Website: Email : Tel : 0918.775.368
Phần I: Giới thiệu đề tài
Đặc điểm nổi bật trong thời đại hiện nay là cách mạng khoa học kĩ thuật
gắn với cách mạng khoa học,tao thành cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật phát
triển hết sức mạnh mẽ, ảnh hởng sâu sắc đến tốc độ phát triển kinh tế của các
nớc. Đối với Việt Nam là nớc trải qua thời kì chiến tranh dài và chịu hậu quả
nặng nề của chiến tranh, nền kinh tế còn lạc hậu so với các nớc trên thế giới.
Trớc xu thế hiện đại cùng với sự ủng hộ, giúp đỡ và hợp tác của các nớc, các tổ
chức phi chính phủ về vốn,công nghệ, quản lý tạo điều kiện sớm đổi mới cơ
sở kĩ thuật, cơ cấu kinh tế, phân công lao động sản xuất. Cùng nguồn lao động
dồi dào, truyền thống lao động cần cù, thông minh của dân tộc ta, tài nguyên
thiên nhiên phong phú, địa vị thuận lợi là những yếu tố quan trọng để mở
rộng sự hợp tác, tạo điều kiện cho nớc ngoài đầu t và là thế mạnh cho tăng tr-
ởng kinh tế nhanh. Trớc xu thế phát triển của xã hội, công cuộc đổi mới của
đất nớc có sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam(bao gồm chiến lợc, sách
lợc, tổ chức thực tiễn, chính sách...) định hớng đúng, giữ vững ổn định chính
trị, tạo môi trờng và điều kiện hợp tác đầu t và phát triển kinh tế giữ vị trí
quyết định. Kết quả bớc đầu của sự nghiệp đổi mới từ Đại hội Đảng lần thứ VI
đến nay đã củng cố và khẳng định con đờng lựa chọn lên chủ nghĩa xã hội là
đúng đắn. Trong thời kì đổi mới chúng ta thực hiện cơ chế quản lí kinh tế theo
cơ chế kế hoạch hoá tập trung. Nhng cơ chế này bộc lộ rõ những khuyết điểm
của mình,bộ máy quả lí rất cồng kềnh,có nhiều cấp trung gian và kém năng
động, từ đó sinh ra một đội ngũ cán bộ kém năng lực quản lí, không thạo
nghiệp vụ kinh doanh, nhng phong cách thì quan liêu cửa quyền. Nhận thức
vấn đề đó, phơng hớng cơ bản của sự đổi mới cơ chế quản lí kinh tế ở nớc ta
đã đợc Đại hội của Đảng xác định và tiếp tục đợc Đại hội VII của Đảng khẳng
định Tiếp tục xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, hình thành đồng bộ
và vận hành có hiệu quả cơ chế thị trờng có sự quản lí cuả Nhà nớc. Với chủ
trơng phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần thì kinh tế thị trờng là
yếu tố khách qua không thể thiếu đợc. Cơ chế thị trờng tự động kích thích sự
phát triển sản xuất,tăng trởng kinh tế cả theo chiều rộng lẫn chiều sâu, tăng c-
Yêu cầu của quy luật giá trị là sản xuất hàng hoá và trao đổi hàng hoá
phải dựa trên cơ sở lợng giá trị hàng hoá hay thời gian lao động xã hội cần
thiết. Hai loại hàng hoá khác nhau mà thời gian lao động xã hội cần thiết để
sản xuất ra chúng bằng nhau thì có giá trị bằng nhau. Thời gian lao động xã
hội cần thiết thay đổi theo sự thay đổi của năng suất lao động xã hội. Giá trị là
lao động xã hội của ngời sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá nên lợng
giá trị hàng hoá do thời gian lao động quyết định. Năng suất lao động xã hội
càng cao, thời gian cần thiết để sản xuất hàng hoá càng ít, khối lợng lao động
kết tinh trong một đơn vị sản phẩm càng nhỏ, thì giá trị của sản phẩm càng bé.
Và ngợc lại, năng suất lao động càng thấp, thời gian cần thiết để sản xuất hàng
hoá càng lớn thì lao động hao phí càng nhiều và giá trị hàng hoá càng lớn. Nh
vậy, lợng giá trị tỉ lệ thuận với số lợng lao động và tỉ lệ nghịch với năng suất
lao động.
Trong kinh tế hàng hoá, vấn đề quan trọng là hàng hoá sản xuất ra có bán
đợc hay không. Để hàng hoá có thể bán đợc thì hao phí lao động cá biệt để sản
xuất ra hàng hoá phải phù hợp với mức hao phí lao động xã hội cần thiết, tức
là phải phù hợp với mức hao phí mà xã hội có thể chấp nhận đợc. Trong trao
đổi hàng hoá cũng dựa vào hao phí lao động xã hội cần thiết. Hai hàng hoá có
giá trị sử dụng khác nhau có thể trao đổi với nhau đợc khi lợng giá trị của
chúng bằng nhau. Theo nghĩa đó thì phải trao đổi theo nguyên tắc ngang giá.
Quy luật giá trị là trừu tợng. Nó thể hiện sự vận động thông qua sự biến
động của giá cả hàng hoá. Giá cả là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị. Giá cả
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
phụ thuộc vào giá trị, vì giá trị là cơ sở của giá cả. Hàng hoá nào mà hao phí
lao động để sản xuất ra nó nhiều thì giá trị của nó lớn, và do vậy giá cả thị tr-
ờng sẽ cao, và ngợc lại. Ngoài ra, giá cả còn phụ thuộc vào các nhân tố khác
nh quan hệ cung - cầu, tình trạng độc quyền trên thị trờng. Tác động của các
nhân tố trên làm cho giá cả hàng hoá trên thị trờng lên xuống xoay quanh giá
trị của nó. C.Mác gọi đó là vẻ đẹp của quy luật giá trị. Trong vẻ đẹp này,giá trị
độ nhất định thì nó tự dẫn đến độc quyền. Đó là vì một số xí nghiệp dễ dàng
thoả thuận với nhau hơn là hàng trăm, hàng ngàn xí nghiệp nhỏ. Mặt khác,
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
quy mô to lớn của các xí nghiệp cũng gây khó khăn cho cạnh tranh và làm cho
cạnh tranh có sức phá hoại lớn, do đó đẻ ra phơng hớng thoả thuận với nhau để
hình thành các tổ chức độc quyền.
Trong giai đoạn thấp của phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa, cơ chế
kinh tế của giai đoạn này là tự do cạnh tranh. Trên thị trờng, cung cầu và giá
cả hàng hoá vận động theo cơ chế tự điều tiết thông qua sự hình thành lợi
nhuận bình quân và giá trị chuyển hoá thành giá cả sản xuất. Đến giai đoạn
cao của phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa, sự ra đời của các tổ chức độc
quyền gắn liền với các yếu tố mới, làm xuất hiện cơ chế kinh tế của giai đoạn
mới đó là cơ chế độc quyền và cạnh tranh. Nếu ở giai đoạn thấp của chủ nghĩa
t bản, nguyên tắc phân phối lợi nhuận dựa trên sở hữu t bản, thì đến giai đoạn
của chủ nghĩa t bản độc quyền, việc phân phối lợi nhuận không chỉ dựa trên sở
hữu t bản nói chung, mà trớc hết là dựa trên cơ sở quyền lực chi phối t bản của
ngời khác, dựa trên sở hữu t bản tài chính. Do t bản độc quyền, nhất là t bản tài
chính, giữ vị trí thống trị trong sản xuất và lu thông, nên nó có thể không chỉ
sử dụng các phơng pháp sản xuất giá trị thặng d, cạnh tranh, tỷ suất lợi nhuận
bình quân, lợi nhuận bình quân và giá cả sản xuất vốn là những phạm trù kinh
tế quen thuộc trong giai đoạn chủ nghĩa t bản tự do cạnh tranh, mà nó sử dụng
phơng pháp cỡng bức siêu kinh tế để thu lợi nhuận cao - lợi nhuận độc quyền.
Lợi nhuận độc quyền là một hình thức biểu hiện của giá trị thặng d, hình thành
trong giai đoạn chủ nghĩa t bản độc quyền. Song song với việc hình thành lợi
nhuận độc quyền, các tổ chức độc quyền không bán hàng theo giá cả sản xuất,
mà bán theo giá cả độc quyền( mặc dù lợi nhuận bình quân và giá cả sản xuất
không mất đi vì cạnh tranh tự do vẫn tồn tại). Giá cả độc quyền là hình thức
biểu hiện của giá trị hàng hoá trong giai đoạn độc quyền. Nó bao gồm chi phí
sản xuất cộng với lợi nhuận độc quyền. Thông thờng các tổ chức độc quyền
đối thủ cạnh tranh.
Thứ hai, là giá cả hàng hoá. Hai hàng hoá có cùng thuộc tính, công dụng
nh nhau thì ngời tiêu dùng sẽ mua hàng hoá có giá rẻ hơn. Giá cả hàng hoá đ-
ợc quyết định bởi giá trị hàng hoá. Song sự vận động của giá cả còn phụ thuộc
vào khả năng thanh toán của ngời tiêu dùng. Mức sống còn thấp, ngời tiêu
dùng sẽ tìm mua những hàng hoá có giá rẻ, ngợc lại, mức sống cao ngời tiêu
dùng sẽ tìm mua những hàng hóa có chất lợng tốt, chấp nhận mức giá cao.
Đây chính là điều mà các doanh nghiệp cần nắm bắt rõ về khách hàng thị tr-
ờng mình định đầu t.
Thứ ba, áp dụng khoa học - kỹ thuật và quả lý hiện đại. Sức cạnh tranh
của doanh nghiệp sẽ tăng lên đáng kể khi giá cả hàng hoá cá biệt của doanh
nghiệp thấp hơn giá cả trung bình trên thị trờng. Để có lợi nhuận đòi hỏi các
doanh nghiệp phải tập trung các nguồn lực để tăng năng suất lao động, giảm
chi phí đầu vào, nâng cao chất lợng hàng hoá nhằm làm cho giá trị hàng hoá
cá biệt của mình thấp hơn giá trị xã hội. Muốn vậy các doanh nghiệp phải th-
ờng xuyên cải tiến công cụ lao động, hợp lý hoá sản xuất, nhanh chóng ứng
dụng những thành tựu khoa học - kĩ thuật và quản lý hiện đại vào trong sản
xuất.
Thứ t, là thông tin, một công cụ cạnh tranh lợi hại của doanh nghiệp.
Thông tin đầy đủ về thị trờng, thông tin về tâm lý thị hiếu khách hàng, về giá
cả, đối thủ canh tranh có ý nghĩa quyết định kinh doanh của doanh nghiệp.
Đủ và xử lý đúng thông tin có ý nghĩa giúp các doanh nghiệp han chế rủi ro
trong kinh doanh và có thể tìm ra, tao ra " lợi thế so sánh " của doanh nghiệp
trên thơng trờng. Thông tin đầy đủ, đúng hoặc bng bít có thể thúc đẩy thị trờng
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
một cách tích cực hoặc tạo ra những nhu cầu giả tạo, hành vi cạnh tranh sai
trái làm biến dạng thị trờng. Vì thế, không ngạc nhiên khi tình trạng quảng cáo
hiện nay của các doanh nghiệp xuất hiện ngày càng nhiều trên các phơng tiện
thông tin đại chúng, chi phí cho hoạt động quảng cáo, giới thiệu,trng bày sản
Thứ bảy, chữ tín là công cụ cạnh tranh của các doanh nghiệp. Trong qua
trình kinh doanh các doanh nghiệp sử dụng nhiều biện pháp nhằm giành giật
khách hàng về phía mình, đặc biệt thực hiện linh hoạt trong khâu hợp đồng,
thanh toán Những hành vi này sẽ thực hiện đ ợc tốt hơn khi giữa doanh
nghiệp và khách hàng có lòng tin với nhau. Do vậy, chữ tín trở thành công cụ
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
sắc bén trong cạnh tranh, giúp cho quá trình buôn bán diễn ra nhanh chóng,
tiện lợi. Mặt khác, công cụ này còn tạo cơ hội cho nhiều ngời ít vốn có điều
kiện tham gia kinh doanh, do đó mở rộng thị phần hàng hoá tạo sức mạnh
cho doanh nghiệp. Những u điểm đó giải thích vì sao trong cạnh tranh giữa các
doanh nghiệp nhà nớc với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thì doanh
nghiệp ngoài quốc doanh thờng linh hoạt hơn, có nhiều bạn hàng hơn so với
doanh nghiệp nhà nớc. Tuy nhiên, sử dụng công cụ này đòi hỏi các chủ thể
cạnh tranh phải có bản lĩnh. Bởi vì, có nhiều vấn đề phức tạp nảy sinh nh tình
trạng " chụp giật ", " bể hụi ", đối tác làm ăn có ý đồ đen tối.
Thứ tám, sự mạo hiểm, rủi ro. Trong kinh doanh, lợi nhuận doanh nghiệp
thờng tỷ lệ thuận với sự mạo hiểm, rủi ro trong kinh doanh. Các chủ thể kinh
doanh có khuynh hớng đầu t kinh doanh( kể cả đầu t nghiên cứu khoa học) vào
những mặt hàng mới, những lĩnh vực mới mà rủi ro ở đó thờng cao. Đây cũng
là khuynh hớng khách quan vì nó hy vọng thu đợc lợi nhuận cao trong tơng
lai. Mặt khác, nó giảm đợc áp lực cạnh tranh từ các đối thủ khácSự mạo hiểm
chấp nhận rủi ro nhằm thu lợi nhuận lớn bằng cách đi đầu trong kinh doanh là
công cụ cạnh tranh cực kỳ hiệu quả, nhng cũng cực kỳ nguy hiểm trong quá
trình cạnh tranh. Việc sử dụng hiệu quả công cụ này đòi hỏi các doanh nghiệp
phải có tài năng và bản lĩnh.
Nh vậy, cạnh tranh là một quy luật trong nền kinh tế thị trờng mà ở đó
các chủ thể kinh tế tìm mọi biện pháp - cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt mục
tiêu kinh tế của mình.
1.3. Vai trò của quy luật giá trị trong nền kinh tế hàng hoá:
cầu gây ra; mặt khác, là để phát hiện ra cái xu thế thật sự của sự vận động của
chúng và cố định xu thế đó bằng một cách nào đó. Cho nên cung và cầu nếu
không ăn khớp với nhau thì những sự chênh lệch của chúng cứ kế tiếp nhau
khiến cho nếu nhận xét kết quả của cuộc vận động trong một thời gian tơng
đối dài - cung và cầu bao giờ cũng ăn khớp với nhau, bởi vì một sự chênh lệch
đi theo chiều này sẽ gây nên hậu quả là có ngay một sự chênh lệch đi theo
chiều ngợc lại. Chính vì đó mà giá cả thị trờng chênh lệch với giá thị trờng.
Nh vậy, mối quan hệ giữa cung và cầu, một mặt chỉ giải thích nhừng sự chênh
lệch giữa giá cả thị trờng và giá thị trờng; và mặt khác giải thích cái xu hớng
muốn thủ tiêu những sự chênh lệch giữa cung và cầu. Trái lại, chính giá thị tr-
ờng điều tiết quan hệ cung - cầu, hay cấu thành cái trung tâm, chung quanh
trung tâm đó những sự thay đổi trong cung và cầu làm cho những giá cả thịt tr-
ờng phải lên xuống.
Trong lĩnh vực lu thông quy luật giá trị có tác dụng điều tiết nguồn hàng
từ nơi giá thấp đến nơi giá cao.
1.3.2. Quy luật giá trị kích thích sự phát triển sức sản xuất:
Trong nền kinh tế hàng hoá ngời nào có hao phí lao động cá biệt ít hơn
hoặc nằng hao phí lao động xã hội cần thiết để sản xuất hàng hoá thì ngời đó
có lợi, còn ngời nào có hao phí lao động lớn hơn hao phí lao động xã hội cần
thiết thì sẽ bị thiệt, vì không thu về đợc toàn bộ lao động đã hao phí. Giá trị
của hàng hoá là theo tỷ lệ nghịch với năng suất của lao động sản xuất ra hàng
hoá đó. Sức lao động cũng vậy, vì giá trị sức lao động là do giá trị hàng hoá
quyết định. Ngợc lại, giá trị thặng s tơng đối lại tỷ lệ thuận với năng suất lao
động. Giá trị thặng d tơng đối tăng lên và hạ xuống cùng với năng suất lao
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
động. Một ngày lao động xã hội trung bình có giới hạn nhất định, thì bao giờ
cũng sản xuất ra một giá trị nh nhau, và giá trị này; nếu giá trị của tiền tệ
không thay đổi, thì vẫn đợc biểu hiện thành cùng một giá cả nh nhau, chẳng
hạn thành 6 si - linh dù tỷ lệ phần chia thành tiền công và giá trị thặng d của
sản xuất có thể không nhất trí với lao động xã hội cần thiết. Những ngời làm
tốt, làm giỏi có hao phí lao động cá biệt thấp hơn hao phí lao động xã hội cần
thiết, nhờ đó phát tài, làm giàu, mua sắm thêm t liệu sản xuất, mở rộng thêm
quy mô sản xuất, mở rộng doanh nghiệp của mình. Bên cạnh đó, ngời làm ăn
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
kém cỏi, không gặp may, hao phí lao động cá biệt cao hơn hao phí lao động xã
hội cần thiết nên họ bị lỗ vốn, thậm chí đi đến phá sản. Nh vậy quy luật giá trị
có ý nghĩa bình tuyển, đánh giá ngời sản xuất. Nó mang lại phần thởng cho
những ngời làm tốt, làm giỏi và hình phạt cho những ngời làm kém cỏi. Về ph-
ơng diện này thì quy luật giá trị bảo đảm sự bình đẳng đối với ngời sản xuất.
Tuy nhiên, không một tấm huân chơng nào lại không có mặt trái của nó.
Ngay trong qua trình thực hiện sự bình tuyển tự nhiên đối với ngời sản xuất,
quy luật giá trị đã phân hoá ngời sản xuất thành kẻ giàu, ngời nghèo. Mỗi một
ngời đều sản xuất riêng biệt, cho lợi ích riêng của mình, không phụ thuộc vào
các nhà sản xuất khác; họ sản xuất cho thị trờng, nhng dĩ nhiên không một ng-
ời nào trong bọn họ lại biết đợc dung lợng của thị trờng. Mối quan hệ nh vậy
giữa những ngời sản xuất riêng rẽ, sản xuất cho thị trờng chung thì gọi là cạnh
tranh. Dĩ nhiên, trong những điều kiện ấy sự thăng bằng giữa sản xuất và tiêu
dùng( giữa số cung và số cầu) chỉ có đợc sau nhiều lần biến động. Ngời sản
xuất khéo léo hơn, tháo vát hơn, và có sức lục hơn, sẽ ngày càng lớn mạnh nhờ
những sự biến động đó; còn ngời yếu ớt và vụng về thì bị sự biến động đó đè
bẹp. Một vài ngời trở nên giàu có, còn quần chúng thì trở nên nghèo đói, đó là
kết quả không tránh khỏi của quy luật cạnh tranh. Kết cục là những ngời sản
xuất bị phá sản mất hết tính chất độc lập về kinh tế của họ đi và trở thành công
nhân làm thuê trong công xởng đã mở rộng của đối thủ tốt số của họ. Lịch sử
phát triển của sản xuất hàng hoá giản đơn trong xã hội phong kiến dần dần
sinh ra quan hệ sản xuất t bản chủ nghĩa. Quan hệ giữa kẻ giàu - ngời nghèo,
quan hệ giữa chủ - thợ, quan hệ giữa t sản vô sản là quan hệ đối kháng về
lợi ích kinh tế. Sự đối kháng đó tất yếu dẫn đến cuộc đấu tranh giữa những ng-
nay.
Thực tế là quy luật giá trị dới xã hội chủ nghĩa không có tác dụng rộng
rãi nh dới chế độ t bản. Dới chế độ kinh tế nớc ta, quy luật giá trị bị thu hẹp
phạm vi hoạt động. Chắc chắn là tình trạng không còn chế độ t hữu về t liệu
sản xuất nữa, và việc xã hội hoá những t liệu sản xuất đó ở thành thị khiến cho
phạm vi tác dụng của quy luật giá trị và trình độ ảnh hởng của nó đến sản xuất
nhất định bị hạn chế. Chúng ta cũng thấy rằng trong chế độ kinh tế nớc ta hiện
nay, quy luật giá trị không thể điều tiết tỷ lệ phân phối lao động giữa các
ngành sản xuất khác nhau. Minh chứng rõ nhất là nớc ta tập trung phát triển
12