Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh ở nước ta hiện nay - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT HOÀNG THỊ ÚT QUYÊN

VĂN HÓA PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Hoàng Thị Kim Quế HÀ NỘI - 2010 MỤC LỤC
Trang

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU
1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA PHÁP LUẬT VÀ VĂN
HÓA PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

1.1.5.2.
Hệ thống pháp luật
23
1.1.5.3.
Hành vi thực hiện pháp luật và áp dụng pháp luật của các
chủ thể
25
1.2.
Nhận diện văn hóa pháp luật trong kinh doanh
29
1.2.1.
Khái niệm và các yếu tố cấu thành
29
1.2.1.1.
Khái niệm kinh doanh và các ngành nghề kinh doanh chủ yếu
29
1.2.1.2.
Quan niệm văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh
32
1.2.1.3.
Các yếu tố cấu thành văn hóa pháp luật trong kinh doanh
35
1.2.2.
Đặc trưng của văn hóa pháp luật trong kinh doanh
39
1.2.3.
Mối quan hệ giữa văn hóa pháp luật và hoạt động kinh doanh
47
1.2.4.
Vai trò của văn hóa pháp luật trong kinh doanh

2.1.3.
Thực trạng hành vi thực hiện pháp luật và áp dụng pháp luật
trong lĩnh vực kinh doanh ở nước ta hiện nay và nguyên
nhân dẫn tới thực trạng đó
79
2.1.3.1.
Thực trạng
79
2.1.3.2.
Nguyên nhân của thực trạng trên
87
2.2.
Phương hướng và một số biện pháp chủ yếu để xây dựng văn
hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh ở nước ta hiện nay
89
2.2.1.
Phương hướng xây dựng văn hóa pháp luật trong lĩnh vực
kinh doanh ở nước ta hiện nay
89
2.2.2.
Một số giải pháp nâng cao trình độ văn hóa pháp luật trong
lĩnh vực kinh doanh ở nước ta hiện nay
91
2.2.2.1.
Nâng cao ý thức pháp luật cho các chủ thể kinh doanh
92
2.2.2.2.
Đẩy nhanh tiến độ xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp
luật trong lĩnh vực kinh doanh
97

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, công cuộc cải cách bộ máy nhà nước, xây dựng nhà nước
pháp quyền ở nước ta đang rất được đẩy mạnh. Bắt đầu từ năm 1986 đến nay,
trải qua hơn 20 năm, công cuộc cải cách bộ máy nhà nước đã diễn ra qua
nhiều giai đoạn và đạt được những thành tựu nhất định. Cùng với sự phát
triển nhanh về mặt kinh tế, chính trị ổn định, còn có thể nhận thấy những
thành tựu trong các lĩnh vực văn hóa - xã hội, một nền văn hóa tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc. Vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền cũng được tăng
cường cả về lượng và chất, cả hình thức và nội dung, đồng bộ trên mọi lĩnh
vực. Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, Hiến pháp năm 1992 đã
được sửa đổi, bổ sung năm 2001 ghi nhận quan điểm xây dựng nhà nước pháp
quyền, Điều 2 nêu rõ: "Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân".
Việc ghi nhận đó là cơ sở pháp lý xác định mục tiêu xây dựng nhà nước pháp
quyền ở Việt Nam. Nhưng xây dựng nhà nước pháp quyền là một quá trình
lâu dài, phức tạp, các quốc gia xây dựng nhà nước pháp quyền với những xuất
phát điểm khác nhau về đời sống kinh tế - xã hội và văn hóa và bằng những
con đường, bước đi khác nhau, không có một mô hình chung cho mọi dân tộc.
Tuy nhiên, từ kinh nghiệm thực tế đã chứng tỏ rằng, công cuộc cải
cách bộ máy nhà nước, dân chủ hóa mọi mặt đời sống xã hội, xây dựng nhà
nước pháp quyền phải đi đôi với quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng
cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và nâng cao trình độ văn hóa pháp luật cho
người dân. Cả ba nhân tố đó phải được tăng cường đồng bộ, phát triển hài hòa
thì công cuộc cải cách bộ máy nhà nước mới hiệu quả, dân chủ hóa đi vào
cuộc sống một cách lành mạnh, nhà nước pháp quyền mới từng bước được
xây dựng và phát triển, hoàn thiện.

2

3
Tuy nhiên chúng ta cũng phải nhìn nhận rằng, trong bối cảnh xã hội
luôn phát triển không ngừng, đặc biệt trong thời gian gần đây khi sự hội nhập
kinh tế quốc tế diễn ra mạnh mẽ, tốc độ phát triển của công nghệ thông tin
bùng nổ đã có những ảnh hưởng khác nhau đến đời sống của nhân dân Việt
Nam (tác động tiêu cực hoặc tích cực). Theo đánh giá của các nhà làm công
tác xây dựng luật, bảo vệ pháp luật cho thấy bên cạnh tác động tích cực là
thúc đẩy xã hội phát triển về nhiều mặt kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị thì
còn có những tác động tiêu cực: niềm tin vào hệ thống pháp luật quốc gia
ngày càng suy giảm, cùng với nó là những hành vi vi phạm qui định đã được
pháp luật cấm hay cố tình không thực hiện các nghĩa vụ kinh doanh theo qui
định. Nền kinh tế hội nhập cũng làm cho tình trạng tội phạm kinh tế xuyên
quốc gia tăng mạnh, nhờ vào sự thông thoáng trong hành lang pháp lý của các
quốc gia, tối đa hóa việc mở cửa, tạo điều kiện các các nhà đầu tư nước ngoài
vào đầu tư trong nước. Chính động thái này vô tình đã giúp cho các tội phạm
kinh tế hoạt động dễ dàng hơn.
Nâng cao vấn đề văn hóa pháp luật trong kinh doanh cho các chủ thể
nhằm hình thành nếp sống và làm việc tôn trọng pháp luật, tuân thủ các qui
định của pháp luật là một tất yếu khách quan đặc biệt là trong điều kiện xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay.
Trong phạm vi luận văn này, tác giả tập trung đi sâu vào phân tích,
đánh giá thực trạng văn hóa pháp luật trong kinh doanh của các chủ thể kinh
doanh (trên một số phương diện cụ thể) và những kết quả mà công cuộc xây
dựng và nâng cao văn hóa pháp luật đã đạt được trong thời gian qua. Từ đó
xem xét đến những tác động (tích cực, tiêu cực) của kết quả đó đối với vấn đề
nâng cao ý thức pháp luật cho nhân dân, hình thành nếp sống sống và làm
việc theo Hiến pháp, pháp luật. Bên cạnh đó nêu ra một số kiến nghị cụ thể về
việc xây dựng, văn hóa pháp luật; các giải pháp xây dựng, hoàn thiện công tác
này nhằm góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của các chủ thể kinh
doanh trong giai đoạn hiện nay.


5
trong lĩnh vực kinh doanh ở nước ta hiện nay và hoạt động nâng cao ý thức
pháp luật, văn hóa pháp luật trong kinh doanh cho các chủ thể kinh doanh,
những kết quả đạt được và những tồn tại. Đồng thời đưa ra một số kiến nghị
nhằm nâng cao, hoàn thiện hoạt động nâng cao trình độ văn hóa pháp luật
trong kinh doanh cho người dân nước ta trong tình hình mới hiện nay.
3. Mục đích nghiên cứu của luận văn
Qua nghiên cứu và thực hiện đề tài này, người viết muốn đi sâu tìm
hiểu về cơ sở lý luận của vấn đề văn hóa pháp luật và văn hóa pháp luật trong
lĩnh vực kinh doanh ở Việt Nam hiện nay. Thông qua việc phân tích khái
niệm và các yếu tố cấu thành của văn hóa pháp luật, luận văn nhằm nêu bật
vai trò và sự tác động của văn hóa pháp luật đối với các lĩnh vực của đời sống
xã hội, trong đó có lĩnh vực kinh doanh. Với những giá trị mà văn hóa pháp
luật mang lại cho nền kinh tế quốc gia, đặc biệt là hoạt động kinh doanh lành
mạnh, công bằng, phát triển, đồng thời tình hình và môi trường kinh doanh
cũng phản ánh nhu cầu của thực tiễn đời sống đối với sự điều chỉnh pháp lý
cũng như sự phù hợp, tính khả thi của những qui phạm pháp luật đã được ban
hành cũng được đề cập và nghiên cứu cụ thể trong luận văn.
Chương 2 luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng văn hóa pháp luật
trong lĩnh vực kinh doanh ở Việt Nam hiện nay thông qua việc nghiên cứu
những thành tựu và hạn chế hiện hữu của từng yếu tố cấu thành văn hóa pháp
luật kinh doanh. Cũng bằng một số những vụ án cụ thể, kết hợp với việc tổng
hợp tình hình thực hiện qui phạm pháp luật kinh doanh để nêu bật ý thức,
trình độ pháp lý của các chủ thể kinh doanh hiện nay. Qua đó, người viết
mong muốn đóng góp một số ý kiến về việc hoàn thiện, nâng cao hiệu quả
văn hóa pháp luật trong kinh doanh ở Việt Nam hiện nay thông qua việc đưa
ra một số kiến nghị về các giải pháp, cách thức triển khai thực hiện trên thực
tế đối với công tác nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, văn hóa pháp luật
trong kinh doanh cho các chủ thể kinh doanh.

cũng là quá trình loài người tiến hóa, đi lên, nắm bắt các qui luật tự nhiên và
làm chủ thế giới. Có thể nói, sự phát triển của văn hóa chính là quá trình con
người tự hoàn thiện mình, hoàn thiện xã hội, xây dựng một xã hội tiến bộ hơn,
dân chủ hơn. Văn hóa đích thực là ánh sáng dẫn dắt đời sống nhân loại đi tới
những giá trị cao cả để đạt được sự toàn thiện, toàn mỹ. Bởi vậy, làm lành
mạnh môi trường văn hóa, tạo điều kiện cho văn hóa phát triển cũng có ý
nghĩa tích cực đối với sự phát triển tiến bộ xã hội và hoàn thiện nhân cách
mỗi cá nhân.
Văn hóa là khái niệm có nội hàm rộng lớn, có thể tiếp cận dưới nhiều
góc độ khác nhau. Có nhiều định nghĩa về văn hóa đã được các học giả đề cập
và phân tích trong các công trình nghiên cứu của mình. Chủ tịch Hồ Chí
Minh, từ năm 1942, đã đưa ra một định nghĩa về văn hóa:
Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người
mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật,

8
khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt
hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những
sáng tạo và phát minh đó là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi
phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã
sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự
tinh tồn [15].
Cách định nghĩa văn hóa này là khá toàn diện, thể hiện được sự nguồn
gốc, chức năng của văn hóa, đồng thời cũng phản ánh tính kế thừa từ thế hệ
này sang thế hệ khác, thời kỳ lịch sử này sang thời kỳ lịch sử khác của văn hóa.
Theo định nghĩa của UNESCO thì:
Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống
động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và các cộng đồng)
đã diễn ra trong quá khứ, cũng như đang diễn ra trong hiện tại,
qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị,

đảm bảo cuộc sống hạnh phúc cho con người. Đồng thời, nó cũng thể hiện
như là kết quả hoạt động sáng tạo của con người trong việc xây dựng và thực
thi pháp luật hướng tới chân, thiện, mĩ.
Pháp luật là một trong những yếu tố của văn hóa và văn hóa pháp luật
là văn hóa chuyên ngành. Vì vậy để xây dựng được nền văn hóa Việt Nam
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc thì tất yếu phải chú trọng phát triển văn hóa
pháp luật. Điều này không chỉ là xu hướng của riêng nước ta mà còn là
phương hướng phát triển chung của các nước trên thế giới. Bên cạnh việc phát
triển văn hóa giao tiếp, văn hóa du lịch, văn hóa chính trị… thì các quốc gia
đều rất chú trọng đến việc phát triển văn hóa pháp luật. Đây được coi là thước
đo quan trọng của tiến trình xây dựng xã hội dân chủ, nhà nước pháp quyền
trong sạch, vững mạnh.
Văn hóa pháp luật không phải là một thuật ngữ được dùng phổ biến
trong luật học như: chế tài, khế ước, nghĩa vụ, lỗi, hành vi mà là một thuật

10
ngữ gắn liền với xã hội học pháp luật, lý luận nhà nước và pháp luật hay nó
còn liên quan đến các vấn đề tranh cãi hiện nay như triết học pháp quyền, sự
du nhập pháp luật trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Hiện nay, trong giới khoa học pháp lý vẫn chưa có định nghĩa rõ ràng
về văn hóa pháp luật. Ở mỗi một cách nhìn, mỗi người lại có một quan niệm
riêng về định nghĩa văn hóa pháp luật. GS.TS Lê Minh Tâm cho rằng:
Văn hóa pháp luật là tổng thể những giá trị vật chất và tinh
thần mà con người sáng tạo ra trong lĩnh vực pháp luật bao gồm hệ
thống qui phạm pháp luật được ban hành trong các thời kỳ lịch sử,
những tư tưởng, quan điểm, luận điểm, nguyên lí, nguyên tắc, những
tác phẩm văn hóa pháp luật, những kinh nghiệm và thói quen tích
lũy được trong quá trình xây dựng và thực thi pháp luật [26].
Theo quan điểm của TS Phạm Duy Nghĩa thì "văn hóa pháp luật là
một cách nhìn về luật pháp, đặt pháp luật trong những tương quan đa chiều

thẩm quyền, giới hạn xét xử, nghĩa vụ) của các cơ quan tư pháp. Đồng thời
cũng là những quan niệm, suy nghĩ, thái độ, hành vi ứng xử của các tầng lớp
xã hội đối với các văn bản pháp luật về tư pháp, hệ thống các cơ quan tư pháp
và các cá nhân trong hệ thống đó. Văn hóa tư pháp cũng chỉ là một lĩnh vực
của văn hóa pháp luật, bên cạnh các lĩnh vực khác như: văn hóa lập pháp, văn
hóa hành chính, văn hóa tư vấn pháp luật, văn hóa phổ biến, tuyên truyền,
giáo dục pháp luật… Còn văn hóa pháp lý hay văn hóa pháp luật đều thể hiện
những giá trị của cả hệ thống luật pháp trên tất cả các ngành, lĩnh vực trong
đời sống xã hội. Như vậy lựa chọn thuật ngữ văn hóa pháp lý hay văn hóa
pháp luật đều có thể bao quát và phù hợp với định nghĩa và các yếu tố cấu thành.
1.1.2. Đặc điểm của văn hóa pháp luật
Văn hóa pháp luật có các đặc điểm của văn hóa nói chung, các đặc
điểm riêng của mình và luôn có mối quan hệ mật thiết với các dạng văn hóa
khác. Các đặc điểm của văn hóa pháp luật có thể kể đến là:

12
- Văn hóa pháp luật có tính hệ thống, tính lịch sử: văn hóa pháp luật
bao gồm nhiều yếu tố, nhiều bộ phận và những yếu tố đó luôn có mối quan hệ
mật thiết với nhau. Đó là một hệ thống, một bức tranh tổng thể chứ không
phải là một sự liệt kê, một phép cộng giản đơn. Văn hóa pháp luật cũng là sự
kết tinh sáng tạo của con người qua nhiều thế hệ, nhiều giai đoạn. Do đó,
nghiên cứu văn hóa pháp luật luôn phải đặt nó trong sự tác động, ảnh hưởng
của các yếu tố văn hóa truyền thống và hiện đại.
- Văn hóa pháp luật có tính giá trị: các giá trị đó có thể bao gồm
những giá trị vật chất và tinh thần. Văn hóa pháp luật có những giá trị riêng
về công bằng, công lý, tự do, bình đẳng, dân chủ. Văn hóa pháp luật xác lập
một hệ thống giá trị pháp luật cho xã hội với các khuôn mẫu ứng xử, chuẩn
mực hành vi của con người.
- Văn hóa pháp luật luôn có tính giao lưu, tính mở: văn hóa pháp luật
của một quốc gia luôn có mối quan hệ tương tác với nền văn hóa pháp luật

luật với các phương tiện điều chỉnh khác là ở chỗ văn hóa pháp luật được bảo
đảm thực hiện bằng pháp luật, pháp luật do nhà nước ban hành nên có quyền
lực cưỡng chế đối tượng phải thi hành. Còn đạo đức hay phong tục tập quán
lại được thực hiện thông qua sự tự nguyện của mỗi cá nhân, thông qua sự
khích lệ hay chỉ trích của dư luận xã hội. Chuẩn mực văn hóa pháp lý không
những hướng con người ta tới những giá trị cao đẹp của pháp luật mà còn
giúp hình thành và hoàn thiện nhân cách con người.
- Chức năng giáo dục: giáo dục và môi trường giáo dục luôn là những
yếu tố quan trọng trong việc hình thành nhân cách con người. Đối với văn hóa
pháp luật, giáo dục lại càng có vai trò quan trọng, bởi nó ảnh hưởng trực tiếp
đến hành vi ứng xử có văn hóa pháp luật hay không của các chủ thể. Chức
năng giáo dục của văn hóa pháp luật chính là nằm ở chỗ: nó quyết định việc
lựa chọn hay không lựa chọn thực hiện một hành vi tích cực hoặc tiêu cực của
con người. Bên cạnh ý thức pháp luật, sự tự giác của mỗi người, chức năng
giáo dục pháp luật giúp hỗ trợ cho các chủ thể hành động hợp pháp. Giáo dục

14
pháp luật hiện nay được thực hiện dưới nhiều hình thức: hình thành các trung
tâm tư vấn pháp luật, câu lạc bộ pháp luật, hoạt động phổ biến tuyên truyền
giáo dục pháp luật, giáo dục pháp luật thông qua việc đào tạo tại các trường
Trung học, Đại học… Thông qua đó, văn hóa pháp luật đã nâng cao trình độ
hiểu biết, ý thức tôn trọng pháp luật của các tầng lớp nhân dân đồng thời giáo
dục lối sống, nhân cách, đạo đức phù hợp với các qui định của pháp luật.
- Chức năng phản ánh thực tiễn: Pháp luật luôn luôn phải gắn liền với
thực tiễn, với các qui luật của sự vận động và phát triển trong đời sống kinh
tế, chính trị, văn hóa xã hội. Nhưng thực tiễn cũng chính là bức tranh phản
ánh hiệu quả pháp luật, tính đúng đắn và khả thi của các qui phạm pháp luật
ban hành. Văn hóa pháp luật với sự phản ánh ý thức pháp luật, tình cảm pháp
luật, hành vi ứng xử của các chủ thể đã trở thành công cụ hỗ trợ giúp cho
pháp luật đi sâu vào đời sống hơn, hoàn thiện hơn. Dưới sự tác động của văn

hệ thống và sâu sắc về các vấn đề có tính bản chất của pháp luật và các hiện
tượng pháp luật. Nói cách khác, đó là sự nhận thức có căn cứ khoa học, được
hình thành trong quá trình đào tạo, học tập, nghiên cứu một cách có hệ thống
và được kiểm nghiệm trong thực tiễn đời sống. Văn hóa pháp luật lý luận có
ưu thế đặc biệt, nó là cơ sở cho hoạt động sáng tạo pháp luật, truyền bá tư
tưởng, quan điểm pháp lý, cũng như những hoạt động pháp luật thực tiễn.
- Văn hóa pháp luật nghề nghiệp: là văn hóa pháp luật của các luật gia
và các nhà chức trách mà nghề nghiệp có liên quan đến việc hoạch định chính
sách pháp luật, nghiên cứu, xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật. Văn hóa
pháp luật nghề nghiệp là sự kết hợp hài hòa của những yếu tố tư tưởng pháp
luật và tâm lý pháp luật. Nó không những chỉ biểu hiện ở trình độ hiểu biết
cao của pháp luật mà còn phản ánh trình độ nghiệp vụ, kỹ năng sử dụng và áp
dụng pháp luật vào việc giải quyết các công việc của thực tế đời sống.
Như vậy, văn hóa pháp luật thông thường có tính phổ quát, phong phú
được đặc trưng bằng yếu tố tâm lý xã hội; văn hóa pháp luật lý luận thể hiện

16
tính tư tưởng và khoa học sâu sắc, toàn diện còn văn hóa pháp luật nghề
nghiệp là sự kết hợp hài hòa của hai cấp độ văn hóa đó. Có thể coi văn hóa
pháp luật nghề nghiệp là cầu nối giữa văn hóa pháp luật lý luận và văn hóa
pháp luật thông thường. Văn hóa pháp luật thông thường góp phần tạo nên sự
phong phú và đa dạng của văn hóa pháp luật; văn hóa pháp luật lý luận qui tụ,
soi sáng và định hướng cho sự phát triển của văn hóa pháp luật, còn văn hóa
pháp luật nghề nghiệp góp phần tạo ra sự hài hòa phát triển của văn hóa pháp
luật. Vì vậy trong phát triển văn hóa pháp luật cần chú trọng toàn diện cả ba
mặt: nâng cao văn hóa pháp luật thông thường, tăng cường văn hóa pháp luật
lý luận và đề cao văn hóa pháp luật nghề nghiệp.
1.1.4.2. Phân loại văn hóa pháp luật
* Phân loại theo chủ thể: gồm văn hóa pháp luật của cá nhân, văn hóa
pháp luật nhóm và văn hóa pháp luật xã hội.

- Văn hóa tư pháp: giá trị của văn hóa pháp luật được biểu hiện trong
lĩnh vực tư pháp: điều tra, xét xử…
Có một số tác giả cho rằng cần bổ sung hai loại hình văn hóa xét xử và
văn hóa phổ biến tuyên truyền giáo dục pháp luật. Nhưng theo tác giả, việc đề
cập đến các loại hình văn hóa pháp luật theo cách liệt kê như trên thì không
những dừng lại ở hai loại hình văn hóa đó mà sẽ còn phát sinh nhiều loại hình
khác như: văn hóa tư vấn pháp luật, văn hóa pháp luật điều tra… Vì vậy cần
phân chia rõ các lĩnh vực tác động của văn hóa pháp luật là: lập pháp, hành pháp
và tư pháp để từ đó xếp các loại hình văn hóa theo các lĩnh vực khác nhau.
* Phân loại theo phạm vi tác động: có thể kể đến văn hóa pháp luật ở
trường học, văn hóa pháp luật ở tòa án, văn hóa pháp luật ở các cơ quan hành
chính sự nghiệp…

18
1.1.5. Các yếu tố hợp thành văn hóa pháp luật
Văn hóa pháp luật là một bộ phận của nền văn hóa nói chung, là tổng
thể những giá trị vật chất và tinh thần được con người sáng tạo ra trong lĩnh
vực pháp luật. Phạm trù văn hóa pháp luật cũng như những yếu tố cấu thành
ra nó hiện nay vẫn tồn tại hai quan niệm khác nhau.
Quan niệm thứ nhất cho rằng, các yếu tố cấu thành văn hóa pháp luật
được hiểu theo nghĩa hẹp. Đây là được coi là quan niệm truyền thống và được
ghi nhận trong hầu hết các tác phẩm, công trình nghiên cứu về văn hóa pháp
luật. Theo đó, văn hóa pháp luật bao gồm các yếu tố cấu thành là: tri thức
pháp luật của các chủ thể; thái độ, tình cảm tôn trọng pháp luật và hành vi ứng
xử theo pháp luật.
Quan niệm thứ hai cho rằng, các yếu tố cấu thành văn hóa pháp luật
được hiểu theo nghĩa rộng. Theo đó, văn hóa pháp luật bao gồm hai yếu tố là:
hệ thống pháp luật (được phân biệt ở hai hệ thống pháp luật chủ yếu là hệ
thống pháp luật Anh - Mỹ hay còn gọi là Common law và Civil law); truyền
thống pháp luật (bao gồm các yếu tố như nguồn pháp luật, trình độ hiểu biết

Ý thức pháp luật là một bộ phận của ý thức, thuộc lĩnh vực đời sống
tinh thần của con người. Có thể nói:
Ý thức pháp luật là tổng thể những tư tưởng, học thuyết,
quan điểm, thái độ, tình cảm, sự đánh giá của con người về pháp
luật trên các phương diện, tiêu chí cơ bản như: Về sự cần thiết (hay
không cần thiết), về vai trò, chức năng của pháp luật, về tính công
bằng hay không công bằng, đúng đắn hay không đúng đắn của các
qui định pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua trong quá khứ, pháp
luật cần phải có, về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành
vi của các cá nhân, nhà nước, các tổ chức xã hội [24].
Theo cách hiểu này thì ý thức pháp luật bao gồm cả tri thức pháp luật,
tình cảm pháp luật. Tri thức pháp luật biểu hiện ở trình độ, sự hiểu biết về

20
pháp luật của các chủ thể. Tri thức pháp luật có thể cao hoặc thấp, có thể đồng
đều hoặc không giữa các chủ thể, nhưng nói đến văn hóa pháp luật tức là phải
nói đến một trình độ hiểu biết pháp luật cao.
Tình cảm pháp luật chính là những suy nghĩ, thái độ, niềm tin và sự
tôn trọng pháp luật của các chủ thể. Văn hóa pháp luật đòi hỏi những suy nghĩ
tích cực, lạc quan về pháp luật, thái độ tuân thủ nghiêm chỉnh và tôn trọng các
chuẩn mực pháp lý.
Tri thức pháp luật và tình cảm pháp luật là những biểu hiện của ý thức
pháp luật. Tuy nhiên, ý thức pháp luật là sản phẩm của bộ não con người, sinh
ra trong quá trình con người tư duy và hành động. Do vậy, ý thức pháp luật là
những tư duy của con người đối với hệ thống pháp luật. Tư duy đó có thể
đúng hoặc sai, có thể phù hợp hoặc không phù hợp, hợp pháp hoặc bất hợp
pháp. Nhưng tri thức pháp luật và tình cảm pháp luật với vai trò là một yếu tố
của văn hóa pháp luật thì chỉ có thể là những tri thức cao và tình cảm tốt đẹp,
ý thức đúng đắn về pháp luật.
Ý thức pháp luật được hình thành và phát triển từ những điều kiện kinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status