phát huy vai trò của văn hoá văn nghệ trong công tác tư tưởng ở nước ta hiện nay - tiểu luận cao học môn nguyên lý công tác tư tưởng - Pdf 35

A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. Tính cấp thiết của đề tài
Công tác tư tưởng là một bộ phận hữu cơ, giữ vị trí đặc biệt
quan trọng trong toàn bộ lãnh đạo của Đảng đối với toàn xã hội. Để
giữ vững và đảm bảo sự lãnh đạo đó, điều cốt lõi là lãnh đạo về tư
tưởng chính trị, trước hết và quan trọng nhất là tư tưởng chính trị.
Để thực hiện có hiệu quả nhất nhiệm vụ chủ yếu đó, công tác tư
tưởng phải đồng thời huy động và phát huy sức mạnh của các chức
năng cơ bản: lý luận, giáo dục, nhận thức, đổi mới, phát triển nội
dung, các phương thức hình thức tốt nhất, phù hợp nhất đến các đối
tượng tác động của công tác tư tưởng. Thực tiễn đã chỉ ra rằng, hiệu
quả của công tác tư tưởng là hiệu quả tổng hợp, tác động vào con
người đồng thời cả lý trí và tình cảm, nhận thức và cảm xúc, tư duy
và tâm hồn do tính chất đa dạng, phong phú của các mặt các loại
hình, các binh chủng của hoạt động tư tưởng tạo nên. Điều đó có
nghĩa là mỗi loại hình, mỗi binh chủng đó có những đặc trưng và ưu
thế riêng, có phương thức đặc thù tác động đến con người. Đặc điểm
này thể hiện rõ đối với loại hình văn hoá, văn học, nghệ thuật.
Hoạt động văn hoá với rất nhiều laọi hình đa dạng của nó và
hoạt động văn học, nghệ thuật – lĩnh vực đặc biệt nhậy cảm của văn
hoá luôn giữ vị trí đặc biệt và làm phong phú, sinh động cho toàn bộ
hoạt động của công tác tư tưởng.
Bằng cách riêng của mình, với sức mạnh độc đáo thông qua
những đặc trưng khi nhận thức, thể hiện cuộc sống bằng tính cụ thể,
trực quan, hình tượng và khả năng tác động đặc biệt vào tâm hồn,
tình cảm, cảm xúc con người, văn hoá - văn nghệ được khẳng định
là “binh chủng đặc biệt” trong công tác tư tưởng nhằm xây dựng và
củng cố vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng. Đồng thời trực tiếp
nuôi dưỡng, đào tạo con người mới, nhân cách kiểu mới với những



ra một số giải pháp tích cực nhằm khắc phục các mặt yếu kém,
khuyết điểm.
III. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp phân tích, nghiên
cứu tài liệu chủ yếu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa MácLênin, quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về
phát triển văn hoá - văn nghệ.
Kết hợp phương pháp thống kê thu thập thông tin, phương
pháp quan sát thực tế.
IV. Kết cấu đề tài.
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham
khảo, phần nội dung gồm có 2 chương, 7 tiết.
Chương I: Văn hoá - văn nghệ – một phương thức tác động tư
tưởng có hiệu quả.
Chương II: Thực trạng và giải pháp nhằm phát huy vai trò của
văn hoá - văn nghệ trong công tác tư tưởng ở nước ta hiện nay.


B. PHẦN NỘI DUNG
Chương I: Văn hoá - văn nghệ – một phương thức tác động tư
tưởng có hiệu quả.
1.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của văn hoá - văn nghệ.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là kho tàng lý luận toàn diện và sâu sắc
về cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tới
cách mạng xã hội chủ nghĩa. Nó hình thành từ khi bước đầu tham
gia các hoạt động yêu nước và được phát triển, hoàn chỉnh trong qúa
trình Người trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng nước ta.
Đảng Cộng sản Việt Nam, từ Đại hội Đảng toàn quốc lần II
(2/1951) trở lại đây đã liên tục khẳng định vai trò, ý nghĩa, tác dụng
của đường lối chính trị, tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong
cách… Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam. Tại Đại hội VII

đứng ngoài mà phải ở trong kinh tế và chính trị điều này có nghĩa là
văn hoá phải phục vụ nhiệm vụ chính trị, thúc đẩy xây dựng và phát
triển kinh tế, tác động tích cực trở lại kinh tế và chính trị như một
động lực hết sức quan trọng. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Trình độ văn hoá
của nhân dân cao sẽ giúp chúng ta đẩy mạnh công cuộc khôi phục
kinh tế, phát triển dân chủ… cần thiết để xây dựng nước ta thành
một nước hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh ”.
Văn hoá ở trong kinh tế và chính trị nghĩa là văn hoá phải
thấm nhuần chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước phục vụ các
nhiệm vụ cách mạng cụ thể. Người phê phán thứ văn hoá phù phiếm,
xa rời hiện thực cuộc sống: “Văn hoá phải gắn liền với lao động sản
xuất. Văn hoá xa đời sống, xa lao động là văn hoá suông”.
Hơn ai hết, Người thấu hiểu: “Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội
thì phải phát triển kinh tế và văn hoá”. Đồng thời Người cũng chỉ ra
nguyên nhân dẫn đến nguyên nhân kém hiệu quả kinh tế, đó là:
“Trình độ văn hoá của cán bộ và nhân dân ta còn thấp do đó còn hạn
chế nhiều kết quả trong công tác sản xuất”.


Sau khi giành được chính quyền về tay nhân dân, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã nhìn thấy vai trò của văn hoá đối với sự phát triển của
một quốc gia. Trong cuộc trả lời phỏng vấn của phóng viên báo
L’Humanite’ (Pháp), Bác nói: “Có lẽ cần phải để lên hàng đầu
những cố gắng của chúng tôi nhằm phát triển văn hoá”. Điều này rất
đúng với suy nghĩ của Lênin cho rằng sau khi giành được chính
quyền, toàn bộ các hoạt động của Đảng phải đặt trọng tâm “chuyển
dần sang công tác tổ chức văn hoá”.
Trên lĩnh vực chính trị, Người nói: “Văn hoá có liên lạc với
chính trị rất mật thiết. Phải làm thế nào cho văn hoá vào sâu trong
tâm lý quốc dân, nghĩa là phải sửa đổi được tham nhũng, lười biếng,

văn khai mạc Hội Nghị văn hoá toàn quốc lần thứ I (4/1046), Người
có một câu nói bất hủ: “Văn hoá nghệ thuật cũng là một mặt trận,
anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”. Quan niệm này đã đặt
những người hoạt động văn hoá - văn nghệ lên tầm cao mới trong sự
nghiệp cách mạng, đồng thời cho thấy tính chất khó khăn, phức tạp
của công tác tuyên truyền, xây dựng con người thực hiện sự nghiệp
cách mạng ở nước ta. Hồ Chí Minh đòi hỏi văn hoá nghệ thuật vừa
phải khẳng định bản chất nghệ thuật, chức năng thẩm mỹ vươn tới
cái đẹp: “Thơ xưa, yêu cảnh thiên nhiên đẹp. Mây gió, trăng, hoa,
tuyết, núi, sông”. Đồng thời phải: “Nay ở trong thơ nên có thép. Nhà
thơ cũng phải biết xung phong ”.
Người cho rằng: “Xây dựng chủ nghĩa xã hội là một cuộc đấu
tranh cách mạng phức tạp, gian khổ và lâu dài”. Do vậy, với trách
nhiệm của công dân và trách nhiệm chính trị của người chiến sĩ văn
hoá, văn nghệ sĩ không thể bàng quang, thờ ơ trước thời cuộc. Bác
đòi hỏi: “Để làm tròn nhiệm vụ cao quý của mình, văn nghệ sĩ cần
phải rèn luyện đạo đức cách mạng, nâng cao tinh thần phục vụ nhân
dân, giữ gìn thái độ khiêm tốn, phải thực sự hoà mình với quần


chúng cố gắng học tập chính trị, trau dồi nghề nghiệp, phải hết lòng
giúp đỡ thanh niên”.
Học tập tư tưởng trên của Người, chúng ta càng không thể sao
nhãng nhiệm vụ xây dựng con người xã hội chủ nghĩa, có lý tưởng
chính trị độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, không ngừng học
tập vươn lên tiến kịp tư duy thời đại, làm chủ công nghệ tiên tiến,
góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, xây dựng và phát triển văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc.
1.2.1. Văn hoá - văn nghệ trong đời sống xã hội.

quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với tiến bộ và công
bằng xã hội thì không thể có sự phát triển kinh tế – xã hội bền vững.
Với vai trò là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội,
văn hoá có khả năng to lớn khơi dậy, nhân lên mọi tiềm năng, sức
sáng tạo của con người, tạo ra nguồn nội lực nội sinh quyết định sự
phát triển của đời sống xã hội. Trong sự nghiệp liên hệ chặt chẽ và
chi phối lẫn nhau giưa các hoạt động đa dạng của đời sống xã hội,
chúng ta cần hiểu rằng văn hoá vừa là một thành tố gắn bó khăng
khít, vừa là thước đo trình độ phát triển của các lĩnh vực khác và của
toàn xã hội. Do đó, với tư cách là mục tiêu của sự phát triển văn hoá
thể hiện trình độ phát triển ngày càng cao của con người và xã hội.
Từ vị trí của văn hoá là mục tiêu của sự phát triển, chúng ta
cần phải nắm chắc mối quan hệ giữa văn hoá- kinh tế, kinh tế – văn
hoá, trong đó đặc biệt chú ý luận điểm quan trọng trong Nghị quyết
Trung ương 5 khoá VIII: “Xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm
mục tiêu văn hoá, vì xã hội công bằng, văn minh, con người phát
triển toàn diện”. F.Mayor – Nguyên Tổng giám đốc Unesco đã nhấn
mạnh: “Hễ nước nào tự đặt cho mình mục tiêu phát triển kinh tế mà
tách rời môi trường văn hoá thì nhất định sẽ sảy ra những mất cân


đối nghiêm trọng trong cả nền kinh tế lẫn văn hoá và tiềm năng sáng
tạo của nước ấy sẽ bị suy yếu rất nhiều”.
Văn hoá giữ vai trò cực kỳ quan trọng và trực tiếp trong
nhiệm vụ xây dựng con người
Mục tiêu cao nhất của sự sản xuất tinh thần, lĩnh vực đặcthù
của văn hoá là xây dựng nền hệ thống các giá trị làm chuẩn mực cho
con người vươn tới, noi theo. Khi các chuẩn mực, các giá trị đó
được tiếp nhận, được thấm sâu vào từng con người và từng cộng
đồng thì đó chính là quá trình hình thành và phát triển các phẩm chất

trọng. Quan điểm này khẳng định lại yêu cầu nâng cao tính chiến
đấu của văn hoá, kết hợp nhuần nhuyễn giữa xây dựng và chống lấy
xây làm chính.
Trong quan điểm này về xây dựng và phát triển văn hoá, Đảng
ta nhấn mạnh nhiệm vụ xây dựng con người xã hội chủ nghĩa. Đây là
nhiệm vụ trực tiếp và cực kỳ quan trọng xây dựng con người cũng
có nghĩa là là xác nhận vai trò to lớn và vị trí đặc biệt của văn hoá
trong công tác tư tưởng và hoạt động tư tưởng. Bởi vì, xét về bản
chất, công tác tư tưởng là toàn bộ hoạt động trên lĩnh vực ý thức của
con người, nhằm mụctiêu chủ yếu là biến tư tưởng tiến bộ, cách
mạng đến lực lượng vật chất để cải tạo xã hội, xây dựng chế độ
mới, làm cho hệ tư tưởng của Đảng, của giai cấp cách mạng trở
thành hệ tư tưởng chiếm vị trí chủ đạo trong đời sống xã hội. Như
vậy, có nghĩa là hoạt động văn hoá - văn nghệ và công tác tư tưởng
có mối quan hệ mật thiết, chặt chẽ vì đều là các lĩnh vực trong phạm
trù ý thức đến tinh thần và đều là các công việc trực tiếp đối với con
người. Trong quan hệ đặc thù này, văn hoá - văn nghệ trở thành một
sức mạnh, một phương thức độc đáo, có hiệu quả của công tác tư
tưởng.


Chúng ta cần phái hiểu rằng, quan điểm trên không phải là sự
áp đặt hay bóp méo văn hoá- văn nghệ, biến nó thành “cái loa” của
công tác tư tưởng. Tuy nhiên, sự tác động tư tưởng của văn hoá văn nghệ chỉ được thựchiện một cách sinh động và thuyết phục khi
nó thông qua các chức năng và các đặc trưng của văn hoá. Vì vậy,
yêu cầu không ngừng nêu cao và khẳng định nội dung tư tưởng của
văn hoá, của các sản phẩm và hoạt động văn hoá - văn nghệ chỉ là
định hướng chính trị cơ bản trong công tác văn hoá - văn nghệ trước
cuộc đấu tranh tư tưởng - văn hóa đang diễn ra ngày càng gay gắt
và phức tạp hiện nay, mà còn là một nhu cầu của chính văn hoá để

tưởng – văn hoá của chủ nghĩa đế quốc, văn hoá - văn nghệ trong
công tác tư tưởng như một người chiến sĩ cách mạng kiên trung, bất
khuất, dũngcảm, gan dạ; mang trong mình sức mạnh văn hoá truyền
thống của dân tộc anh hùng từng bước đè bẹp, đập tan mọi mưu mô,
thủ đoạn của kẻ thù hòng làm phai nhạt tư tưởng cách mạng trong
nhân dân ta. Văn hoá - văn nghệ trong công tác tư tưởng đã khơi dậy
niềm tin trong quần chúng, là động lực thúc đẩy sự cám dỗ, mua
chuộc, xuyên tạc, nói xấu… từ các lực lượng phản cách mạng. Tuy
cuộc đấu tranh này còn gam go, ác liệt và lâu dài, nhưng chắc chắn
phần tháng sẽ nghiêng về nhân dân ta, những con người luôn khát
khao hoà bình, hạnh phúc, độc lập và tự do.
Bên cạnh đó, văn hoá - văn nghệ trong công tác tư tưởng cũng
góp phần đưa nền văn hoá nước ta hoà nhập vào nềnvhnói chung của
thế giới mang bản sắc văn hoá dân tộc đến với thế giới trong sự
ngưỡng mộ của bè bạn 5 châu. Đồng thời tăng cường tình đoàn kết
lâu đời về văn hoá, chính trị giữa dân tộc ta với các nước chủ nghĩa
xã hội anh em trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc.
Chương II. Thực trạng vai trò văn hoá - dân tộc trong công tác
tư tưởng ở nước ta hiện nay.


2.1. Những thành tựu cơ bản.
2.1.1. Vai trò văn hoá - văn nghệ trong công tác tư tưởng thời
kỳ chống Mỹ.
Bằng trí tuệ và tầm nhiều chiến lược của một nhà lãnh tụ kiệt
xuất, từ khi bắt đầu hoạt động cáchmạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh
luôn đề cao vai trò của văn hoá - văn nghệ trong công tác tư tưởng.
Đến khi Người trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng nước ta trong
hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc. Vai trò của văn hoá văn nghệ trong công tác tư tưởng đã được nâng lên một tầm cao mới.
Người coi văn hoá - văn nghệ là “mặt trận ” và cán bộ văn hoá - văn

– văn nghệ lúc này đặt lên hàng đầu vấn đề phải tiếp nhận tư tưởng
trong toàn Đảng, về chủ trương, đường lối cá mực của Đảng trong
thời kỳ mới. Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị số 83
CT/TW (1954) trong đó chỉ rõ: “Trong 10 công tác thì công tác tư
tưởng là quan trọng nhất”. Nghĩa là hoạt động văn hoá - văn nghệ
phục vụ cho công tác tư tưởng cũng được coi là quan trọng nhất.
Văn hoá - văn nghệ làcông cụ, là phương tiện để công tác tư
tưởng thực hiện các mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ của mình đối với
cách mạng Việt Nam. Vì thế khi Đảng ta xác định nhiệm vụ cho
công tác tư tưởng cũng tức là đặt ra nhiệmvụ cho công tác tư tưởng
văn hoá - văn nghệ. Đại hội Đảng lần thứ III (9/1960) liên tiếp
khẳng định vị trí to lớn của cách mạng về tư tưởng là: “Làm cho tư
tưởng của toàn dân, trên công tác tư tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin
chiếm ưu thế tuyệt đối trong đời sống tinh thần của nước ta và trở
thnàh hệ tư tưởng của toàn nhân dân”. ở đây, công tác văn hoá - văn
nghệ với tất cả các chức năng và nội dung của mình cũng phải: “làm
cho ….nước ta”, đồng thời phải đưa nó “trởt thành… mới của nhân
dân”. Sau Đại hội IV của Đảng, công tác văn hoá - văn nghệ trong
công tác tư tưởng đã góp phần hết sức quan trọng trong việc củng cố
và thúc đẩy ý chí quyết tâm thực hiện bằng được hai nhiệm vụ chiến


lược là tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, giải
phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và và tay sai,
thựchiện thống nhất nước nhà, hiàn thành độc lập và dân chủ trong
cả nước.
Hailà. Hoạt động văn hoá - văn nghệ đã góp phần to lớn cổ vũ,
động viên tinh thần của nhân dân quyết tâm vượt qua mọi khó khăn,
gian khổ, hy sinh đóng góp có hiệu quả vào thắng lợi của cuộc
kháng cgiến chống Mỹ cứu nước.

máu.
Một bộ phận lớn đội ngũ cán bộ văn hoá- văn nghệ cũng theo
chân các đoàn quân hùng dũng bước ra các mặt trận mà cuộc chiến
đấu giữa ta và địch đang diễn ra vô cùng ác liệt. Họ ra đi quên mình
với trái tim và khối óc vì Tổ quốc, vì Đảng, vì Bác Hồ kính yêu thà
hy sinh, gian khổ. Họ không bận tâm rằng rồi mai đây mình có còn
hay mất. Những tấm gương tiêu biểu nhất, sáng ngời nhất cho đội
ngũ này, đó là Nghệ sỹ nhân dân Thanh Hoa, Nghệ sỹ nhân dân Thu
Hiền, Nghệ sỹ ưu tú Quốc Hương, Kiều Hưng, Quang Thọ, Trung
Kiên… Tuy nhiên cũng có nhiều người đã phải nằm lại ngoài mặt
trận vì nhiệm vụ mà không được thấy ngày đất nước toàn thắng, non
sông thu về một mối như Lê Anh Xuân, Lâm Thị Mỹ Dạ… còn ở
hậu phương, khi đế quốc Mỹ dùng không quân vầhỉ quân đánh phá
miền Bắc, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chủ tịch đã
phát động các phong trào “3 đảm đang”, “gạo không thiếu một cân,
quân không thiếu một người”, “tất cả vì tiền tuyến”… Một loạt các
bộ phim hay như “Chung một dòng sông”, “Vĩ tuyến 17 ngày và
đêm”, “Cánh đồng hoang”…được nhân dân ta tôn trọng đón nhận vì
nói thay được tình cảm và ý chí của cả dân tộc trong cuộc chiến
tranh chính nghĩa. Bên cạnh đó, một loạt các thực phẩm âm nhạc
cũng ra đời như “Bài ca 5 tấn”, “Quảng bình quê ta ơi”…Đây là
những bài ca đi cùng năm tháng cổ vũ chủ nghĩa anh hùng cách


mạng của nhân dân ta vượt lên mọi gian nan thách thức hướng tới
ngày toàn thắng.
Cùng với những thực phẩm văn hoá, nghệthuật nổi tiếng, nhiều
bài bình luận trên các báo nhân dân, Quân đội nhân dân có giá trị tư
tưởng, chính trị được phát sóng trên Đài Tiếng nói Việt Nam, đã
vạch rõ bản chất tàn bạo của kẻ thù, ca ngợi phẩm chất kiên cường,

đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Trong những thành công
này có một phần đóng góp không nhỏ của các hoạt động văn hóa –
văn nghệ.
Thứ nhất, công tác văn hóa- văn nghệ đưa dân tộc có hiệu quả
chống các tệ tham nhũng, quan liêu của cán bộ đảng viên, xây dựng
Đảng ngày càng trong sạch,vững mạnh trèo lái con đường cách
mạng Việt Nam đi tới…
Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác xây dựng
Đảng, Đại hội IX của Đảng (tháng 4/2001) đã nhấn mạnh: “Tiếp tục
đẩy mạnh học tập tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc xây dựng và
chỉnh đốn đảng, tăng cường hoạt động phê và tự phê trong đội ngũ
cán bộ đảng viên, làm cho đảng ngày càng trong sạch vững mạnh”.
Để tư tưởng đó đi sâu vào từng đảng viên, cán bộ, Đảng ta luôn đề
cao vai trò của hoạt động văn hóa- văn nghệ coi đó là một công cụ
quan trọng hàng đầu và hiệu quả nhất. Hàng loạt các tác phẩm từ
báo chí, thơ ca, phim ảnh, ca khúc đến các bộ luật, phanô áp phích
tranh ảnh cổ động… có nội dung sâu sắc nhằm đấu tranh chống các
quan điểm sai trái trong một bộ phận đảng viên, cán bộ được ra đời
với nhiều nội dung phong phú, hấp dẫn, thậm chí là hài hước. Trong
các tác phẩm báo chí, có rất nhiều bài báo nói về tư tưởng Hồ Chí
Minh trong công tác xây dựng Đảng cùng với sự xuất hiện của hàng
loạt các nhà báo có năng lực và lý luận cách mạng vững vàng như
Nguyễn Hữu Thọ, Hữu Ước… mục đích là biến tư tưởng Hồ Chí
Minh trở thành ánh sáng soi đường cho hoạt động của cán bộ, đảng


viên trong cả nước. Bên cạnh đó cũng có rất nhiều bài báo, bài bình
luận về thái độ chưa nghiêm túc, chưa có ý thức tự giác, phê và tự
phê trong đội ngũ những người công tác Đảng và chính quyền Nhà
nước. Có nhiều bài vạch trần bộ mặt tham nhũng, quan liêu, bòn rút

tranh chống các tệ nạn xã hội, góp phần quan trọng vào việc hoàn
thành các mục tiêu kinh tế – xã hội trong sự nghiệp đổi mới.
2.2. Những hạn chế cần khắc phục.
Bên cạnh những thành tựu to lớn mà hoạt động văn hoá - văn
nghệ đã đạt được từ tước tới nay góp phần quan trọng vào việc thúc
đẩy các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, văn hoá - văn nghệ còn
nhiều hạnchế cần khắc phục,
1. Trong những năm qua, nền kinh tế nước ta có những bước
phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, sự phát triển của văn hoá lại chưa
đồng bộ với kinh tế.
Hội nghị Trung ương 10 khoá IX về tiếp tục thực hiện
Nghịquyết Trung ương 5 khoá VIII đã kết luận: “Sự phát triển của
văn hoá chưa tương xứng với tăng trưởng kinh tế…Môi trường văn
hoá còn bị ô nhiễm bởi các tệ nạn xã hội, sự lan tràn của các sản
phẩm và dịch vụ văn hoá mê tín, dị đoan, độc hại, thấp kém, lai
căng…”
Việc thực hiện chiến lược phát triển kinh tế 10 năm, từ 19912000 đạt được nhiều thành tựu làm phát triển hẳn diện mạo đất
nước: tốc độ GDP bình quân 10 năm là 7,5%, trong đó nông lâm ngư
nghiệp tăng 4,2%, công nghiệp và xây dựng tăng 11,7%, các ngành
dịch vụ tăng 7,2%. Tổng sản phẩm trong nước từ 1990 đến 2000 của
kế hoạch 10 năm (2001-2010) nền kinh tế nước ta tiếp tịc duy trì sự
ổn định và phát triển. Ngược lại, văn hoá lại chậm phát triển do
nhiều nguyên nhân khác nhau: sự quan tâm đầu tư của Nhà nước còn
ít, trình độ thấp, nội dung hoạt động văn hoá -văn nghệ chưa hay,
hình thức kém phong phú, đa dạng…


2. Văn hoá - văn nghệ trong cuộc đấu tranh chống các hoạt
động phá hoại của kẻ thù trên mặt trận tư tưởng chưa đạt hiệuquả
cao.

thốn rất nhiều các loại sách báo, dụng cụ, phương tiện học tập, thiếu
đài báo, ti vi để xem…
5. Tình trạng văn hoá - văn nghệ hiện nay không có nhiều tác
dụng cổ vũ, kêu gọi tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc.
Phần lớn các bài viết các thực phẩm văn hoá, thơ ca, hội hoạ,
sách báo… hiện nay đều nhằm mục đíc thị hiếu là chính, nhất là sức
tác động tới tư tưởng của người nghe làm trỗi dậy niềm tự hào dân
tộc. Hoạt động văn hoá- văn nghệ chỉ mang tính thị trường do sự
hám danh lợi và tiền bạc của các tác giả và của những người sử dụng
văn hoá - văn nghệ làm phương tiện để ca hát, sinh hoạt.
6. Hoạt động văn hoá- văn nghệ hiệnnay đang đứng trước tình
trạng các nhà văn hoá trong nước ăn cắp bản quyền của nước ngoài,
sao chép lại nội dung, kết cấu, cốt lõi thậmchí là y nguyên của các
tác giả nước ngoài mà chúng ta vẫn quen gọi đó là “đạo văn”.
7. Công tác quản lý và điều hành văn hoá - văn nghệ còn yếu
kém. Các hoạt động văn hoá - văn nghệ chưa đi sâu đi sát với các
yêu cầu của đời sống xã hội, chưa có sự điều chỉnh kịp thời để phù
hợp với từng giai đoạn phát triển của kinh tế, chính trị… văn hoá văn nghệ chưa phục vụ hết mình vì sự nghiệp đổi mới của đất nước.
Nhìn chung, các mặt hạn chế của hoạt động văn hoá- văn nghệ
đã có những ảnh hưởng tương đối lớn đến quá trình xây dựng và
phát triển kinh tế – xã hội đất nước. Nó cản trở việc thực hiện và
hoàn thành các nhiệm vụ, mục tiêu của kinh tế chính trị. Vì vậy,
chúng ta cần phải có những biện pháp khắc phục đúng đắn, kịp thời
nhằm phát huy tối đa sức mạnh của văn hoá.
2.3. Bài học kinh nghiệm


Qua quá trình nghiên cứu và phân tích các thành tựu cũng như
những khuết điểm của công tác văn hoá - văn nghệ ở nước ta những
năm qua đã rút ra một số bài học kinh nghiệm lớn sau:

chủ đề của hoạt động tư tưởng. Ví dụ như tác phẩm văn hoá, truyền
ngắn: “Những bức tường lửa” của nhà văn Khuất Quang Thuỵ ca
ngợi cuộc kháng chiến gian khổ của dân tọc chống đế quốc Mỹ. Tác
phẩm này sẽ có tác dụng khơi dậy, cổ vũ tinh thần yêu nước và lòng
tự hào dân tộc rất cao của nhân dân ta.
Giải pháp thứ tư, sử dụng văn hoá - văn nghệ là một nhân tố
bổt trợ cho hoạt động tư tưởng như tổ chức tham quan di tích lịch
sử, văn hoá tìm hiểu bảo tàng, truyền thống, thăm và chăm sóc nghãi
trang liệt sĩ…Các hoạt động này sẽ giúp chúng ta hiểu biết sâu sắc
hơn về văn hoá dân tộc.
Giải pháp thứ năm, sử dụng các chương trình biểu diễn
nghệthuật có mục tiêu, theo một chủ dề phcụvụ cho hoạt động tư
tưởng. Tiêu biểu như các buổi biểu diễn văn hoá - văn nghệ chào
mừng ngày giải phóng Điện Biên Phủ…
Giải phong tràoáp thứ sáu, tổ chức các hoạt động văn hoá của
quần chúng, kết hợp chặt chẽ giữa văn nghệ và tuyên truyền, xây
dựng các chương trình gắn chặt với mục đích và nội dung tuyên
truyền, thông qua ưu thế và cách biểu hiện của văn học, nghệ thuật
để chuyển tải sinh động, nhẹ nhàng đến quần chúng. Các đội tuyên
truyền viên trẻ… ở các địa phương, các ngành đang phát huy hiệu
quả phương thức này.
Giải pháp thứ bảy, xây dựng chương trình tổng hợp, tạo những
sân chơi từng nhóm quần chúng trong đó biết kết hợp sinh động các
loại hình văn hoá, văn học, nghệ thuật phù hợp với sở thích, tâm lý
từng đố tượng, đưa họ trở thành người làm chủ, người trong cuộc,
trực tiếp tham gia sân chơi không còn là người tiếp nhận thụ động,



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status