Tiểu luận cao học ĐƯỜNG lối NGOẠI GIAO TRONG tư TƯỞNG HCM - Pdf 34

®Ò TµI:

§êng lèi ngo¹i giao trong t tëng Hcm

1


Phụ lục
Lời nói đầu2
Nội dung.3
I. T tởng ngoại giao Hồ Chí Minh, nền tảng của đờng lối, chính
sách đối ngoại của Đảng và Nhà nớc ta3

1. Giơng cao đờng lối đối ngoại độc lập, tự chủ...3
2. Kết hợp dân tộc với quốc tế, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại..6
3. Phát huy truyền thống hoà hiếu của dân tộc, giơng cao ngọn cờ độc lập và
hoà bình, sẵn sàng làm bạn với tất cả các nớc dân chủ.7
4. Phối hợp mặt trận ngoại giao với mặt trận quân sự và mặt trận chính trị;
hoạt động quốc tế của Đảng, Nhà nớc và ngoại giao nhân dân, tạo nên sức
mạnh tổng hợp để giành thắng lợi..8
5. Kiên định về mục tiêu, linh hoạt về sách lợc, luôn giữ thế tiến công nhng
biết nhân nhợng, thoả hiệp đúng nguyên tắc, giành thắng lợi từng bớc để đi
tới thắng lợi hoàn toàn..10
6. Xử lý đúng đắn mối quan hệ với các nớc lớn, không để ảnh hởng đến
quan hệ với các nớc khác, u tiên cho mối quan hệ láng giềng và khu
vực...11
II. vận dụng t tởng ngoại giao hồ chí minh và những quan điểm
đổi mới của đảng ta trong lĩnh vực đối ngoại thời kỳ đổi mới14

1. Thực hiện đờng lối đối ngoại độc lập, tự chủ toàn vẹn lãnh thổ, hoà bình,
hợp tác và phát triển14

3


Nội dung
T tởng Ngoại giao của Hồ Chí Minh, hay nói rõ hơn, hệ thống các quan
điểm về đờng lối chiến lợc và sách lợc đối với các vấn đề quốc tế và quan hệ
quốc tế, các chính sách đối ngoại và hoạt động ngoại giao của Đảng và Nhà nớc
ta, là một bộ phận hữu cơ của t tởng Hồ Chí Minh về đờng lối cách mạng Việt
Nam.
T tởng ngoại giao Hồ Chí Minh là sự kết hợp truyền thống ngoại giao Việt
Nam với kinh nghiệm thời đại, tri thức uyên bác, bản lĩnh và phong cách tuyệt
vời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trở thành nền tảng và sợi chỉ đỏ xuyên suốt của
nền ngoại giao Việt Nam.
I. T tởng ngoại giao Hồ Chí Minh, nền tảng của đờng lối,
chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nớc ta.

1. Giơng cao đờng lối đối ngoại độc lập, tự chủ
Độc lập tự chủ, tự lực cánh sinh là đặc điểm quán xuyến nổi bật nhất trong
toàn bộ t tởng của Hồ Chí Minh. Đó cũng là quan điểm xuyên suốt của Ngời, từ
những năm đầu ra đi tìm đờng cứu nớc, lựa chọn con đờng giải phóng dân tộc,
xác định đờng lối cơ bản của cách mạng Việt Nam, cho đến việc hoạch định các
chủ trơng, chính sách cụ thể của Đảng và Nhà nớc ta mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn
trong đó có hoạt động ngoại giao. Ngời nói: Muốn ngời ta giúp cho, thì trớc hết
tự mình phải giúp lấy mình đã" và Muốn làm gì cũng cần vì lợi ích của dân tộc
mà làm.
Độc lập tự chủ thể hiện trớc hết ở việc dựa vào sức mình là chính, có
tham khảo, chọn lọc kinh nghiệm, bài học quốc tế nhng tự mình phải t duy nhận
thức và hành động tự chủ, sáng tạo, để tự tìm tòi, định ra những chủ trơng, chính
sách, biện pháp nhằm tự mình giải quyết công việc của đất nớc mình, không
nhận bất cứ một sức ép nào từ bên ngoài, không để biến thành con bài trong tay

Chí Minh đã chủ trơng tiến hành đồng thời các hình thức ngoại giao song phơng
và đa phơng. Một mặt tiến hành thơng lợng với Tởng, với Pháp, để có thời gian
chuẩn bị lực lợng và tranh thủ mọi cơ hội để gửi th, điện tới các nớc đồng minh,
yêu cầu đợc kết nạp vào Liên hiệp quốc,tham gia vào đời sống chính trị quốc tế.
Dù không đợc chấp nhận nhng chí ít cũng làm cho họ hiểu đợc ý chí và khát
vọng độc lập t do của dân tộc Việt Nam.
5


Đầu năm 1950, khi ta đặt đợc mối quan hệ ngoại giao với Liên Xô, Trung
Quốc, và các nớc xã hội chủ nghĩa Đông âu, chính thức trở thành thành viên của
phe xã hội chủ nghĩa. Nhng vào đầu năm 60, mâu thuẫn Xô - Trung từ chỗ âm ỉ đã
bùng nổ thành công khai, trong lúc đó công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền
Bắc và sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam của ta phụ thuộc vào viện trợ lớn
của hai nớc về kinh tế quân sự. Trong bối cảnh phức tạp đó vấn đề mà Chủ tịch Hồ
Chí Minh và Đảng ta phải xử lý là làm thế nào để vừa tranh thủ đợc sự ủng hộ, giúp
đỡ của cả hai nớc, đồng thời vẫn giữ vững đờng lối đối ngoại độc lập, tự chủ.
Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất phát từ nhận định, cuộc đấu tranh anh dũng
của nhân dân Việt Nam là vì độc lập và thống nhất Tổ quốc là sự nghiệp cao cả
và chính nghĩa, vì lẽ đó đã trở thành lơng tâm và vinh dự của thời đại, đợc cả loài
ngời tiến bộ, kể cả nhân dân Mỹ, đồng tình và ủng hộ, trong cuộc tranh chấp Xô
- Trung, để tập hợp lực lợng cả hai nớc đều cần đến Việt Nam.
Bằng thiên tài, trí tuệ, linh hoạt và khéo léo, đứng giữa làn sóng Xô Trung nh vậy nhng bằng tình cảm chân thành và trong sáng, bằng nghệ thuật ứng
xử ngoại giao tinh tế, có lý, có tình, Hồ Chí Minh và Đảng ta vẫn kiên trì đờng
lối độc lập, tự chủ kiên trì vận động thuyết phục, làm cho bạn hiểu ta, tiếp tục
ủng hộ, giúp đỡ ta và đã chỉ đạo thực hiện một đối sách ngoại giao khôn khéo
hiệu quả đến khi sự nghiệp thống nhất đất nớc ta hoàn toàn thắng lợi. Có thể nói
rằng, ngoại giao Việt Nam trong những năm 1960, đã thể hiện rõ thiên tài ngoại
giao Hồ Chí Minh, bằng sự linh hoạt chủ động của mình, Hồ Chí Minh đã chèo
chống đa con thuyền ngoại giao đến bến an toàn, hiệu quả.

mình sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lợi ích dan tộc với nghĩa vụ quốc tế, sức
mạnh bên trong với sức mạnh bên ngoài, cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc
địa với cách mạng vô sản ở chính quốc.
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của nhân dân ta,
Ngời đã giáo dục toàn dân cần phân biệt rõ ràng bọn thực dân cớp nớc, bọn đế
quốc hiếu chiến với nhân dân yêu chuộng hoà bình và công lý của các nớc xâm
lợc. Với phơng châm là mở rộng quan hệ quốc tế làm cho nớc mình ít kẻ thù
hơn hết và nhiều bạn đồng minh hơn hết, Ngời luôn luôn nhắc nhở cán bộ làm
công tác đối ngoại rằng: ngoại giao của nớc ta cốt tranh thủ nhiều ngời ủng hộ
cuộc đấu trang cứu nớc của ta,... phải làm sao vui lòng mọi ngời, làm vui lòng
ngời binh nhất, binh nhì. Tuy không đợc lòng họ trăm phần trăm, nhng không đ7


ợc mất lòng ai trăm phầm trăm,...ta phải giúp đỡ họ và mong cho tất cả họ đoàn
kết ".
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao đoàn kết giữa các lực lợng tiến bộ trên
thế giới: đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là thắng lợi ngời nhấn mạnh các lực lợng ấy đoàn kết chặt chẽ với nhau thành một mặt trận thống nhất mạnh mẽ tạo
thành sức mạnh để thực hiện cách mạng của thời đại.
Nhờ đó trong kháng chiến cũng nh trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhân
dân ta đã nhận đợc sự đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ to lớn, có hiệu quả của các nớc
xã hội chủ nghĩa anh em, của nhân dân tiến bộ trên thế giới, mà tiêu biểu nhất là
sự hình thành trên thực tế một mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ nhân dân Việt
Nam chống Mỹ, góp phần đa sự nghiệp độc lập và thống nhất của Tổ quốc đi tới
thắng lợi trọn vẹn.
Mặt khác, tranh thủ sự giúp đỡ của quốc tế cho dân tộc mình, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đồng thời không quên nhắc nhở phải hoàn thành tốt nghĩa vụ quốc tế,
giúp bạn là giúp mình nhất là với cách mạng Lào và cách mạng Campuchia.
Trong hai cuộc kháng chiến, Hồ Chí Minh đã chỉ đạo hình thành mặt trận nhân
dân ba nớc Đông Dơng, phối hợp và giúp đỡ bạn cùng chiến đấu, góp vào thắng
lợi chung.

giao, đã phân tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc hiện nay, đấu
tranh quân sự và đấu tranh chính trị ở miền Nam là nhân tố chủ yếu quyết định
thắng lợi trên chiến trờng làm cơ sở cho thắng lợi trên mặt trận ngoại giao.
Chúng ta chỉ có thể giành đợc trên bàn Hội nghị cái mà chúng ta giành đợc trên
chiến trờng. Tuy nhiên, đấu tranh ngoại giao không chỉ đơn thuần phản ánh cuộc
đấu tranh trên chiến trờng, mà trong tình hình quốc tế hiện nay, với tính chất
cuộc chiến tranh giữa ta và địch, đấu tranh ngoại giao giữ một vai trò quan trọng
và chủ động.
Với tinh thần đó, tháng 5/1969, Bác nêu nhiệm vụ cho đoàn đàm phán
Việt Nam tại Hội nghị Paris: Tiến công ngoại giao là một mặt trận tiến công
quan trọng có ý nghĩa chiến lợc lúc này. Nó có nhiệm vụ phát huy thế thắng và
thế chủ động của ta, tiến công một kẻ địch đang thất bại, bị động về mọi mặt và
phải xuống thang; phát huy thắng lợi quân sự và chính trị trên chiến trờng quốc
tế; tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ lớn nhất của nhân dân tiến bộ trên thế giới, kể
cả nhân dân Mỹ, nắm vững thời cơ, phối hợp với tiến công quân sự và tiến công
chính trị, tiến công liên tục và sắc bén, kiên trì nguyên tắc, khéo vận dụng sách lợc, vừa kiên quyết, vừa linh hoạt, buộc Mỹ phải rút quân và nhận một giải pháp
chính trị đáp ứng yêu câu cơ bản của ta.
Chiến tranh cách mạnh Việt Nam là chiến tranh nhân dân, dựa vào sự
đoàn kết toàn dân mở rộng các mối liên hệ với nhân dân thế giới. Chính vì thế,
10


ngoại giao nhân dân đóng vai trò quan trọng trong t tởng Hồ Chí Minh. Xuất phát
từ tầm cao nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh và chủ nghĩa nhân văn Việt Nam,
Đảng và Bác đã dày công giáo dục và tăng cờng giác ngộ chính trị cho quần
chúng nhân dân về chủ nghĩa quốc tế vô sản và chỉ đạo tiến hành các hoạt động
ngoại giao để tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân tiến bộ trên thế giới ủng hộ nhân
dân Việt Nam.
Dới sự chỉ đạo của t tởng ngoại giao Hồ Chí Minh, trong kháng chiến
chống Mỹ, chúng ta đã thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng trên cơ sở kết

đối thoại, để đạt mục tiêu. Chính vì vậy, trong hoạt động ngoại giao, Ngời thờng
nhắc nhở cán bộ ta: trong đấu tranh ngoại giao phải kiên trì, chớ có nôn nóng,
muốn đạt ngay mục tiêu cuối cùng. Kẻ thù dù thất bại, buộc phải xuống thang,
nhng vì thể diện, nó sẽ xuống thang dần dần. Ta cũng phải biết thắng từng bớc.
6. Xử lý đúng đắn mối quan hệ với các nớc lớn, không để ảnh hởng
đến quan hệ với các nớc khác, u tiên cho mối quan hệ láng giềng và khu
vực.
Trong quan hệ quốc tế các siêu cờng thờng giữ vai trò chi phối với chính
sách các nớc nhỏ. Việt Nam do vị trí địa lý - chính trị của mình, nên luôn là mắt
xích quan trọng trong tính toán chiến lợc của các nớc lớn. Tuy nhiên, nếu xử lý
đúng đắn mối quan hệ với các nớc lớn, phù hợp với vị trí địa lý - kinh tế - chính
trị của mình, khai thác đợc các mối quan hệ tuỳ thuộc, ứng xử khôn khéo, linh
hoạt và kịp thời, biết kiên trì đấu tranh, thì có thể hạn chế đợc những thoả hiệp
tính toán của các nớc lớn làm bất lợi cho mình. Đó là chính sách đối ngoại hết sức
quan trọng của Đảng và nhà nớc ta. Nguyên tắc cơ bản là nắm vững lợi ích dân
tộc, giữ vững độc lập, tự chủ, không chịu sức ép, tác động của bất cứ ai, cố gắng
tìm mẫu số chung, thi hành chính sách cân bằng, không ngả theo bên này chống
lại bên kia.
Thời kì 1945-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xử lý rất khéo léo mối quan
hệ với các nớc lớn có mặt ở Việt Nam: Cố gắng tranh thủ, chí ít là trung lập hoá
Mỹ, hoà hoãn với Tởngđể tập trung đối phó với kẻ thù chính là bọn thực dân
phản động Pháp.
Trong giai đoạn 1947-1949, Đảng ta dự đoán Mỹ có thể can thiệp vào tình
hình Việt Nam. Thông cáo về công tác tuyên truyền và ngoại giao của Thờng vụ
trung ơng Đảng gửi các Xứ uỷ (ngày 12-10-1947) nêu rõ: Tuy ta nhận rõ tham
vọng của Mỹ và nguy cơ Mỹ nhng những cái đó cha trực tiếp đối với ta nên ta
vẫn phải lợi dụng triệt để những mâu thuẫn dù nhỏ đến mấy, giữa Pháp và Mỹ.
12



thủ đợc viện trợ to lớn của Liên Xô và Trung Quốc cho Việt Nam. Còn đối với
Mỹ, Hồ Chí Minh tìm kiếm cơ hội hoà bình. Ngời nêu chủ trơng trải thảm đỏ
hay nhịp cầu vàng để quân đội Mỹ rút về nớc, từng bớc buộc Mỹ phải xuống
thang, ngồi vào bàn đàm phán thơng lợng với ta, từng bớc đấu tranh thoả thuận
đi tới chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam.
Giữ cân bằng trong quan hệ với các nớc lớn, chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn
giành u tiên cho mối quan hệ với các nớc láng giềng gần gũi trong khu vực, trớc
hết là với Lào và Campuchia cùng chiến đấu chống kẻ thù chung.
Với nớc láng giềng Trung Quốc, chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm phát
triển quan hệ hữu nghị và hợp tác với Trung Quốc. Trong toàn bộ phát biểu của
Hồ Chí Minh về đất và nhân dân Trung Hoa toát nên sự hiểu biết sâu sắc và đánh
giá đúng vị trí của quốc gia này. Ngời từng nói Trung Quốc là một nớc vĩ đại
hùng cờng và đẹp đẽ. Nền văn hoá lâu đời và u tú của Trung Quốc đã có ảnh hởng sâu xa ở châu á và trên thế giới.
Thời kỳ sau cách mạng Trung Quốc thành công, hai nớc cùng xây dựng
chế độ mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm tất cả để xây dựng mối quan hệ mới,
hữu nghị, hợp tác toàn diện giữa hai Đảng, hai nhà nớc và nhân dân Việt Nam Trung Quốc.
Hồ Chí Minh cũng hết sức coi trọng thiết lập mối quan hệ láng giềng tốt
với các nớc trong khu vực có chế độ chính trị khác nhau. Miền Bắc đợc giải
phóng, sau chuyến đi thăm cảm ơn các nớc xã hội chủ nghĩa anh em, Ngời đã
dẫn đầu đoàn đại biểu Đảng và Nhà nớc ta đi thăm ấn Độ, Miền Điện,
13


Inđônêxia, hình thành trục hữu nghị Hà Nội - Đêli - Giacácta,và có thể nói cho
đến những năm 50 đầu 60, Hồ Chí Minh đã thành công trong việc xây dựng các
mối quan hệ với các quốc gia trong khu vực, thế giới bắt đầu nói đến quan hệ
tam hùng ở khu vực là Hồ Chí Minh - Nêru - Xucácnô.
Tóm lại, thiên tài ngoại giao Hồ Chí Minh là ở chỗ, trong những mối quan
hệ chồng chéo, phức tạp của bối cảnh quốc tế lúc đó, với tài năng ứng xử bình
tĩnh, khôn khéo, với đức độ chân thành thiện chí toát ra từ cuộc đời trong sáng,

của kinh tế thế giới, xuất hiện các con rồng, con hổ những quốc gia công
nghiệp phát triển. Đặc biệt với sự thành công Trung Quốc trỗi dậy thành một đầu
tàu kinh tế thế giới, một trung tâm quyền lực mới tại khu vực.
Trớc những thay đổi lớn lao đó thì đờng lối, chính sách đối ngoại của nớc
ta cũng cần phải có sự điều chỉnh cho phù hợp. Trớc tiên Đảng ta chủ trơng tập
trung giải quyết những vấn đề trọng yếu trong quan hệ quốc tế, nhằm tạo thế ổn
định và tạo ra môi trờng quốc tế thuận lợi, phục vụ cho quá trình đổi mới, xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Những hoạt động đối ngoại, tiếp thu những bài học kinh nghiệm đã đợc
tổng kết, đúc rút qua thực tiễn đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ
nghĩa xã hội. Nâng cao tinh thần đoàn kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời
đại, độc lập , tự chủ, tự lực, tự cờng và tăng cờng mở rộng hợp tác quốc tế; phát huy
sức mạnh đại đoàn kết dân tộc; xây dựng quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nớc
láng giềng và xử lý đúng đắn với các nớc lớn.... đã trở thành các quyết sách về đối
ngoại từ đó đa đến thắng lợi của Việt Nam.
1. Thực hiện đờng lối đối ngoại độc lập, tự chủ toàn vẹn lãnh thổ, hoà
bình, hợp tác và phát triển.
Nhìn lại hơn 20 năm đổi mới, đã khẳng định đờng lối đối ngoại độc lập, tự
chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển của Đảng ta là hoàn toàn đúng đắn. Đó chính
là một bộ phận trong đờng lối chính trị của Đảng góp phần thực hiện thắng lợi
các nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam.
Năm 1986, tại Đại hội VI Đảng ta thực hiện công cuộc đổi mới trong bối
cảnh đất nớc đang trong tình trạng khủng hoảng về kinh tế - xã hội một cách
trầm trọng, bị bao vây cấm vận, đồng thời đứng trớc những thách thức và tác
động sâu sắc từ những đảo lộn diễn ra trên thế giới. Ta bắt đầu tiến hành đổi
mới, trong khi đối ngoại có hai vấn đề lớn cần phải xử lý: đó là phải phá thế đất
nớc đang bị bao vây, cấm vận và phải thích ứng bối cảnh khách quan của thế giới
15



hội, lấy việc giữ vững môi trờng hoà bình, ổn định để phát triển kinh tế - xã hội,
16


thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, theo định hớng xã hội chủ nghĩa là lợi
ích cao nhất của tổ quốc
Đại hội X của Đảng đã khẳng định: Thực hiện nhất quán đờng lối đối
ngoại độc lập tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng
mở, đa phơng hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế. Chủ động và tích cực hội
nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác.
Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nớc trong cộng đồng quốc tế, tham gia
tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực.
Và cho đến Đại hội XI của Đảng cũng đã khẳng định: Thực hiện nhất
quán đờng lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; đa phơng
hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, là bạn, đối tác
tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong công đồng quốc tế, vì lợi ích quốc gia,
dân tộc, vì một nớc Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh
Nhờ thực hiện đồng bộ, nhất quán đờng lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà
bình hợp tác và phát triển theo t tởng Hồ Chí Minh cho nên Đảng và Nhà nớc ta
đã đạt đợc những thành tựu quan trọng trong công tác đối ngoại từ khi đổi mới
cho đến nay. Đại hội X khẳng định: công cuộc đổi mới ở nớc ta đã đạt những
thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Trong những thành tựu đó có đóng góp
không nhỏ của công tác đối ngoại.
Các hoạt động đối ngoại đã góp phần giữ vững môi trờng hoà bình, tạo các
điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
phát triển kinh tế - xã hội, tăng cờng ổn định chính trị, xã hội, cũng cố an ninh,
quốc phòng, đa đất nớc vợt qua thách thức và đi vào giai đoạn phát triển mới, vị
thế của nớc ta trên trờng quốc tế không ngừng nâng cao.
Từ chỗ bị bao vây, cấm vận về kinh tế, cô lập về chính trị, đến nay nớc ta
đã phát triển quan hệ đa phơng, đa dạng với các chủ thể quan hệ quốc tế. Việt

Minh về vấn đề này có ý nghĩa thực tiễn to lớn. Thế và lực của đất nớc không
ngừng đợc cũng cố tạo tiền đề thuận lợi để tranh thủ đợc sức mạnh thời đại và
kết hợp sức mạnh thời đại với sức mạnh của dân tộc.
Chủ động hội nhập quốc tế và tham gia vào các quá trình toàn cầu hoá
cũng là để tận dụng sức mạnh của thời đại. Việc thực hiện đa dạng hoá và đa phơng hoá quan hệ quốc tế mở ra khả năng tập hợp lực lợng rộng rãi là phù hợp với
mục tiêu cách mạng trong giai đoạn mới.

18


Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại, gắn cách mạng Việt
Nam với cách mạng thế giới còn là phát huy triệt để những thế mạnh của chính
mình để tận dụng mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của quan hệ quốc tế. Tham
gia vào những hình thức tập hợp lực lợng quốc tế có lợi là vừa góp phần bảo đảm
an ninh quốc gia, vừa tranh thủ cao độ mọi nguồn lực từ bên ngoài để kết hợp và
bổ sung cho nội lực, phục vụ cho phát triển và bảo vệ đất nớc.
Tuy nhiên trong quá trình ấy chúng ta cần chú ý trớc hết đến lợi ích dân
tộc, nêu cao chính nghĩa, sao cho phù hợp với xu thế phát triển của thời đại, gắn
kết sự nghiệp của đất nớc với những mục tiêu tiến bộ của nhân loại, chủ nghĩa
yêu nớc chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng.
Để tận dụng đợc sức mạnh thời đại, gắn cách mạng Việt Nam với cách
mạng thế giới nhằm bổ sung, hỗ trợ cho các tiềm năng phát triển ở trong nớc,
cần tranh thủ mọi hình thức tập hợp lực lợng và khai thác lẫn nhau và sự ràng
buộc lẫn nhau về lợi ích một cách thuận lợi, để thêm bạn bớt thù, hạn chế sự
chống phá và làm thất bại mọi âm mu của các thế lực bên ngoài gây mất ổn định
hoặc làm suy yếu Việt Nam.
Sau hơn 20 năm đổi mới, thế và lực của đất nớc ngày càng đợc tăng cờng.
Đây là thuận lợi cơ bản trong bối cảnh tình hình nớc ta hiện nay. Với nền kinh tế
tăng trởng nhanh và môi trờng chính trị luôn luôn ổn định. Việt Nam ngày càng
tỏ rõ sức hút mạnh mẽ đối với các đối tác kinh tế thơng mại và đầu t nớc ngoài.

Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại thực sự là vấn đề chiến lợc của cách mạng Việt Nam nói chung và công tác đối ngoại của Đảng ta nói
riêng qua mọi thời kỳ và mọi giai đoạn. Vận dụng vào hoàn cảnh thực tiễn hiện
nay, bên cạnh phát huy nội lực và sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, chúng
ta cần tận dụng xu thế hoà bình hợp tác và phát triển trên thế giới và trong khu
vực, tận dụng những thành tựu của cách mạng khoa học - công nghệ cùng những
mặt tích cực của quá trình toàn cầu hoá để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nội lực
luôn là yếu tố quyết định, nhng chúng ta cũng cần hết sức tranh thủ các nguồn
lực ngoại lực thông qua việc hội nhập và hợp tác quốc tế nhằm phục vụ công
cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
3. Mở rộng quan hệ với tất cả các nớc, các vùng lãnh thổ trên thế giới và các
tổ chức quốc tế có sự quan tâm đến các nớc láng giềng và khu vực
Vận dụng t tởng ngoại giao Hồ Chí Minh, xuất phát từ mục tiêu và bối
cảnh cụ thể. Đại hội VIII khẳng định: Tiếp tục thực hiện đờng lối đối ngoại độc
20


lập tự chủ, rộng mở, đa phơng hoá và đa dạng hoá các quan hệ đối ngoại với tinh
thần Việt Nam muốn làm bạn của tất cả các nớc trong cộng đồng thế giới, phấn
đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển. Năm năm sau, đờng lối này đợc Đại hội
IX điều chỉnh, bổ sung thành t tởng: Việt Nam sẵn sàng là bạn và đối tác tin
cậy của các nớc trong cộng đồng quốc tế.
Trên cơ sở xác định chủ trơng và đờng lối đối ngoại đó, Đảng ta tiếp tục
nhấn mạnh phải giữ vững môi trờng hoà bình tạo điều kiện quốc tế thuận lợi để
đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc, xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm độc lập và chủ quyền quốc gia, đồng thời góp
phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc
lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Với những chủ trơng đó, chúng ta đã cải thiện cũng cố và phát triển quan
hệ hữu nghị với các nớc láng giềng, các nớc XHCN. Từ chỗ nớc ta gần nh cô lập
trong khu vực, chúng ta đã phát triển mạnh mẽ quan hệ về mọi mặt với các nớc

các nớc đang phát triển ở châu á và châu Phi. Bên cạnh việc tăng cờng quan hệ
hợp tác song phơng Việt Nam cũng đã tích cực thúc đẩy đối thoại, phối hợp và
hợp tác đa phơng với các nớc đang phát triển trong nhóm G7, diễn đàn á - Phi,
phong trào không liên kết nhằm nâng cao vị thế, vai trò của các nớc đang phát
triển trong quan hệ với các nớc t bản phát triển nói riêng và trong quan hệ quốc
tế nói chung.
Việt Nam cũng đã tham gia tích cực các diễn đàn, các hội nghị quốc tế về
phát triển, về văn hoá xã hội, môi trờng dân số, .... tham gia nhiều công ớc, điều
ớc quốc tế trên nhiều lĩnh vực khác nhau
Nh vậy, từ chỗ chỉ có quan hệ chính trị là chủ yếu với các nớc xã hội chủ
nghĩa và một số nớc đang phát triển, đến nay nớc ta đã có quan hệ ngoại giao
rộng mở nhiều nớc trên thế giới. Đảng ta cũng có quan hệ với các đảng và tổ
chức xã hội trên thế giới gồm nhiều xu hớng chính trị khác nhau. Ngoại giao
nhân dân phát triển mạnh mẽ về mọi mặt, thiết lập đợc mối quan hệ hữu nghị với
tất cả các nớc láng giềng và khu vực, có quan hệ bình thờng với tất cả các nớc
lớn, các trung tâm chính trị - kinh tế trên thế giới, với hầu hết các tổ chức khu
vực và quốc tế. Những thành tựu đối ngoại to lớn ấy đã đem lại những thắng lợi
quan trọng đó là nớc ta đã phá đợc thế bao vây, cô lập và cấm vận kinh tế, mở
rộng quan hệ đối ngoại ra khắp thế giới theo phơng châm đa dạng hoá, đa phơng
hoá, tạo ra môi trờng quốc tế thuận lợi phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp
22


hoá, hiện đại hoá đất nớc. Những thắng lợi đó đã góp phần bảo vệ, củng cố chủ
quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; từng bớc làm thất bại các âm mu và
hành động diễn biến hoà bình, can thiệp chống Đảng, Nhà nớc và chế độ ta của
các thế lực thù địch, giữ vững an ninh, ổn định chính trị - xã hội, nâng cao vị thế
và uy tín của Việt Nam trên thế giới.
Đại hội X lần nữa nhấn mạnh Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nớc trong cộng đồng quốc tế" đồng thời bổ sung thêm một ý về lòng mong muốn
"tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực.

năm qua đã góp phần đắc lực vào công cuộc bảo vệ đất nớc. Những bài học kinh
nghiệm ấy cần đợc vận dụng phát huy và phát triển hơn nữa trong giai đoạn mới
nhằm định hớng t duy đối ngoại, hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách đối

24


ngoại, phục vụ phát triển kinh tế đất nớc, mở rộng quan hệ quốc tế trong điều kiện
hội nhập và toàn cầu hoá.
Toàn Đảng, toàn dân ta luôn kiên định mục tiêu, lý tởng độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội mà Hồ Chí Minh đã chọn. Hiện thực hoá quy luật dựng nớc đi đôi
với giữ nớc, nắm vứng hai nhiệm vụ chiến lợc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo
đảm tự chủ về kinh tế, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, giữ vững độc lập quốc gia
trong quan hệ hội nhập khu vực và thế giới, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi và tôn
trọng lẫn nhau giữa các nớc. Thực hiện chính sách đối ngoại đa dạng hoá, đa phơng
hoá, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của phong trào hoà bình, độc lập dân tộc, dân
chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới, tăng cờng hợp tác với tất cả các nớc, các tổ chức,
hợp tác với các nớc trong phong trào không liên kết góp phần hình thành một trật tự
thế giới công bằng và bình đẳng vì sự nghiệp hoà bình, ổn định và phát triển của
nhân loại.

Tài liệu tham khảo
1. Văn kiện đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2006.
2. Văn kiện đại biểu toàn quốc lần thứ XI, nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2011.
3. Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1995-1996.
4. T tởng ngoại giao Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2002.
5. Trần Minh Trởng: Hoạt động ngoại giao của chủ tịch Hồ Chí Minh từ 1954
đến 1969, Nxb Công an Nhân dân, Hà Nội 2005.
6. Giáo s Song Thành: Hồ Chí Minh nhà t tởng lỗi lạc, Nxb Lý luận Chính trị,
2009.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status