
bắc 1.110.777 23,18 135
ĐB
Sông
Long 182.089 3,69 166
Nguồn: Trên internet
Theo Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, năng lực sản xuất của ngành công nghiệp
chế biến gỗ ước đạt trên 7 triệu m3 gỗ tròn/năm; trong đó, của các nhà máy băm dăm
mảnh khoảng 4 triệu m3, sản xuất gỗ xẻ khoảng 3 triệu m3 và tổng công suất thiết kế
sản phẩm gỗ khoảng 2 - 2,5 triệu m3 sản phẩm. Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ đã
tăng từ 219 triệu USD năm 2000 lên 2,4 tỷ USD năm 2007 và năm 2008 là 2,8 tỷ USD.
Sản phẩm gỗ của Việt Nam đã có mặt trên thị trường của 120 quốc gia. Một số thị
trường lớn tiêu thụ sản phẩm gỗ của Việt Nam như Mỹ chiếm 41%, EU 28% và Nhật
12,8% tổng giá trị sản phẩm gỗ xuất khẩu của VN.
Các sản phẩm xuất khẩu chủ yếu của ngành công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam
được chia thành 4 nhóm chính:
- Nhóm thứ nhất: Nhóm sản phẩm đồ gỗ ngoài trời, bao gồm các loại bàn ghế sân
vườn, ghế băng, che nắng, ghế xích đu … làm hoàn toàn từ gỗ hoặc kết hợp với các vật
liệu khác như sắt, nhôm, nhựa. Đây là nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam
hiện nay, chiếm đến 90% kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ.
- Nhóm thứ hai: Nhóm sản phẩm đồ gỗ trong nhà, bao gồm các loại bàn ghế,
giường tủ, giá kê sách, đồ chơi, ván sàn … làm hoàn toàn từ gỗ hoặc gỗ kết hợp với
20
các vật liệu khác như da, vải, kim loại, song mây. Nhóm hàng này đang có sự tăng
trưởng nhanh trong những năm gần đây, chủ yếu xuất sang thị trường Mỹ.
- Nhóm thứ ba: Nhóm đồ mỹ nghệ, chủ yếu từ gỗ rừng tự nhiên bao gồm bàn, ghế,
tủ và các vật dụng nội thất khác, sử dụng các công nghệ chạm, khắc, khảm. Kim ngạch
xuất khẩu hàng năm đạt khoảng 30 triệu USD.
- Nhóm thứ tư: Sản phẩm dăm gỗ, sản xuất từ gỗ rừng trồng mọc nhanh như các
loại gỗ keo tai tượng, keo lai, keo lá tràm, gỗ bạch đàn … Chiếm 21 - 23% tổng kim
ngạch xuất khẩu của ngành công nghiệp chế biến gỗ. Thị trường xuất khẩu chủ yếu,
gồm: Nhật 55,7%, Hàn Quốc 5,6%, Đài Loan 3,7% và Trung Quốc 35%.
trọng đến đầu tư công nghệ, đào tạo lao động và thiếu các nhà thiết kế sản phẩm có tính
chuyên nghiệp để tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao, mang bản sắc riêng và đáp
ứng được yêu cầu của thị trường.
- Hầu hết các doanh nghiệp đều thiếu cán bộ quản lý, kỹ sư giỏi và công nhân lành
nghề, dẫn đến năng suất lao động thấp, hiệu quả sản xuất không cao. Hiện năng suất
của ngành công nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu Việt Nam chỉ xấp xỉ bằng 25% của Châu
Âu và chưa đến 50% của Trung Quốc. Tỷ lệ lao động có trình độ đại học chỉ chiếm
3%, công nhân kỹ thuật gần 30%, số còn lại gần 70% hầu hết là lao động phổ thông.
Giá trị xuất khẩu của ngành công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam hiện chỉ đạt dưới
10.000 USD/công nhân/năm, trong khi tại Trung Quốc là 16.000 USD, Malaysia là
17.000 USD
22
- Thách thức từ thiếu nguyên liệu. Với 80% nguyên liệu gỗ lệ thuộc vào bên ngoài,
ước mỗi năm Việt Nam phải nhập khẩu khoảng 5 - 6 triệu m3 với giá cao hơn rất nhiều
so với giá nguyên liệu cùng loại trong nước. Theo kết quả điều tra của dự án GTZ được
thực hiện tại Bình Định và khu vực Tây Nguyên công suất của các nhà máy chế biến
gỗ chỉ đạt khoảng 50%, nguyên nhân chủ yếu là do thiếu nguyên liệu. Việc phụ thuộc
vào nguyên liệu gỗ nhập khẩu khiến các doanh nghiệp luôn phải đối mặt với nhiều khó
khăn và cũng chính là yếu điểm lớn nhất của ngành công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam
hiện nay.
- Năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam còn yếu. Phần
lớn các doanh nghiệp chưa sẵn sàng cho quá trình hội nhập, thiếu chiến lược và các
chính sách thích ứng để thâm nhập vào thị trường thế giới. Mức độ phổ cập thông tin
liên quan đến WTO và các quy định quốc tế về quản lý lâm nghiệp bền vững tới các
doanh nghiệp còn thiếu và chưa đồng bộ.
2.2.3 Công tác chế biến gỗ tại Daklak
- Hoạt động chế biến lâm sản ở DakLak thiếu bền vững bởi công nghiệp chế biến
thô sơ, chưa được đầu tư chiều sâu. Từ năm 2001 đến nay, giá trị sản xuất ngành chế
biến lâm sản của tỉnh DakLak chiếm 25-30% giá trị sản xuất công nghiệp chế biến và
50-60% giá trị chế biến nông, lâm sản; kim ngạch xuất khẩu đạt 6-7,5 triệu USD. Tuy
Phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản đến năm 2015, ngành chế biến gỗ
DakLak sẽ có sự sắp xếp, củng cố lại theo các tiêu chí: không gần rừng, không gây ô
nhiễm môi trường, không gần khu dân cư; phân bố hợp lý trên địa bàn các huyện, thị
xã, thành phố; ưu tiên phát triển đối với những cơ sở có vùng nguyên liệu ổn định,
khuyến khích doanh nghiệp đầu tư dây chuyền công nghệ hiện đại, nâng cao giá trị
xuất khẩu bằng các sản phẩm tinh chế.
24
PHẦN THỨ BA:
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Tổng quan về công ty cổ phần chế biến gỗ cao su Daklak
3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty cổ phần chế biến gỗ cao su
Daklak
Tiền thân của Công ty cổ phần chế biến gỗ cao su Daklak là Công ty trách nhiệm
hữu hạn Cao Lâm giấy phép số : 001418 DP/TLDN-02 do Uỷ ban Nhân dân Tỉnh
Đaklak cấp ngày 22/02/1995. Giấy phép kinh doanh số 04442 do Sở kế hoạch và Đầu
tư Tỉnh Daklak cấp ngày 15/3/1995 . Năm 2002 giải thể Công ty Cao Lâm.
Xí nghiệp chế biến gỗ cao su trực thuộc Công ty cao su Daklak được thành lập
theo quyết định số : 128/QĐ-CT ngày 26 tháng 6 năm 2002 của Công ty cao su
Daklak.
Công ty cổ phần chế biến gỗ cao su Daklak được thành lập theo quyết định số
1515/QĐ-UBND ngày 06 tháng tháng 7 năm 2007 của Uỷ ban Nhân dân Tỉnh Daklak
“V/v phê duyệt phương án và chuyển Xí nghiệp chế biến gỗ thuộc Công ty cao su
Daklak thành Công ty cổ phần chế biến gỗ cao su Daklak. Giấy chứng nhận kinh doanh
số: 40.03.000167 do Sở kế hoạch và đầu tư Tỉnh Daklak cấp ngày 31 tháng 12 năm
2007.
- Tên doanh nghiệp: Công ty cổ phần chế biến gỗ cao su Daklak
- Tên giao dịch quốc tế: Daklak Rubber Wood Processing Joint-stock Company.
- Tên viết tắt: Dakruwood
- Địa chỉ: Km 19, Quốc lộ 14, Xã ÊaDrơng, Huyện CưM’gar, Tỉnh Daklak.
- Điện thoại: (0500) 3536135 – 3536034