THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨMỞ CÔNG TY QUY CHẾ TỪ SƠN - Pdf 75

THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ
SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨMỞ CÔNG TY QUY CHẾ
TỪ SƠN (TUFA CO)
I - ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH CHUNG CỦA CÔNG TY QUY CHẾ TỪ SƠN.
1 - Quá trình hình thành và phát triển của công ty.
Như chúng ta đã biết, một vấn đề luôn được đặt ra đối với các doanh nghiệp
là làm thế nào để kết hợp hài hoà cân đối và linh hoạt giữa cung và cầu thị
trường. Từ sự cần thiết của các sản phẩm bu lông, ốc vít, vòng đệm phẳng, vòng
đệm vênh......đối với các ngành công nghiệp như điện, xây dựng, cơ khí và khai
thác mỏ......đặc biệt là đối với ngành cơ khí. Ngoài ra còn một số sản phẩm đặc
biệt có chất lượng cao phục vụ cho ngành chế tạo máy, đường sắt, cầu cống,
đường dây, đóng tàu và trạm dây truyền sản xuất xi măng các loại chi tiết phục vụ
cho lắp ráp ô tô, xe máy, xe đạp. Sản phẩm được bảo vệ bộ mặt bằng công nghệ
nhuộm đen, mạ điện phân, nhúng kẽm nóng chảy đều chất lượng cao của nền
kinh tế thị trường ở nước ta.
Xuất phát từ yêu cầu đó, ngày 18/11/1963 Bộ công nghiệp đã ra quyết định
thành lập nhà máy Quy chế Từ Sơn. Đây là nhà máy đầu tiên của nước ta được
xây dựng tại thị trấn Từ Sơn - Huyện Từ Sơn - Bắc Ninh. Gần 40 năm thử thách
và phát triển, nhà máy Quy chế Từ Sơn đã đóng góp một phần đáng kể sản phẩm
của mình vào nền công nghiệp của nước nhà. Để đáp ứng nhu cầu về sản xuất
kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, tháng 10/2000 nhà máy đổi tên thành
công ty Quy chế Từ Sơn.
Nằm kề quốc lộ 1A cách thủ đô Hà Nội 18km về phía bắc, thuận lợi cho việc
lưu thông sản phẩm hàng hoá. Công ty Quy chế Từ Sơn là một doanh nghiệp nhà
nước, hoạt động sản xuất kinh doanh thuộc tổng công ty máy và thiết bị công
nghiệp - Bộ công nghiệp với tổng diện tích đất kinh doanh vào khoảng 40000m,
với năng lực ban đầu được nhà nước trang bị gồm:
Nhà xưởng: 1456m²
Máy móc thiết bị: 22 cái
1 1
Nguồn vốn: 285000đồng

thử thách đó để bước vào một thời kỳ mới. Cùng với các chủ trương chính sách
của nhà nước, công ty đã vận dụng kịp thời các chủ trương chính sách đó phù hợp
với điều kiện của mình đồng thời áp dụng những biện pháp quản lý mới như tổ
chức lại sản xuất, tìm kiếm thị trường...
Một số chỉ tiêu về sản xuất kinh doanh qua các năm:
TT Chỉ tiêu ĐVT 2001 2002 2003
Dự kiến
2004
1 Nguồn vốn SXKD Trđ 3.291 3.390 3.592
2 Giá trị tổng sản lượng Trđ 8.600 7.931 9.200 9.500
3 Doanh thu tiêu thụ Trđ 11.610 10.748 11.500 12.700
4 Nộp ngân sách Trđ 285 280 280 300
5 Số lượng CBCNV Người 500 500 495 490
6 Thu nhập BQ đ/ngườ
i
550.000 600.000 650.000 700.000
2 - Đặc điểm tổ chức sản xuất và tổ chức quản lý sản xuất của công ty.
2.1 - Tổ chức sản xuất.
Công ty Quy chế Từ Sơn với diện tích mặt bằng sử dụng cho hoạt động sản
xuất kinh doanh là 1456m², tổng số công nhân viên toàn công ty là 576 người
trong đó 70,8% là nam, 53 người có trình độ đại học và trên đại học.
- Cơ cấu tổ chức:
+ Lao động trực tiếp: 274 người
+ Lao động gián tiếp: 83 người
+ Lao động phụ trợ khác: 69 người
- Cơ cấu bậc thợ:
+ Bậc 7/7: 4 người
+ Bậc 6/7: 10 người
+ Bậc 5/7: 50 người
+ Bậc 4/7: 219 người

PX mạ-lắp ráp
4
VP Công ty
Phòng TC-

Phòng SX-
KD
Ban bảo vệ
Ban kho
4

5 5
Cơ chế quản lý của công ty được thực hiện theo một đường thẳng, những người
thừa hành nhận chỉ thị và thi hành mệnh lệnh của cấp trên trực tiếp, người phụ
trách sẽ chịu trách nhiệm hoàn toàn vào kết quả công việc của những người dưới
quyền mình. Các phòng ban trong công ty có chức năng, nhiệm vụ riêng nhưng
vẫn có mối liên hệ chặt chẽ với nhau về nghiệp vụ. Chức năng, nhiệm vụ cụ thể
của từng bộ phận trong bộ máy của công ty là:
Lãnh đạo công ty là ban giám đốc, gồm 1 giám đốc và 2 phó giám đốc ( 1 phó
giám đốc phòng sản xuất kinh doanh và phó giám đốc phòng kỹ thuật ). Giám đốc
công ty hiện nay là kỹ sư Nguyễn Xuân Liên, ông có nhiệm vụ điều hành quản lý
hoạt động kinh doanh của công ty, là người ra quyết định cuối cùng và là người
đại diện cho công ty chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của công ty trước pháp
luật.
Giúp việc cho giám đốc là phó giám đốc, giúp giám đốc điều hành công ty
theo phân công và uỷ quyền của giám đốc, chịu trách nhiệm trước giám đốc về
nhiệm vụ được ban giám đốc phân công và uỷ quyền.
Mỗi phòng ban có 1 trưởng phòng, 1 phó phòng và các nhân viên giúp việc.
Mỗi phân xưởng gồm có 2 bộ phận.
* Bộ phận văn phòng: Gồm có 1 quản đốc,1phó quản đốc, nhân viên thống

xuất, tham mưu, đề xuất các biện pháp nâng cao chất lượng sản phẩm và thực
hiện đăng ký quyền sở hữu công nghiệp đối với các sản phẩm do công ty sản
xuất.
+ Ban bảo vệ: Chịu trách nhiệm về công tác an ninh trật tự trong công ty, lập
báo cáo tình hình quản lý tài sản của công ty theo định kỳ.
+ Ban kho: Chịu trách nhiệm về công tác nhập xuất vật tư, sản phẩm hàng
hoá và bảo quản lượng hàng tồn kho, đảm bảo chất lượng tốt.
* Các phân xưởng sản xuất: Có chức năng nhiệm vụ thực hiện kế hoạch sản
xuất của công ty giao cho và kế hoạch sản xuất do phân xưởng tự tìm kiếm. Mỗi
phân xưởng có quản đốc và 1 hoặc 2 phó quản đốc, gồm có 8 đơn vị sản xuất
chính sau:
7 7
+ Phân xưởng dập nóng: Sản xuất bằng công nghệ dập nóng có sản phẩm chủ
yếu là bu lông, đai ốc bán tinh và thô trong đó có các nguyên công chủ yếu là dập
nóng.
+ Phân xưởng dập nguội: Là đơn vị sản xuất sản phẩm bằng công nghệ dập
nguội có sản phẩm chủ yếu là bu lông, đai ốc bán tinh, trong đó có các nguyên
công chủ yếu là dập nguội.
+ Phân xưởng cơ khí: Công nghệ chủ yếu là gia công cắt gọt có sản phẩm
chủ yếu là bu lông, đai ốc đặc chủng và các loại bu lông tắc kê ô tô.
+ Phân xưởng mạ lắp ráp: Là khâu cuối cùng của quy trình công nghệ hoàn
chỉnh sản phẩm nhập kho thành phẩm cho tiêu thụ. Tuy nhiên không phải sản
phẩm nào cũng qua phân xưởng này mà các phân xưởng có thể hoàn chỉnh và đưa
ngay ra tiêu thụ.
+ Phân xưởng dụng cụ: Chuyên chế tạo khuôn cối, chày dập phục vụ sản xuất
sản phẩm chính.
+ Phân xưởng cơ điện: Chuyên sửa chữa, chung đại tu máy móc thiết bị, sản
xuất các phụ tùng thay thế phục vụ sản xuất.
+ Ngành cơ khí dân dụng: Chuyên sản xuất các đồ cơ khí dân dụng, thiết bị
công nghiệp phục vụ trong lĩnh vực công nghiệp.

Kho thành
phẩm
Tiêu thụ
Dụng cụ
Ghi chú:
: Đường phục vụ sản xuất
9 9
: Đường đi của phôi trực tiếp tạo ra sản phẩm chính
* Công tác quản lý chất lượng sản phẩm.
Công ty coi công tác quản lý chất lượng sản phẩm là mục tiêu sống còn, là
tương lai và sự phát triển bền vững của công ty. Vì vậy công ty đã đề ra các biện
pháp nhằm quản lý chất lượng một cách có hiệu quả, cụ thể là:
- Thường xuyên là tốt công tác tuyên truyền cho cán bộ công nhân viên thấy
được tác dụng của việc quản lý và nâng cao chất lượng sản phẩm.
- Không ngừng nâng cao trình độ tay nghề của công nhân sản xuất.
4 - Những thuận lợi và khó khăn của công ty.
A - Những thuận lợi.
- Công ty Quy chế Từ Sơn nằm kề quốc lộ 1A tuyến đường Hà Nội – Lạng
Sơn nên thuận tiện cho việc vận chuyển nguyên vật liệu.
- Công ty có đội ngũ cán bộ quản lý đầy sáng tạo, có năng lực trình độ, nhiệt
tình công tác, không ngừng nâng cao tay nghề chuyên môn.
- Đội ngũ công nhân trực tiếp sản xuất có trình độ tay nghề cao, luôn đoàn kết,
ham học hỏi.
- Có trang thiết bị phục vụ cho công tác kế toán đã được nâng lên và hoàn
thiện dần, phù hợp với trình độ của kế toán viên, đã tạo điều kiện nhanh chóng
trong công tác kế toán.
b - Những khó khăn.
- Do thị trường chung cả nước cũng như thị trường riêng của công ty luôn có
sự biến động nên công tác kiểm soát của công ty gặp nhiều khó khăn, trình độ
nắm bắt thị trường của công ty chưa tốt dẫn đến việc tiêu thụ sản phẩm của công

phẩm
-
Kế
toán
tiền
lương
& các
Kế
toán
NVL
CCD
C
Kế
toán
bán
h ngà
Kế
toán
TSCĐ

nguồn
Kế
toán
NH
kiêm
thủ
Kế
toán
NH
kiêm

nhau trong phạm vi chức năng và quyền hạn của mình.
b - Hình thức kế toán tại công ty.
Hình thức kế toán là một hệ thống tổ chức sổ kế toán bao gồm số lượng sổ, kết
cấu mẫu sổ và mối quan hệ giữa các loại sổ trong việc tổ chức thực hiện, ghi chép
phản ánh, tổng hợp số liệu từ các chứng từ kế toán. Có nhiều hình thức ghi sổ,
mỗi hình thức có một đặc điểm riêng, có hệ thống sổ kế toán riêng, có ưu điểm và
12 12
nhược điểm khác nhau. Do vậy doanh nghiệp phải căn cứ vào điều kiện thực tế cụ
thể của mình để lựa chọn hình thức cho phù hợp.
Xuất phát từ quy mô sản xuất, yêu cầu quản lý và trình độ quản lý của đội ngũ
cán bộ kế toán, công ty áp dụng phương pháp ghi sổ kế toán theo hình thức “
Nhật ký chứng từ ”. Hình thức này được cụ thể hoá bằng sơ đồ sau:
13 13
Sơ đồ 05 : trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức nhật ký chứng từ ở công ty
Quy chế Từ Sơn
Chứng từ gốc và các bảng phân bổ
Bảng Nhật ký chứng từ Sổ, thẻ KT chi tiết


Sổ cái Bảng TH chi tiết
Báo cáo tài chính
Ghi chú :
: Ghi hàng ngày
: Ghi cuối tháng
: Quan hệ đối chiếu
14 14
Bảng 01: Hệ thống sổ sách theo hình thức nhật ký chứng từ
tại công ty Quy chế Từ Sơn
Số hiệu sổ
Nội dung ghi sổ

15 15
Trong kỳ công ty sản xuất nhiều sản phẩm khác nhau, các nghiệp vụ phát sinh
liên quan đến khoản mục hàng tồn kho nhiều. Do đó để đảm bảo cung cấp kịp
thời và liên tục các thông tin về khoản mục này, làm cơ sở cho việc xác định kết
quả sản xuất kinh doanh trong kỳ, công ty hạch toán hàng tồn kho theo phương
pháp kê khai thường xuyên.
d - Phương pháp hạch toán thuế GTGT áp dụng tại công ty.
Công ty áp dụng hình thức hạch toán thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ,
cụ thể:
Thuế GTGT tính Doanh số bán ra % thuế suất thuế
theo phương pháp khấu trừ chưa có thuế GTGT theo quy định
Thuế GTGT đầu vào được tính toán kê khai trên cơ sở toàn bộ số hoá đơn
của vật tư, hàng hoá dịch vụ.......mua vào trong tháng theo quy định của luật thuế
GTGT.
Thuế đầu ra được tính toán kê khai trên cơ sở toàn bộ số hoá đơn của vật tư,
hàng hoá dịch vụ........bán ra trong tháng theo quy định của luật thuế GTGT.
II - THỰC TRẠNG TỔ CHỨC KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH
GIÁ THÀNH SẢN PHẨM LẮP XIẾT CƠ KHÍ Ở CÔNG TY QUY CHẾ TỪ SƠN.
1 - Công tác quản lý chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở công ty
quy chế từ sơn.
Chỉ tiêu giá thành là chỉ tiêu chất lượng quan trọng, có tính chất tổng hợp,
phản ánh chất lượng công tác hoạt đông sản xuất kinh doanh của công ty.
Yêu cầu của công tác hạch toán là tính đúng, tính đủ chính xác giá thành sản
phẩm thực tế nên cần phải hạch toán đúng, đủ chính xác chi phí sản xuất. Muốn
quản lý tốt quá trình hạch toán đó thì đòi hỏi phải tích cực hoàn thiện công tác tập
hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Việc hạch toán chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm phải xác định đúng nội dung chi phí trên cơ sở áp
dụng phương pháp tính giá thích hợp.
2 - Đối tượng, phương pháp tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm ở công ty quy chế Từ Sơn.

17 17
- Nhiên liệu: Có tác dụng cung cấp nhiệt lượng để phục vụ cho quá trình sản
xuất. Ở nhà máy nhiên liệu thường dùng là than, điện. Còn về công cụ dụng cụ ở
nhà máy là những công cụ dụng cụ phục vụ cho việc thay thế và sửa chữa, nó bao
gồm: dao cắt, cối cắt, chày dập vát, lò so dao cắt..........toàn bộ được tập hợp trên
TK153 “công cụ dụng cụ ”.
Đối với kế toán vật tư nhà máy phải theo dõi cả về số lượng và giá trị của
nguyên vật liệu và công cụ dụng cụ xuất dùng trong kỳ để làm cơ sở tập hợp chi
phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
Cơ sở để tập hợp chi phí nguyên vật liệu là các phiếu xuất kho. Khi có kế
hoạch sản xuất, phòng phục vụ sản xuất căn cứ vào kế hoạch sản xuất, phòng
chuẩn bị sản xuất căn cứ vào kế hoạch sản xuất trong tháng và đơn đề nghị xuất
vật tư đã được duyệt viết phiếu xuất kho vật tư. Sau đó chuyển phiếu xuất kho
cho quản đốc phân xưởng nhận được phiếu xuất kho cho người đến nhận vật tư
tại kho của công ty. Thủ kho căn cứ vào số lượng ghi trên phiếu xuất kho để xuất
vật tư cho các phân xưởng.
Sau khi xuất vật tư, thủ kho phân loại phiếu xuất kho và chuyển ngay đến bộ
phận kế toán nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu, động lực để
thực hiện hạch toán.
Kế toán tập hợp được trong tháng 12/2003 như sau:
- Nguyên vật liệu chính xuất kho cho sản xuất có giá trị: 413.177.892
- Nguyên vật liệu phụ : 9.865.976
- Toàn bộ công cụ dụng cụ : 36.482.731
Sau khi tập hợp số liệu trên, kế toán lấy đó làm căn cứ để lập bảng phân bổ
số 2 “ Bảng phân bổ nguyên vật liệu công cụ dụng cụ ”.
Công ty Quy chế Từ Sơn là một công ty cơ khí chuyên sản xuất các loại sản
phẩm bu lông, đai ốc...........đa dạng hoá chủng loại sản phẩm, có những kích thước
quy cách khác nhau. Vì thời gian thực tập có hạn nên không thể tính hết được các
loại sản phẩm của công ty nói chung và phân xưởng nói riêng. Do vậy ở chuyên
đề này em chỉ tính giá thành thực tế cho một loại sản phẩm điển hình là bu lông


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status