tiểu luận cao học Diễn biến hòa bình trong hoạt động tôn giáo nhiệm vụ và giải pháp thực hiện hiệu quả cuộc đấu tranh về diễn biến hòa bình trong hoạt động tôn giáo ở nước ta hiện nay - Pdf 34

MỞ ĐẦU
1.Lý do và tính cấp thiết của đề tài tiểu luận
“Diễn biến hòa bình” là bộ phận quan trọng trong chiến lược toàn cầu
phản cách mạng của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch nhằm xóa bỏ
các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào độc lập dân tộc trên thế giới.
Sau khi xóa được chủ nghĩa xã hội ở các nước Đông Âu và Liên xô,
chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch coi Việt Nam là một trọng điểm
trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của
Đảng, xóa bỏ chế độ XHCN, lái nước ta theo con đường chủ nghĩa tư bản
và lệ thuộc vào chúng…
Để thực hiện âm mưu trên, các thế lực thù địch coi “Chủ nghĩa dân tộc
là một lực lượng hùng hậu nhất có thể sử dụng” để đạt được mục tiêu dùng
tôn giáo như một lực lượng chính trị “đối trọng” với Đảng Cộng sản Việt
Nam, từ đó hậu thuẫn số đối tượng chống đối trong nước làm lực lượng
thúc đẩy nhanh tiến trình “dân chủ hóa” làm thay đổi thể chế chính trị ở
Việt Nam, thực hiện âm mưu “không đánh mà thắng”.Nhận thấy được tầm
quan trọng của vấn đề nên tác giả quyết định chọn vấn đề: “Diễn biến hòa
bình trong hoạt động tôn giáo.Nhiệm vụ và giải pháp thực hiện hiệu quả
cuộc đấu tranh về diễn biến hòa bình trong hoạt động tôn giáo ở nước ta
hiện nay”
2. Phạm vi và giới hạn nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, tác giả đã xác định đối tượng nghiên cứu của
đề tài là những khái niệm có liên quan đến diễn biến hòa bình, cũng như
bản chất và âm mưu thủ đoạn của diễn biến hòa bình
Tập trong đi sâu nghiên cứu và làm rõ các thủ đoạn mà các thế lực
phản động, đế quốc sử dụng trong hoạt động tôn giáo để chống phá nhà
nước và cách mạng
Tác giả đưa ra được những chủ trương và giải pháp thực hiện hiệu
quả cuộc đấu tranh chống diễn biến hòa bình trong hoạt động tôn giáo.
1


2


CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DIỄN
BIẾN HÒA BÌNH
1. Khái niệm, bản chất của diễn biến hòa bình
Thuật ngữ “Diễn biến hòa bình” xuất hiện lần đầu tiên trong đời sống
chính trị quốc tế vào năm 1949.Ngoại trưởng Mỹ lúc đó, Dean Akison,
trong một bức thư gửi tổng thống Truman, đã sử dụng khái niệm “Diễn
biến hòa bình” để chỉ sự chuyển hóa các nước XHCN thành TBCN. Sau đó
khái niệm này đã trở thành phổ cập trên thế giới. Từ những năm 50 các
nước XHCN đã đề cập đến âm mưu “Diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế
quốc và coi đấu tranh chống DBHB là một nội dung quan trọng của cuộc
đấu tranh tư tưởng trong các nước XHCN.
Ngày nay trong thực tiễn chính trị thế giới cuuxng như trong sách
báo và các văn kiện chính trị, thuật ngữ DBHB được sử dụng khác nhau.
Khi thì DBHB của các thế lực đế quốc và phản động, khi thì dung để đặt
tên cho một chiến lược, một chính sách đối ngoại của Mỹ và các nước
phương Tây. Tuy vậy, dù được đề cập đến từ góc độ nào đó thì đó vẫn là
khái niệm phản ánh về thủ đoạn, phương thức của CNTB và các thế lực thù
địch chống CNXH.
Với cách tiếp cận như vậy, có thể hiểu: DBHB là chiến lược tiến
công của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động vào bên trong các
nước XHCN và các Đảng cộng sản trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
bằng tất cả các phương tiện, thủ đoạn nhằm tạo ra các nhân tố chống
CNXH trong các nước XHCN , từ đó tưng bước làm chuyển hóa, đẩy lùi đi
đến xóa bỏ CNXH. DBHB là cuộc “chiến tranh không có tiếng súng” hòng
giành “chiến thắng không cần chiến tranh”.
Bản chất của chiến lược “diễn biến hòa bình” là không hề thay đổi,
song phương thức, thủ đoạn và âm mưu “diễn biến hòa bình” thì biến hóa

Nếu phương diện thứ nhất dựa vào sức mạnh của kẻ cướp thì phương
diện thứ hai dựa vào thủ đoạn làm tan rã nội bộ, hết sức xảo quyệt. Chính
các nhà tư tưởng của CNĐQ đã tổng kết: “Có những việc 100 nhà máy
chiến đấu không thực hiện nổi, nhưng chỉ cần 10 sứ giả lại có thể hoàn
4


thành”, “một đài phát thanh cũng có thể bình định xong một đất nước”.
Ngày nay “làn sóng điện đang thay thế thanh gươm; cây bút là phương tiện
đi vào trái tim khối óc con người”; “một đôla chi cho tuyên truyền có tác
dụng ngang với 5 đôla chi cho quốc phòng”; “kích động vấn đề dân chủ,
nhân quyền, dân tộc, tôn giáo là bốn đòn đột phá khẩu, bốn mũi xung
kích để trọc thủng mặt trận tư tưởng chính trị”. Níchxơn- nguyên Tổng
thống Mỹ- đã nhiều lần nhấn mạnh rằng: “mặt trận tư tưởng là mặt trận
quyết định nhất”; “toàn bộ vũ khí của chúng ta, các hoạt động mậu dịch,
viện trợ, quan hệ kinh tế sẽ không đi đến đâu nếu chúng ta thất bại trên
mặt trận tư tưởng”.
Không phải ngẫu nhiên mà khi CNXH lâm vào khó khăn, khủng
hoảng, cách mạng thế giới ở thế thoái trào, các thế lực thù địch càng dấn
tới, tiến công dồn dập và quyết liệt vào CNXH, vào lý luận Mác-Leenin.
Các nhà tư tưởng chống cộng liên tiếp cho ra đời những quyển sách chống
cộng như: Chiến thắng không cần chiến tranh của Níchxơn, xuất bản năm
1990; Chớp thời cơ, thế giới một siêu cường, Níchxơn, 1992; Vượt qua hòa
bình, Níchxơn, 1993; Thất bại lớn, sự ra đi của cộng sản của Brêdinxki,
1989; Ngoài vòng kiểm soát, Bereedinxki, 1993; Sự tận cùng của lịch sử
của Phucuyama,1989…
Thời gian gần đây, các thế lực thù địch và các phần tử cơ hội hoạt
động rất ráo riết với nhiều thủ đoạn và sách lược mới, như:
- Tiến công ta mạnh mẽ về tư tưởng và văn hóa, coi đây là mũi nhọn
đột phá,thọc sâu; vừa dùng các lực lượng, phương tiện từ bên ngoài, vừa

phát thanh và truyền hình, hàng trăm tờ báo và tạo chí tiếng Việt để tuyên
truyền chống Việt Nam.Sử dụng Internet và sẵn sàng mở khóa choc ac đối
tượng để truy cập những thông tin sai lệch do chúng đưa lên mạng. Dùng
điện thoại trực tiếp phỏng vấn, kích động tâng bốc,lôi kéo một số người có
quan điểm sai trái
- Các tổ chức phản động người Việt lưu vong ở nước ngoài tiếp tục sử
djng những chiêu bài chống tham nhũng, đòi dân chủ, nhân quyền để tuyên
truyền, kích động, chia rẽ nội bộ ta. Một số tổ chức thay đổi thủ đoạn hoạt
6


động: tìm mọi cách câu kết, móc nối với số người bất mãn trong nước, kêu
gọi người Việt ở hải ngoại phải cố kết, ủng hộ, tiếp sức cho lực lượng quốc
nội nổi dậy. Đồng thời đẩy mạnh các hoạt động giao lư văn hóa, giáo dục,
nghiên cứu, hội thảo, thăm thân, hồi hương để thực hiện ý đồ của chúng.
Chúng đang cố dựng lên những “ngọn cờ” chống đối ta.
- Một số phần tử phản động đội lốt tôn giáo ra sứ tuyên truyền, vận
động, lôi kéo quần chúng theo đạo, gây thanh thế, tranh giành ảnh hưởng,
đồi thoáy ly sự quản lý của Nhà nước. Chúng tích cực phát triển đạo vào
các vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng trước đây, khu vực biên
giới, lôi kéo tín đồ, kể cả cán bộ, đảng viên, đi lễ bái và tham gia các hoạt
động mê tín.
Một số người cơ hội chính trị,bất mãn ở trong nước lợi dụng các
diễn đàn, các mối quan hệ để truyền bá những quan điểm sai trái của
mình, liên tiếp viết đơn thư, tài liệu vu cáo, đả kích chế độ ta, kích động
nhân dân, nhất là thanh niên, sinh viên, văn nghệ sĩ, tri thức…đứng lên
lật đổ chế độ ta.
Toàn bộ những hoạt động nêu trên tuy mỗi loại có biểu hiện khác
nhau, với tính chất, phạm vi,mức độ khác nhau nhưng tựu chung đều là
nhằm tấn công vào sự lãnh đạo của Đảng ta, đòi xóa bỏ sự lãnh đạo của

Tận dụng cơ hội Liên Xô và các nước XHCN đang tiến hành cải tổ,
cải cách, các thế lực đế quốc và phản động,đứng đầu là Mỹ, tăng cường tác
động vào bên trong mỗi nước để làm chệch hướng cải tổ, cải cách sang con
đường TBCN, thực hiện DBHB làm sụp đổ CNXH từ bên trong. Trên thực
tế, chúng đã đạt được mục tiêu xóa bỏ CNXH ở Liên Xô và Đông Âu.
Sauk hi đế quốc CNXH ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, chủ nghĩa đế
quốc và các thế lực phản động đã và đang chuyển hướng tấn công bằng
DBHB vào các nước XHCN còn lại, trong đó Việt Nam được coi là mục
tiêu quan trọng hàng đầu. Chính vì vậy, cuộc đấu tranh tư tưởng ở nước ta
hiện nay mà trước hết là đấu tranh chống DBHB là một tất yếu khách quan.
Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa X đã xác định
phải: “Triển khai đồng bộ, chủ động cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng,
8


phản bác các luận điệu tuyên tryền xuyên tạc, vu cáo, chống phá Đảng, Nhà
nước ta, làm thất bại âm mư DBHB, thực hiện đa nguên chính trị, hình
thành lực lượng đối lập, gây bạo loạn, lật đổ của các thế lực thù địch;
thường cảnh giác,chủ độgn phòng, chống nguy cơ tự diễn biến ở cả trung
ương và các ngành, các cấp”.
- Thứ hai, tác động của những tàn dư của hệ tư tưởng phong kiến và
những tư tưởng tiêu cực của đời sống xã hội trong thời kỳ quá độ đi lên
CNXH ở nước ta. Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, do đó khi tồn tại
xã hội thay đổi thì ý thức xã hội cũng thay đổi theo. Tuy nhiên, sự thay đổi
của ý thức xã hội thường là chậm chạp hơn so với tồn tại xã hội. Vì thế,
mặc dù chế độ phong kiến đã bị xóa bỏ trên đất nước ta từ hơn nửa thế kỷ
nay nhưng ý thức hệ phong kiến ít nhiều tồn tại, chi phối nhận thức và hành
động của con người Việt Nam hôm nay. Những tư tưởng phản tiến bộ như
ích kỷ, hẹp hòi, cục bộ, địa vị,đẳng cấp… là sản phẩm của hệ tư tưởng
phong kiến vẫn hàng ngày hàng giờ tác động đến nếp nghĩ , nếp làm của

lớn trong việc giúp dân, cứu nước được cả cộng đồng tôn sùng và đời đời
thờ phụng. Trong tâm thức của người Việt luôn tiềm ẩn, chứa đựng đạo lý
“uống nước, nhớ nguồn”. Điều đó thể hiện rất rõ trong đời sống, sinh hoạt
tín ngưỡng, tôn giáo của họ.
Từ đặc điểm tự nhiên, lịch sử và văn hoá đó đã tác động sâu sắc đến
tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam, làm cho tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam có
những đặc điểm sau:
-Một là, Việt Nam là một quóc gia có nhiều hình thức tín ngưỡng, tôn
giáo khác nhau đang tồn tại.
Đó là do điều kiện địa lý nước ta thuận lợi cho việc giao lưu của nhiều
luồng tư tưởng, văn hoá khu vực và thế giới, lại chịu ảnh hưởng của hai nền
văn minh lớn của thế giới là Trung Hoa và Aán Độ.

10


Nước ta có nhiều dân tộc cư trú(54 dân tộc) ở nhiều khu vực khác
nhau, với điều kiện tự nhiên, khí hậu, lối sống, phong tục, tín ngưỡng, tôn
giáo khác nhau. Hơn nữa, bản tính người Việt luôn cởi mở, khoan dung nên
cùng một lúc họ có thể tiếp nhận nhiều hình thức tín ngưỡng, tôn giáo khác
nhau. Từ những hình thức tôn giáotín ngưỡng sơ khai đến hiện đại, từ tôn
giáo phương Đong cổ đại đến phương Tây cận, hiện đại, tất cả đã và đang
cùng tồn tại bên cạnh tín ngưỡng dân gian, bản địa của nhiều dân tộc, bộ
tộc khác nhau.
-Hai là, Tính đan xen, hoà đồng, khoan dung của tín ngưỡng, tôn giáo
Việt Nam. Điều đó được biểu hiện:
Trên điện thờ của một số tôn giáo có sự hiện diện của một số vị thần,
thánh, tiên ,phật… của nhiều tôn giáo.
Đối với người Việt Nam, rất khó xác định tiêu chuẩn tôn giáo của họ.
Người ta không chỉ thờ phụng ở đình, chùa, am, miếu, ma còn khấn vái “tứ

đồng gắn bó với nhau là gia đình, làng xóm và quốc gia.
Gia đình là tế bào của xã hội, dù nghèo hay giàu, song nhà nào cũng
có bàn thờ tổ tiên, ông bà, cha mẹ-những người đã khuất.
Làng xóm có cơ cấu, thiết chế rất chặt chẽ. Mỗ làg có phong tục, lối
sống riêng. Trong phạm vi làng xã từ lâu đã hình thành tục thờ cúng thần
địa phương và việc thờ cúng này trở nên phổ biến ở nhiều tộc người.
Những người có công với gia đình, làng xóm, đất nước đều được
người Việt Nam tôn vinh, sùng kính.
-Năm là, tín đồ các tôn giáo Việt Nam hầu hết là nông dân lao động.
Nước ta là nước nông nghiệp, nông dân chiếm tỷ lệ rất lớn, nên tín đồ
hầu hết là nông dân. Nhìn chung, tín đồ các tôn giáo Việt Nam hiểu giáo lý
không sâu sắc nhưng lại chăm chỉ thực hiện những nghi lễ tôn giáo và sinh
hoạt cộng đồng tín ngưõng một cách nhiệt tâm.
-Sáu là, Một số tôn giáo bị các thế lực thù địch phản động trong và
ngoài nước lợi dụng vì mục đích chính trị.
Tôn giáo nào cũng có 2 mặt: nhân thức tư tưởng và chính trị. Chín vì
vậy, tuy mức độ có khác nhau, nhưng giai đoạn lịch sử nào thì các giai cấp
thống trị, bóc lột vẫn chú ý sử dụng tôn giáo vì mục đích ngoài tôn giáo.
12


Các thế lực trong và ngoài nước đang âm mưu sử dụng ngọn cờ
nhân quyền gắn với tôn giáo hong xóm xoá bỏ CNXH ở nước ta. Vì vậy,
một mặt phải đáp ứng đúng như cầu tín ngưỡng chính đáng của nhân
dân, mặt khác phải luôn cảnh giác với âm mưu lợi dụng tôn giáo của các
thế lực thù địch.
-Bảy là, hoạt động tôn giáo trong những năm gần đây có biểu hiện
mang tính chất thị trường.
Những năm qua, nhờ có công cuộc đổi mới mà đời sống vật chất, tinh
thần của nhân dân được nâng cao nhưng cũng kéo theo nhưng hoạt động

trường hợp ông Lương Văn Ty ở Nghệ An, năm 1990 cũng theo giáo phái
Raen lập ra thứ đạo lạ mà ai nhập đạo phải khoả thân nhảy múa điên loạn
cả đêm. Lại có trường hợp do không có công ăn việc làm mà lập đạo để
kiếm tiền như Trần Thị Ngư ở Đồng Nai. Sau mấy năm, bà ta đã chiếm
được 127, 7 lạng vàng và 165 triệu đồng của tín đồ. Bà ta khai với nhà
chức trách: Tôi nhảy tưng tưng, nói huyên thiên chứ có biết bùa phép gì
đâu. Tại Hà Tuyên, tháng 4/1990 Sùng Seo Pao cũng tung tin: Tháng 9 trời
sẽ sập, người Mông phải bỏ tổ tiên, dựng cột cũng vua Vàng Chứ, nộp tiền
và thuốc lá sám hối để được bay lên trời! đã có 1129 hộ ở Bảo Hà, Bảo
Yên, Bảo Thắng nộp 8 triệu/hộ “để bay lên trời”(3). Rồi ở Tây Bắc vừa
qua, người ta cũng loan báo, ngày 21/5/2011, Đức Giêsu sẽ xuống thế lần
cuối để đưa con cái lên trời trước khi huỷ diệt thế giới…
Cùng với việc Nhà nước cho tu sửa nhiều đình chùa, lăng, miếu và hồi
phục các lễ hội tôn giáo truyền thống trong đó có lễ hội đền Hùng được tổ
chức theo quy mô quốc gia thì nhiều nơi cũng phát sinh các hình thức mê
tín dị đoan. Rõ nhất là cảnh xin lộc rơi, lộc vãi ở đền Bà Chúa Kho (Bắc
Ninh). Rồi xin thẻ, bói toán ở ngay trước cửa Phật. Chuyện chen chúc xin
ấn ở hội đền Trần (Nam Định). Tại Hà Nội (cũ), có một thống kê của Viện
Nghiên cứu Tôn giáo năm 2003 nói có chừng 600 thày bói.
Nhiều tôn giáo xuất hiện cũng đồng nghĩa với sự gia tăng số lượng tín
đồ các tôn giáo. Năm 1999, ở ta có 14,7 triệu tín đồ chiếm 19,4% dân số.
Năm 2001, riêng 6 tôn giáo lớn là Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Hoà Hảo,
14


Cao đài đã là 18,3 triệu tín đồ. Một số địa phương có số lượng phát triển
nhanh không bình thường. Tin lành ở Đắc Lắc trong các năm từ 1975-2001
tăng 10 lần, Gia Lai tăng 25 lần, Kon Tum tăng 4 lần. Tại Lai Châu năm
1996 có 26.419 người theo đạo Vàng Chứ, năm 2001 tăng lên 36.102
người. Tín đồ Công giáo ở Tây Nguyên cũng tăng mạnh. Trước năm 1975

qua lịch sử thăng trầm, cũng đã từng ít nhiều bị thế lực bên ngoài chi phối
nhưng có thể khẳng định, đa số đồng bào các tôn giáo ở Việt Nam có tinh
thần yêu nước bởi trước khi là tín đồ các tôn giáo họ đã là người Việt mang
trong mình dòng máu Lạc- Hồng. Gắn bó với cuộc đấu tranh xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc Việt Nam, những yếu tố tiêu cực của tôn giáo bị hạn chế
hay triệt tiêu, những yếu tố tích cực được phát huy, triển nở. Vì vậy có thể
thấy xu hướng gắn bó với dân tộc, đi với dân tộc là xu hướng chung của
các tôn giáo ở Việt Nam. Những đường hướng tốt lành của các tôn giáo
như “Sống Phúc âm giữa lòng dân tộc” của Công giáo, “Đạo pháp- Dân
tộc- Chủ nghĩa xã hội” của Phật giáo, “Nước vinh, đạo sáng” của Cao đài,
“Sống Phúc âm phụng sự Thiên Chúa, phục vụ Tổ quốc và Dân tộc’ của
Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc)…là kết quả nhận thức và hành
động thực tiễn lâu dài của các tôn giáo tại Việt Nam. Hơn nữa, chỉ có gắn
bó với dân tộc, văn hoá Việt Nam, các tôn giáo mới có cơ hội tồn tại và
phát triển.
Vừa qua, nơi này, tôn giáo kia cũng có những vụ việc gây bức xúc cho
khối đại đoàn kết toàn dân nhưng đó chỉ mang tính cá nhân chứ không phải
cả tập thể tôn giáo. Ngay phía Công giáo khi xảy ra vụ Toà Khâm sứ 42
Nhà Chung, chính Toà thánh đã ra văn thư ngày 30/01/2008 gửi TGM Hà
Nội yêu cầu cho giáo dân trở lại cầu nguyện bình thường. Trong cuộc gặp
gỡ với 31 Giám mục Việt Nam ngày 27/6/2009 vừa qua tại Vatican, Giáo
hoàng Benedicto XVI đã cổ vũ đường hướng của Thư chung 1980 là “Sống
Phúc âm giữa lòng dân tộc” (3) và giao trách nhiệm cho các Giám mục
phải huấn luyện, bồi dưỡng để người tín hữu Việt Nam vừa là công dân tốt
vừa là người Công giáo tốt. Đồng thời Giáo hoàng cũng khẳng định mục
16


đích của Giáo hội không phải là “thay đổi các nhà lãnh đạo quốc gia hiện
nay” mà chỉ mong “cộng tác để phục vụ lợi ích toàn dân”.

- Dựng chiêu bài đấu tranh đòi “ tự đo tôn giáo” để phụ họa với các
luận điểm tuyên truyền của các thế lực thù địch nước ngoài chống Nhà
nước. Tạo ra sự nghi ngờ, gây nên sự bất mãn trong chức sắc, quần chúng
tín đồ và tổ chức giáo hội đối với Đảng, Nhà nước cũng như chính quyền
địa phương.
- Đẩy mạnh các hoạt động tôn giáo trái pháp luật lấn lướt chính quyền
để từng bước vô hiệu hóa chức năng quản lý Nhà nước đối với tôn giáo.
Đẩy chính quyền địa phương vào sự đã rồi buộc phải thừa nhận. Khi bị cơ
quan chức năng phát hiện, xử lý thì chúng lại kích động quần chúng tín đồ
ra đối đầu với cán bộ cơ sở.
Núp dưới danh nghĩa vì lợi ích của giáo hội để đáu tranh đòi yêu sách
và kích động quần chúng tín đồ chống đối chính quyền. Qua đó, gây ra các
điểm nóng làm mất an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.
- Tăng cường hoạt động từ thiện, xã hội để phát triển lực lượng, bành
trướng thế lực của giáo hội. Đồng thời, khống chế, nắm giữ quần chúng tín
đồ và tách họ khỏi ảnh hưởng của Đảng, Nhà nước, chính quyền cơ sở.
- Kích động quần chúng tín đồ tiến hành gây rối, tiến hành bạo động
chính trị lật đổ chính quyền, hoặc ủng hộ những nhân vật đối lập trong các
cuộc bầu cử phổ thông đầu phiếu để loại bỏ vai trò lãnh đạo đất nước của
Đảng Cộng sản.
•Thủ đoạn hoạt động
- Lợi dụng niền tin tôn giáo của quần chúng tín đồ để hướng họ vào
các hoạt động chống đối cách mạng. Chúng dương các chiê bài “tự do tôn
giáo”, “vì lợi ích của giáo hội”, “bảo vệ đạo pháp”, “bảo vệ chức sắc” để
lôi kéo quần chúng tín đồ tham gia trực tiếp vào các hoạt động chống đối
cách mạng như biểu tình, gây rối, tham gia bạo động chính trị. Đồng thời,
biến họ thành những tấm lá chắn để bảo vệ chúng trước sự đấu tranh xử lý
của các cơ quan chức năng thực thi pháp luật. Mặt khác, chúng tăng cường
sinh hoạt tôn giáo, củng cố đức tin, nắm quần chúng tín đồ. Tách họ ra khỏi
18

luật và bành trướng phát triển lực lượng. Đồng thời, thu thập cung cấp cho
19


các thế lực thù địch nước ngoài để lấy đó làm bằng chứng nhằm can thiệp
vào công việc nội bộ của Nhà nước.
Tóm lại: Âm mưu và hoạt động lợi dụng tôn giáo để thực hiện chiến
lược DBHB chống cách mạng của các thế lực thù địch là vô cùng thâm
độc. Nó liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Nó lại rất dễ làm
cho quần chúng nhân dân và ngay cả các bộ, đảng viên mất cảnh giác,
không nhận diện được sự chống phá của địch. Nố cũng làm cho việc đấu
tranhh ngăn chặn của chúng ta gặp nhiề khó khăn và rất phức tạp. Nhất là
trong bối cảnh hội nhập để phát triển kinh tế hiện nay thì sự khó khăn và
phức tạp đó lại tăng lên gấp bội.
-Thái độ của Đảng cộng sản trong vẩn đề tôn giáo trong thời đại ngày nay
- Đảng cộng sản Trung Quốc: Trong suốt quá trình lãnh đạo đất nước,
Đảng cộng sản Trung Quốc luôn luôn coi trọng vấn đề tôn giáo, kiên trì
chủ nghĩa Mác-Lênin với thực tiễn xã hội tôn giáo Trung Quốc; trong thực
tiễn vô cùng phong phú và phức tạp ấy, Đảng cộng sản Trung Quốc đã
không những từng bước xử lý tốt vấn đề tôn giáo, mà trên cơ sở tổng kết
những kinh nghiệm lịch sử, còn phát triển, đóng góp vào kho tàng lý luận
tôn giáo của chủ nghĩa Mác-Leenin, đập tan những âm mưu của thế lực đế
quốc, lợi dụng vấn đề tôn giáo hòng can thiệp vào công việc nội bộ của
Trung Quốc.
2.2 Âm mưu và hoạt động lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù
địch nước ngoài
- Âm mưu của các thế lực thù địch ở nước ngoài trong việc lợi dụng
tôn giáo để thực hiện chiến lược DBHB hiện nay thường được tập trung
vào một số hướng cơ bản sau đây:
+ Gắn tôn giáo với vấn đề nhân quyền để tuyên truyền chống phá cách

dám đấu tranh cho “tự do tôn giáo”. Đồng thời, làm cho dư luận thế giới
biết và ủng hộ các phần tử chống đối đó, khiến các Nhà nước đó không thể
đấu tranh xử lý được. Khi bị xử lý thì chúng sẽ gây sức ép quốc tế và dùng
chiêu bài đàm phán về viện trợ, hợp tác kinh tế để đòi thả các chức sắc

21


phản động. Từ đó, tạo điều kiện, khuyến khích các phần tử phản động lợi
dụng tôn giáo tích cực hoạt động chống đối cách mạng.
+ Kích động, chỉ đạo các phần tử phản động lợi dụng tôn giáo ở trong
nước hoạt động gây rối, tạo ra các “điểm nóng” và mất ổn định về an ninh
chính trị, không phát triển được kinh tế, khiến đời sống của nhân dân sa
sút. Làm giảm uy tín của Đảng Cộng sản và suy yếu chính quyền cơ sở,
Khi có thời cơ, chúng chỉ đạo đối tượng phản động lợi dụng tôn giáo ở
trong nước tiến hành bạo động chính trị nhằm lật đổ chính quyền hoặc lật
đổ thể chế chính trị XHCN bằng đấu tranh nghị trường, bầu cử phổ thông
đầu phiếu
- Để thực hiện âm mưu lợi dụng tôn giáo trong chiến lược DBHB các
thế lực thù địch ở nước ngoài không công khai can thiệp trắng trượn như
trước nữa mà chúng đi vào một số cách thức hoạt động sau:
+ Thông qua giáo hội sở tại và các tổ chức phi chính phủ để tác động,
hướng lái những người đứng đầu tôn giáo ở từng quốc gia hoạt động theo ý
đồ của mình. Chúng sử dụng mối quan hệ giữa giáo hội với giáo hội và
hoạt động từ thiện, nhân đạo quốc tế để thực hiện viện trợ cho các tôn giáo.
Qua đó, để lôi kéo hướng những người đứng đầu các tôn giáo đi theo
khuynh hướng TBCN. Đồng thời, tạo ra sự lệ thuộc, chịu sự chi phối và chỉ
đạo của giáo hội tôn giáo trong nước vào các giáo hội nước ngoài.
+ Thông qua lực lượng bí mật đã tạo dựng được trong các tôn giáo
trong nước để xúc tiến những hoạt động lợi dụng tôn giáo chống cách

Đảng và Nhà nước. Thực sự coi trọng giáo dục lý luận chính trị cho đảng
viên, cán bộ chủ chốt các cấp, các ngành, các đoàn thể, các bộ quản lý các
doanh nghiệp, đội ngũ tri thức, thanh niên, sinh viên, lực lượng vũ trang
đảm bảo cho họ luôn kiên định, giữ vững niềm tin vào mục tiê lý tưởng độc
lập dân tộc gắn liền với CNXH, kiên định sự lãnh đạo của Đảng, giáo dục
tinh thần cảnh giác cách mạng, tạo sức đề kháng cao trong cán bộ, đảng
viên và nhân dân, chủ động tấn công đánh bại từng âm mưu, thủ đoạn của
chiến lược DBHB. Phải thực sự đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận để
tiếp tục phát trieernn chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm
cung cấp vũ khí lý luận sắc bén, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền,
giáo dục chính trị cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, đồng thời tấn công,
bác bỏ có hiệu quả các luận điểm sai trái.
Để chiến thắng triệt để trong cuộc đấu tranh này, điều quan trọng nhất
chính là toàn Đảng, toàn dân phải là một khối thống nhất, thực hiện thắng
lợi sự nghiệp đổi mới đất nước. Chỉ có thắng lợi trên thực tiễn của sự
nghiệp đổi mới và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hiện thực hóa
thắng lợi các đặc trưng của CNXH trên đất nước ta mới là sự giáng trả có
hiệu quả nhất trên mặt trận tư tưởng đối với kẻ thù.
Hiệu quả của cuộc đấu tranh này cũng đòi hỏi thực hiện nghiêm các
chế độ, nguyên tắc của Đảng. Trước hết là kỷ luật phát ngôn, không được
24


phát tán các quan điểm sai trái của địch, phát tán các tài liệu có quan điểm
sai trái. Đồng thời các binh chủng của công tác tư tưởng như tuyên truyền,
cổ động, truyền thông đại chúng, văn hóa văn nghệ phải mài sắc cảnh giác,
chủ động kịp thời vạch trần bản chất phản động, phản khoa học, phản bội
dân tộc của các quan điểm sai trái, phản động; phê phán, bác bỏ và đấu
tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn DBHB của các thế lực thù địch.
Đội ngũ các bộ lý luận, cán bộ truyền thông đại chúng, đội ngũ giảng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status