quy luật giá trị của C.Mác trong bộ tư bản tiểu luận cao học - Pdf 35

LI M U
Thời đại ngy nay, khi tình hình kinh tế thế giới có nhiều thay đổi biến
chuyển ngy cng phức tạp, các mối quan hệ giao thơng ngày càng đợc phát
triển và mở rộng thì kinh tế v chính trị trong n ớc cũng đã vặn mình tiến lên để
thích nghi với xu thế của thời đại. Nền kinh tế chuyển từ nền kinh tế thủ công
lạc hậu sang kinh tế thị trờng, phát triển nền kinh t hàng hoá nhiều thành phần
với sự lãnh đạo chỉ đờng của Nhà nớc theo nh hng xó hi ch ngha. Toàn
Đảng, toàn dân tích cực hoàn thành công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá đất
nớc với mục tiêu dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng văn minh. Việt Nam là
nớc trải qua thời qua thời kì chiến tranh dài và chịu hậu quả nặng nề của chiến
tranh, nền kinh tế còn lạc hậu so với các nớc trên thế giới. Tuy nhiờn trớc xu thế
hiện đại với sự ủng hộ, hợp tác của các nguồn lực bên ngoài, đất nớc đã đang đổi
mới cơ cấu kinh tế, cơ sở kỹ thuật cùng với đội ngũ lao động bên trong dồi dào
với phẩm chất thông minh, sáng tạo đang chờ đợc khai thác, sử dụng,chúng ta
đang thật sự có những bớc tiến khởi sắc. Trớc tình trạng hiện nay, việc nắm bắt
và vận dụng các quy luật kinh tế hàng hoá là rất cần thiết, bởi chúng là những cơ
sở để kinh tế hàng hoá phát huy tác dụng. Một trong những qui luật cơ bản ấy là
quy luật giá trị.Quy lut giỏ tr l c s ca mi nn tng kinh t, th hin s
chi phi ca nú trong quỏ trỡnh sn xut, phõn phi, trao i, lm sao cho cỏc
quỏ trỡnh ú phự hp vi nhng c im tiờu dựng v tớch tr xó hi. Việc hiểu
rõ qui luật giá trị trong nền kinh tế hàng hoá là rất cần thiết, nó đòi hỏi việc sản
xuất hàng hoá phải lấy giá trị là thớc đo. Với chủ trơng phát triển kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần định hớng xã hội chủ nghĩa nh giai đoạn quá độ ở nớc ta
thì kinh tế thị trờng là yếu tố khách quan không thể thiếu đợc. ở đâu còn sản
xuất và trao đổi hàng hoá thì nơi đó còn quy luật giá trị. Do đó vai trò của nó
trong nền kinh tế thị trờng là rất quan trọng và không thể thiếu đợc.
Nghiên cứu quy luật giá trị có phạm vi nghiên cứu rất rộng bởi những tác
động, ảnh hởng của quy luật giá trị tới kinh tế hàng hoá là rất lớn.Với giới hạn
cho phép của một tiểu luận, em chỉ xin nêu những tác động chung nhất của quy
luật giá trị đến sự phát triển nền kinh tế hàng hoá cũng nh ý nghĩa vận dụng lý
luận này trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trờng định hớng Xã Hội Chủ

1.1. Yêu cầu của quy luật giá trị.
Trớc hết để tìm hiểu về những yêu cầu của quy luật giá trị ta tìm hiểu quy
luật giá trị là gì ? Cùng với sự xuất hiện của nền kinh tế hàng hoá, đã có nhiều
những qui luật kinh tế ra đời. Nó hoạt động không phụ thuộc vào ý chí chủ quan
của con ngời mà hoạt động thông qua những hoạt động kinh tế của con ngời,
điều đấy chứng tỏ đấy không phải là những qui luật tự nhiên. Một trong những
quy luật kinh tế cơ bản của kinh tế hàng hoá đó là quy luật giá trị, sự xuất hiện
của nó ở bất kì nơi đâu có sản xuất và trao đổi hàng hoá. Vậy nó là cái gì?
Đấy là những qui luật của nền sản xuất hàng hoá, biểu hiện nhu cầu
khách quan của việc định hớng nền sản xuất và trao đổi hàng hoá theo các quan
hệ dựa trên cơ sở thời gian lao động xã hội cần thiết. Giá trị là hình thức biểu
hiện các hao phí lao động xã hội cần thiết trên cơ sở chuyển tất cả lao động cụ
thể thành lao động trừu tợng. Nó là phơng thức điều tiết các mối quan hệ giữa
những ngời sản xuất hàng hoá trong quá trình hoạt động.
3


Quy luật giá trị yêu cầu mọi hoạt động trao đổi hàng hoá phải dựa trên cơ
sở lợng giá trị của hàng hoá hay thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất
ra hàng hoá. Trong kinh tế hàng hoá vấn đề quan trọng là hàng hoá sản xuất ra
có bán đợc hay không? Để hàng hoá có thể bán đợc thì hao phí lao động cá biệt
để sản xuất ra hàng hoá phải phù hợp với mức hao phí lao động xã hội cần thiết,
tức là phải phù hợp mức hao phí mà xã hội có thể chấp nhận đợc. Hai hàng hoá
có giá trị sử dụng khác nhau có thể trao đổi đợc với nhau khi lợng giá trị của
chúng bằng nhau. Theo đó trao đổi phải theo nguyên tắc ngang giá giữa các loại
sản phẩm với nhau. Thấy đợc quá trình trao đổi hàng hoá là sự chấp nhận giá trị
của hàng hoá hay trên thị trờng thì đó là sự chấp nhận giá trên cả của hàng hoá
đó.
Với qui luật giá trị, sản xuất trao đổi hàng hoá dựa trên cơ sở lợng giá trị
hàng hoá hay thời gian lao động xã hội cần thiết. Trong kinh tế hàng hoá, mỗi

thống hinh tế khác nhau nó đóng vai trò phụ thuộc. Bởi vì các biểu hiện của qui
luật giá trị biểu hiện phụ thuộc vào qui luật kinh tế cơ bản của từng phơng thức
sản xuất nhất định. Quan niệm qui luật giá trị với t cách là nguồn gốc chỉ gây
nên những điều bất lợi về kinh tế, là nguyên nhân gây nên tình trạng cạnh tranh
hay lãng phí giữa những ngời sản xuất hàng hoá, Trong quá trình tự do cạnh
tranh, nhà t bản nào có thực lực mạnh ắt sẽ chiến thắng, những nhà t bản vừa và
nhỏ bị thua lỗ dẫn tới phá sản, tài sản xí nghiệp bị những nhà t bản lớn hơn thâu
tóm khiến qui mô vốn đã rộng lại càng rộng hơn.
Khi qui mô và trình độ phát triển đạt tới mức độ nhất định của t bản chủ
nghĩa thì ngay lập tức hình thành t bản độc quyền, đấy là thời kì mà phơng thức
sản xuất ở vị trí cao. ở giai đoạn này việc phân phối lợi nhuận không chỉ dựa
trên sở hữu t bản nói chung, mà trớc hết là dựa trên cơ sở quyền lực chi phối t
bản của ngời khác. ở giai đoạn phát triển này của t bản chủ nghĩa hình thành
mức siêu lợi nhuận hay gọi là lợi nhuận độc quyền. Thực ra nó chính là một hình
thức biểu hiện của giá trị thặng d hình thành trong giai đoạn t bản độc quyền.
Đồng thời xuất hiện cùng nó là giá cả độc quyền nó gồm cả lợi nhuận độc quyền
và chi phí sản xuất. Từ đó ta thấy một điều: đó là việc các tổ chức độc quyền
mua bán với giá độc quyền để thu lợi nhuận độc quyền thực chất chỉ là sự biểu
hiện mới cao hơn nó không làm giảm đi giá trị luận của quy luật, bởi qui luật giá
trị luôn đóng vai trò phụ thuộc, ở hình thái xã hội này là biểu hiện này, nhng với
các phơng thức sản xuất khác thì nó lại thay đổi theo các qui luật kinh tế của
thời kỳ khác.
Với giai đoạn cạnh tranh cùng với nó là sự chuyển đổi sang nền kinh tế
thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Sự xuất
hiện của nó một mặt thúc đẩy sự phát triển hàng hoá một mặt gây ra hậu quả
đấy là bộc lộ những thủ đoạn không lành mạnh trong cạnh tranh. Tuy nhiên do
mục đích, con đờng đi khác với t bản, trong xã hội chủ nghĩa, sự hoạt động của
quy luật giá trị gắn liền với các quy luật kinh tế của chủ nghĩa xã hội. Trớc hết
việc vận dụng quy luật này nhằm mục đích không ngừng phát triển sản xuất để
nâng cao đời sống nhân dân phát triển kinh tế có kế hoạch và cân đối nền kinh tế

xuất hiện trao đổi hàng hoá nền kinh tế không phát triển, sản phẩm làm ra chỉ đủ
cung cấp tiêu dùng cho cá nhân ngời tạo ra. Việc làm ra sản phẩm lúc bấy giờ
đáp ứng những nhu cầu về điều kiện vật chất phục vụ đời sống con ngời nhng dới hình thức tự làm ra, tự tiêu thụ. Do không có quan hệ trao đổi giữa các chủ thể
kinh tế với nhau nên nó có tính bảo thủ, trì trệ, bị giới hạn bởi những nhu cầu
nhỏ trong phạm vi tiêu dùng nhỏ nên nó không kích thích phát triển kinh tế. Nhng thật sự sản xuất tự cung, tự cấp đã đáp ứng nhu cầu của con ngời trong một
khoảng thời gian dài từ thời kì công xã nguyên thuỷ tới chiếm hữu nô lệ rồi dần
thâm nhập trong thời kì phong kiến, đấy là giai đoạn mà lực lợng sản xuất còn ở
trình độ thấp, lao động chủ yếu là lao động thủ công.
Tuy nhiên cùng với sự phát triển chung của xã hôị về nhiều mọi mặt thì
xuất hiện sự phát triển của lực lợng sản xuất bằng việc xoá bỏ kiểu tổ chức tự
cung, tự cấp. Sự ra đời của nền kinh tế hàng hoá là tất yếu khi trình độ phát triển

6


của lực lợng sản xuất ở mức độ cao. Các điều kiện nh sản xuất hàng hoá nh phân
công lao động xã hội và sự tách biệt về sở hữu đã đợc đảm bảo cho quá trình
chuyển sang nền kinh tế hàng hoá.
Nhu cầu về vật chất của con ngời không ngừng gia tăng trong khi nền sản
xuất tự cung, tự cấp thì không đủ đáp ứng để phục vụ nhu cầu của bản thân. Bản
thân mỗi cá nhân không thể có đủ những điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật để
phát triển sản xuất. Đấy chính là nguyên nhân để xuất hiện sự phân hoá lao động
với những nhóm ngời chuyên sản xuất trên một số lĩnh vực nhất định kế đấy hị
sẽ dùng trao đổi với nhau giữa các chủ thể kinh tế nhằm thoả mãn nhu cầu của
mỗi ngời. Khoa học càng phát triển khả năng nhận thức và tự thoả mãn càng lên
cao, dần dần họ trao đổi với nhau không chỉ là đơn thuần hàng của ngời này đợc
đổi lấy hàng của ngời kia mà nó đợc đem ra giao bán. Những ai cần nó họ sẽ
mua bằng một thứ đợc coi là vật ngang giá chung, bù lại những ngời bán hàng
hoá sẽ thu đợc những khoản lợi nhuận chính là vật có giá trị ngang giá chung ấy.
Chính điều đó càng thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá càng phát triển. Tuy nhiên

hàng hoá. Tóm lại, giá trị hàng hoá là phạm trù lịch sử chỉ tồn tại ở những đâu
có sản xuất trao đổi hàng hoá. Hình thức biểu hiện của nó ra bên ngoài là giá trị
trao đổi, trong đó giá trị trao đổi là tỷ lệ về lợng giữa giá trị sử dụng này trao đổi
với giá trị sử dụng khác. Vậy một vật chỉ có giá trị khi chúng là kết tinh của lao
động của con ngời, một vật dù có giá trị sử dụng nh nớc, không khí,.. nhng
không có giá trị thì cũng không đợc xem là hàng hoá.
Trong nền kinh tế nớc ta hiện nay đại bộ phận lao động là thủ công năng
suất lao động thấp, mặt khác do trình độ phân công lao động không cao, các
ngành nghề cha đợc phát triển nên giá trị sử dụng còn nghèo nàn, phẩm chất
hàng hoá còn kém. Với những đặc điểm trên thì mâu thuẫn giữa giá trị và giá trị
sử dụng của nội tại hàng hoá khá gay gắt. Vì thế riêng ở nớc ta coi trọng trớc hết
giá trị sử dụng phải xuất phát từ nhu cầu thực tế của xã hội cần đợc thoả mãn.
Về giá trị hàng hoá cần phải biết tính toán kinh tế, tổ chức sản xuất để làm ra giá
trị sử dụng nhiều nhất đồng thời chi phí ít nhất.
Giá trị của hàng hoá là khái niệm trừu tợng nhng trên thị trờng nó biểu
hiện rõ nhất là giá cả của hàng hoá đó hay giá cả của hàng hoá chính là biểu
hiện của giá trị hàng hoá. Một vật làm vật ngang giá chung cho các hàng hoá
khác, thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ giữa những ngời sản xuất
hay nó là biểu hiện giá trị của hàng hoá, đó chính là tiền tệ. Nhờ tiền tệ mà quá
trình trao đổi mua bán hàng hoá trở nên thuận lợi hơn, thời gian thực hiện trao
đổi giảm xuống.
Vậy để sản phẩm của các chủ thể kinh tế làm ra trở thành hàng hoá trao
đổi trên thị trờng trong nền kinh tế hàng hoá hiện nay thì nó cần thống nhất giữa
hai thuộc tính : giá trị sử dụng và giá trị, nếu thiếu một trong hai thuộc tính này
thì vật phẩm không thể trở thành hàng hoá. Vai trò của qui luật giá trị đợc thể
hiện nh sau :
1.1.1.3. Qui luật giá trị điều tiết sản xuất lu thông hàng hoá.
Trong sản xuất hàng hoá giản đơn và sản xuất hàng hoá t bản chủ nghĩa,
qui luật giá trị có một số tác dụng và vai trò cơ bản : điều tiết việc sản xuất và lu


cả thị trờng và giá thị trờng, nhng mặt khác giải thích xu hớng muốn triệt tiêu
chênh lệch cung cầu.
Quy luật giá trị với biểu hiện là giá cả của hàng hoá điều tiết hàng hoá từ
khu vực này sang khu vực khác, từ nơi này tới nơi khác. Bởi với những điều kiện
sản xuất tự nhiên khác nhau có thể dẫn tới sự khác biệt lớn về giá cả của hàng
hoá ở các vùng trong những điều kiện nhất định, do đó để kiếm lời đợc nhiều
nhất các nhà sản xuất sẽ thực hiện việc điều tiết nguồn hàng từ nơi có giá thấp
đến nơi có giá cao.

9


1.1.1.4. Quy luật giá trị kích thích sự phát triển sức sản xuất, tăng
năng suất lao động, lực lợng sản xuất xã hội phát triển nhanh.
Dới chế độ xã hội chủ nghĩa, còn có sản xuất hàng hoá và lu thông hàng
hoá thì quy luật giá trị vẫn còn có tác dụng. Quy luật giá trị đòi hỏi việc sản xuất
hàng hoá và tiêu thụ hàng hoá phải dựa trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần
thiết.
Trong nền kinh tế hàng hoá, mỗi ngời sản xuất hàng hoá là một chủ thể
kinh tế độc lập, tự quyết định hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Do các
hàng hoá đợc sản xuất trong những điều kiện khác nhau nên có giá trị cá biệt
khác nhau, tuy nhiên trên thị trờng đều phải trao đổi theo giá trị xã hội. Giá trị
này đợc quy định phù hợp với mức hao phí lao động xã hội cần thiết. Những cơ
sở, doanh nghiệp sản xuất nào mà hao phí lao động cá biệt nhiều hơn hao phí lao
động xã hội cần thiết thì khi bán ra sẽ chịu thiệt thòi, không có lợi bằng những
nơi sản xuất mà ở đó hao phí lao động cá biệt ngang hoặc thấp hơn hao phí lao
động xã hội cần thiết. Trong việc sản xuất sản phẩm, những doanh nghiệp tiên
tiến với mức hao phí lao động cá biệt ít hơn hao phí xã hội cần thiết nên thu đợc
lợi nhiều hơn. Vì thế để giành lợi thế trong cạnh tranh và tránh nguy cơ vỡ nợ,
phá sản các doanh nghiệp phải hạ thấp hao phí lao động cá biệt của mình sao

khác bị phá sản trở thành những ngời nghèo.
Sự phân hoá này là kết quả tự nhiên sản xuất hàng hoá dựa trên chế độ t
hữu. Bởi những ngời sản xuất hàng hoá có điều kiện sản xuất khác nhau, do đó
giá trị cá biệt khác nhau nhng tới lúc trao đổi trao đổi trên thị trờng lại theo một
chuẩn chung đó là giá trị xã hội. Khi đó những ngời sản xuất có hao phí lao
động cá biệt cao hơn hao phí lao động xã hội thì do không bù đắp đợc đủ chi phí
sản xuất nên họ bị lỗ vốn thậm chí bị phá sản trở thành những ngời nghèo,
những ngời lao động làm thuê và ngợc lại.
Trong nền kinh tế hàng hoá, cạnh tranh là quy luật không thể tránh khỏi.
Để đứng vững trên thị trờng các chủ thể kinh doanh cần phải có những chiến lợc
kinh tế nhằm phát triển sản xuất của mình đồng thời đánh bật các đối thủ khác,
kẻ chiến thắng trở thành những ngời giàu có, những ngời đợc nắm giữ và có khả
năng mở rộng sản xuất còn kẻ thất bại sẽ bị đào thải trở nên vô sản đồng thời trở
thành những ngời nghèo. Cạnh tranh chạy theo lợi nhuận và lợi ích riêng làm
cho các nguồn tài nguyên bị khai thác cạn kiệt, môi trờng môi sinh bị huỷ hoại,
ô nhiễm, làm tăng sự phân hoá giàu nghèo và bất công xã hội.
Để phát triển thì các doanh nghiệp không ngừng sản xuất và nâng cao
chất lợng sản phẩm, đẩy quá trình biến đổi của xã hội lên mức cao hơn nữa.
Đồng thời song hành là sự xuất hiện của những khuyết tật của nền kinh tế hàng
hoá và thị trờng. Chính là sự xuất hiện của các mối quan hệ đối kháng : ngời
giàu ngời nghèo phải bán sức lao động, giữa chủ thợ, đấy là quan hệ đối
kháng về lợi ích kinh tế. Sự đối kháng đấy biểu hiện ra nh mâu thuẫn giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất.
Qui luật giá trị không chỉ có tác dụng dới chế độ XHCN mà ngay cả ở chế
độ t bản chủ nghĩa quy luật giá trị tác động nh một lực lợng tự phát thống trị con

11


ngời. Nhờ qui luật giá trị này đã khuyến khích nâng cao năng suất lao động xã
hội, áp dụng kỹ thuật mới, hạ giá thành và nâng cao doanh lợi sản xuất.

trên thế giới. Bên cạnh đó việc phân công lao động hợp lý vào từng ngành nghề
lĩnh vựckhác nhau trong xã hội có tác dụng làm đòn bẩycủa sự phát triển công
nghệ sản xuất và năng suất lao động. Sự kết hợp giữa phát triển khoa học công
nghệ kỹ thuật và giáo dục sẽ thcú đẩy sự phát triển của cơ cấu kinh tế theo hớng
hiện đại hoá, nâng dần chất lợng xã hội lên tầm cao mới.
Qui luật giá trị với vai trò tổ chức xã hội , kích thích xã hội và bảo đảm
xã hội đã tạo ra cho xã hội những đòn bẩy kinh tế mạnh mẽ để đạt tới những
mục tiêu kế hoạch. Giúp tổ chức lại xã hội , qui luật giá trị đã một phần tạo ra
nguyên tắc công bằng xã hội , kích thích những sự nỗ lực nhằm nâng cao hiệu

13


quả kinh tế và chất lợng công tác. Qui luật giá trị đã tạo ra cho nền kinh tế
những công cụ quan trọng để thực hiện, củng cố và phát triển sự xã hội hoá sản
xuất trên thực tế. Nếu tuân theo qui luật giá trị , vận dụng các phơng pháp tiêu
chuẩn trên cơ sở qui luật đó trong việc tính toán hao phí lao động xã hội cần
thiết, chúng ta có thể định hớng các kế hoạch kinh tế quốc dân, nhằm giải quyết
nhiệm vụ của việc nâng cao hiệu quả của nền sản xuất xã hội nói chung và của
từng cơ sở của nền sản xuất đó. Trên thực tế ở một số lĩnh vực ta thấy rõ đợc
những biểu hiện sự vân dụng của quy luật giá trị :
Trớc hết ta xét trên lĩnh vực kinh tế, chỉ với khoảng thời gian ngắn nền
kinh tế Việt Nam đã có những bớc phát triển vợt bậc. Từ một nền kinh tế tăng trởng thấp đang ở trạng thái khủng hoảng trầm trọng trớc năm 1986 nền kinh tế nớc ta đã từng bớc khôi phục và phát triển ổn định với mức tăng trởng cao. Tốc độ
phát triển kinh tế ở nớc ta trong thập kỷ 90 của thế kỷ hai mơi đợc đánh giá vào
loại cao nhất của khu vực kinh tế Thái Bình Dơng .
Từ 2001 đến nay, trong tình hình khó khăn phức tạp hơn dự kiến do ảnh hởng của những biến động trong và ngoài nớc nh vụ khủng bố 11 tháng 9 tại Mỹ
gõy ra nhng tỏc hi nghiờm trng trờn nn kinh t ca nc M v trờn th
trng th gii, hay khng hong ti chinh 2007-2010 l mt cuc khng hong
bao gm s v hng lot h thng ngõn hng, tỡnh trng úi tớn dng, tỡnh
trng st giỏ chng khoỏn v mt giỏ tin t quy mụ ln nhiu nc trờn th

trong thời kì quá độ này qui luật giá trị còn hoạt động trên một phạm vi khá rộng
và trong một thời gian khá dài. Vai trò và phạm vi của qui luật này biến đổi từng
thời kỳ cùng với sự chuyển biến của quan hệ sản xuất, của lực lợng sản xuất tới
sự phân công lao động. Vì thế trong khi xây dựng kinh tế ta cần nhận thức đúng
qui luật giá trị, tự giác vận dụng qui luật đó và những phạm trù kinh tế đi kèm
với nó. Với nền kinh tế của nớc ta theo sự phát triển chủ nghĩa xã hội nên qui
luật giá trị hoạt động gắn kiền với sự hoạt động của các qui luật kinh tế của chủ
nghĩa xã hội, trớc hết là qui luật kinh tế cơ bản và qui luật phát triển có kế hoạch
và cân đối nền kinh tế quốc dân.
Bên cạnh sự thay đổi của nền kinh tế đời sống của nhân dân cũng không
ngừng đợc tăng lên dần nâng cao.
Với tốc độ tăng trởng kinh tế trong những năm đổi mới là tơng đối nhanh
và ổn định, tc tng trng trung bỡnh ca giai on 2001 2010 l 7,25%.
Sản xuất nông nghiệp không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nớc mà còn đợc đem đi xuất khẩu. Với sự phát triển của kinh tế đời sống xã hội đã đợc tăng
lên về mọi mặt, tăng cả về số lợng lẫn chất lợng hàng hoá phục vụ nhu cầu tiêu
dùng của nhân dân. Dân số trong thời gian qua đã dần ổn định với tốc độ tăng
chậm thấp hơn so với tộc độ tăng trởng kinh tế cộng với những chơng trình ủng
hộ khuyến khích của Chính phủ đã dần xoá đói, giảm nghèo góp phần nâng cao
đời sống nhân dân. Mc nghốo ca Vit Nam gim t hn 58% nm 1993
xung cũn khong 10% trong nm 2010. Dân trí đợc nâng lên tầm cao mới,
trong sinh hoạt đã đợc sử dụng những vật phẩm hiện đại, tiếp thu những kiến
thức nhân loại mới về văn hoá, đời sống, xã hội, sự đáp ứng thoả mãn tinh thần
và vật chất không ngừng đợc nâng cao.
15


Tuy nhiên một điều không thể tránh khỏi khi đời sống xã hội thay đổi
theo chiều hớng đi lên và nền kinh tế phát triển, đó là sẽ làm tăng hố ngăn cách
phân biệt giàu nghèo. Cùng với mức thu nhập bình quân thì mức chênh lệch về
thu nhập cũng không ngừng tăng lên. Ngay cả trong quan hệ giữa các ngành,


16


Do nền kinh tế đợc điều khiển bởi những nhà hoạch định chính sách kinh
tế, vì thế ngay từ đầu cần nâng cao trình độ cán bộ quản lý kinh tế đồng thời
thực hiện việc xây dựng lại cơ chế giá.
Những cán bộ quản lý kinh tế là những ngời đa ra các quyết sách ở tầm vĩ
mô, có ảnh hởng rộng khắp và sâu sắc tới các hoạt động kinh tế của đất nớc,
vì thế việc nâng cao trình độ của cán bộ quản lý kinh tế là hết sức cần thiết
đối với nền kinh tế nớc ta trong thời gian tới. Những nhà quản lý kinh tế với
nhiệm vụ quan sát và nhận biết về những biến động của giá cả từ đấy có thể
đa ra những quyết định ở tầm vĩ mô nhằm phát triển kinh tế đất nớc. Từ đấy
thấy đợc tầm quan trọng của việc tuyển chọn những ngời thực sự có năng lực
vào đội ngũ quản lý này đồng thời phải luôn không ngừng nâng cao trình độ
của đội ngũ này.
Mặt khác ta cần phải cấp bách xây dung một cơ chế giá cả có khả năng
kích thích nhiều hơn so với tiến bộ khoa học kỹ thuật. Qui luật giá cả đợc hình
thành dựa trên nguyên tắc vận dụng giữa hao phí lao động xã hội cần thiết và giá
trị . Mà đặc trng của quá trình hình thành các hao phí và giá trị này đợc xác
định trớc bởi sự tác động của các qui luật kinh tế mà thực chất của bản thân các
qui luật. Hao phí lao động xã hội cần thiết phải là tiêu chuẩn để phân phối các
nguồn và tiêu chuẩn hiệu quả hao phí. Về khách quan việc hình thành giá cả
phải đợc thực hiện dới hình thức hình thành giá có kế hoạch, tập trung và có tính
chất Nhà nớc. Cơ sở để hình thành hao phí lao động xã hội cần thiết chính là sự
phân phối lao động chung theo các bộ phận và các khu vực của nền sản xuất xã
hội, xuất phát từ những nhu cầu hiện tại và lâu dài của xã hội. Qui luật kinh tế
cơ bản đòi hỏi phải phân phối lao động một cách tốt nhất các nguồn lao động
sống và vật hoá theo các bộ phận và các khu vực của nền sản xuất theo quan
điểm mục tiêu chiến lợc phát triển xã hội. Do vậy muốn cho quá trình hình

thời trong cái khung pháp lý ấy sẽ quy định các chính sách kinh tế khuyến khích
tham gia hoạt động, xây dựng cơ sở hạ tầng thuận lợi là điều kiện để phát triển
sản xuất kinh doanh. Các chính sách này có thể điều chỉnh giá cả ổn định bởi
giá cả là thớc đo của giá trị, và tránh những can thiệp không hợp lý vào cá hoạt
động của hệ thống giá cả thị trờng.
Để duy trì sự phát triển chung của cả xã hội, Nhà nớc cần khuyến khích
khả năng hội nhập kinh tế của các doanh nghiệp nói riêng và toàn bộ các lĩnh
vực nói chung. Kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trờng hay kinh tế mở vì thế
xu hớng chung của tất cả các doanh nghiệp họ sẽ mở rộng quy mô tiến trên con
đờng mở của và hội nhập quốc tế. Tuy vậy nớc ta phải chủ động và tích cực
chuẩn bị các điều kiện hội nhập đồng thời lựa chọn đúng giải pháp và bớc đi
trong quá trình này. Nếu tham gia vào tiến trình hội nhập này thì bên trực tiếp
tham gia sẽ có dịp học hỏi công nghệ và kinh nghiệm sản xuất của một số nơi.
Quá trình tham gia vào mạng lới các tổ chức trên thế giới tất cả đều nhằm một
mục đích xoá đói giảm nghèo và bất bình đẳng xã hội.
Các khu vực nông thôn, nông nghiệp cần có chính sách khuyến khích u
tiên một số ngành, dịch vụ,đồng thời nâng cao trình độ chuyên môn hoá để họ
cần đầu t vào kỹ thuật, máy móc, dịch vụ cho các khu vực nông nghiệp, nông

18


thôn để nâng cao năng suất lao động của các khu vực mà luôn có dân số đông
đúc. Nhà nớc cần có hình thức bảo trợ xã hội, điều chỉnh phù hợp với thị trờng
lao động trong nền kinh tế mở và hội nhập kinh tế. Nhà nớc cần phải thực hiện
tốt việc phân phối lại thông qua các chính sách thuế, trợ cấplàm giảm sự bất
bình đẳng trong xã hội.
Dù có phát triển hay thay đổi chính sách, chiến lợc thì vấn đề quan trọng
hàng đầu với Việt Nam là phải cần khai thác triệt để nguồn nhân lực dồi dào,
thông minh và giàu tính sáng tạo vốn có của nớc ta.


phẩm chất và tài năng. Điều đó gây áp lực và tạo động lực cho mỗi cán bộ công
chức, viên chức luôn tự hoàn thiện mình để đáp ứng đợc với các nhu cầu gắt gao
về phẩm chất, tài năng của công chức trong xã hội hiện đại.
Nhng giải pháp về lâu dài cần đẩy lùi vấn nạn tham nhũng bằng việc xây
dung những chuẩn mực mới trong điều kiện kinh tế thị trờng. Kinh tế thị trờng
với những u điểm kích thích kinh tế phát triển còn tồn tại những nhợc điểm làm
giảm giá trị của hàng hoá, làm méo mó các chuẩn mực đạo đức. Tuy đang bớc
vào bối cảnh xã hội mới nhng điều cốt lõi phải biết dựa trên cái truyền thống
phải giữ đợc các giá trị đạo đức trong kinh doanh và quản lý.
Với xu hớng phát triển nh hiện nay nớc ta cần đợc hớng theo con đờng
phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá để hội nhập với nền kinh tế thế giới với
những chính sách hỗ trợ của Nhà nớc và khả năng tự có của các doanh nghiệp.
Để hàng hoá có tính cạnh tranh tốt hơn thì công nghệ sản xuất phải đợc
đổi mới, đội ngũ lao động lành nghề, tầng lớp quản lý có tri thức trách nhiệm,
tất cả sẽ làm giảm chi phí sản xuất đồng thời nâng cao giá trị sản phẩm. Phải
luôn tự đổi mới và biết tiếp thu học hỏi từ bên ngoài những tiến bộ trên thế giới
nếu có điều kiện điều kiện thì nên áp dụng vào trong sản xuất. Sự tồn tại của các
doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế thị trờng hiện đại kích thích mạnh
mẽ tính cạnh tranh năng động và hiệu quả. Nhng trong quan hệ giữa các doanh
nghiệp thì các doanh nghiệp bé hơn dễ bị chèn ép, thua thiệt vì thế để tránh tình
trạng này Chính phủ phải lập ra các chơng trình hỗ trợ lớn. Cơ sở hạ tầng cần đợc làm mới lại, xây dựng thành hệ thống đồng bộ, hiện đại. Bởi cơ sở hạ tầng
quyết định kiến trúc thợngtầng, cũng nh kinh tế quyết định chính trị. Các điều
kiện về kinh tế đợc đáp ứng và có phát triển thì mới đồng thời nâng toàn bộ
những chỉ tiêu của vấn đề liên quan lên nh : đời sống xã hội nâng cao, mức sinh
hoạt đợc đảm bảo ổn định tốt hơn, chính trị trong sạch, lành mạnh.
Điều đấy cũng đợc quyết định rất quan trọng bởi những hoạch định chính
sách chung của Chính phủ của các cơ quan có quyền hành.
Trớc thực trạng phát triển của các doanh nghiệp hiện nay, Nhà nớc đã phải
can thiệp vào bằng những hình thức hỗ trợ. Hình thức này đợc thể hiện bằng việc

Trong nhiều đặc tính có thể dùng làm tiêu thức để phân biệt nền kinh tế
thị trờng ở nớc ta với nền kinh tế thị trờng khác phải nói đến mục đích chính trị,
mục tiêu kinh tế xã hội mà Nhà nớc và nhân dân đã lựa chọn làm định hớng
chi phối sự vận động phát triển nền kinh tế. Mục tiêu hàng đầu của phát triển
kinh tế thị trờng ở nớc ta là giải phóng sữ sản xuất, động viên mọi nguồn lực
trong nớc và ngoài nớc để tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dung cơ
sở vật chất kỹ thuật nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội cải thiện từng bớc đời
sống nhân dân. Nớc ta thựchiện theo t tởng đổi mới của Đảng, lấy sản xuất gắn
liền với đời sống nhân dân, gắn liền tăng trởng kinh tế với tiến bộ và công bằng
xã hội vì thế đã từng bớc khắc phục đợc nạn đói nghèo, dịch bệnh và nâng trình
độ văn hoá của ngời dân lên cao.

21


Với xu thế phát triển kinh tế nhiều thành phần với vai trò chủ đạo là Nhà
nớc đã dần đa nền kinh tế nớc ta vào trạng thái ổn định và phát triển đi lên. Việc
lựa chọn phát triển theo con đờng kinh tế thị trờng nhiều thành phần là một tất
yếu đối với nớc ta, bởi chỉ có nh vậy chúng ta mới khai thác mọi nguồn lực kinh
tế, nâng cao đợc hiệu quả kinh tế, phát huy đợc mọi tiềm năng của các thành
phần kinh tế vào phát triển chung nền kinh tế của đất nớc nhằm thoả mãn nhu
cầu tiêu dùng ngày càng tăng của nhân dân. Vì nớc ta phát triển theo con đờng
xã hội chủ nghĩa vì thế việc xác lập vai trò chủ đạo của nền kinh tế Nhà nớc là
vấn đề có tính nguyên tắc, nó dùng để phân biệt với kinh tế thị trờng t bản chủ
nghĩa. Tuy nhiên nền kinh tế phát triển theo hớng nhiều thànhphần nên sẽ dẫn
tới có nhiều phơng hớng và cách đi khác nhau và có thể sẽ gây nên những mâu
thuẫn, xung đột. Vì vậy kinh tế Nhà nớc phải đợc xây dựng và phát triển có hiệu
quả để thực hiện tốt vai trò chủ đạo của mình, đồng thời phải có chính sách
chung để hớng cho nền kinh tế phát triển theo định hớng xã hội chủ nghĩa.


Những cán bộ quản lý kinh tế là những ngời đa ra các quyết sách ở tầm vĩ mô, có ảnh hởng
rộng khắp và sâu sắc tới các hoạt động kinh tế của đất nớc, vì thế việc nâng cao trình độ của
cán bộ quản lý kinh tế là hết sức cần thiết đối với nền kinh tế nớc ta trong thời gian tới. Những
nhà quản lý kinh tế với nhiệm vụ quan sát và nhận biết về những biến động của giá cả từ đấy
có thể đa ra những quyết định ở tầm vĩ mô nhằm phát triển kinh tế đất nớc. Từ đấy thấy đợc
tầm quan trọng của việc tuyển chọn những ngời thực sự có năng lực vào đội ngũ quản lý này
đồng thời phải luôn không ngừng nâng cao trình độ của đội ngũ này......................................17
..........................................................................................................................................22

24




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status