Luận vănCông ty cổ phần và vai trò
của nó trong phát triển kinh
tế ở nước ta hiện nay
LỜI NÓI ĐẦU
Xuất phát từ thực tế khách quan do đòi hỏi của sự hình thành vầ phát
triển của nền kinh tế thị trường . Do đó ,việc hình thành các công ty cổ phần
(CTCP ) và vấn đề cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước (DNNN ) là tất yếu
đối với quá trình phát triển mạnh của nền kinh tế thị trường . Hình thức
CTCP đã xuất hiện vào những năm cuối thế kỷ XVI và đầu thế kỷ XVII , mà
trước tiên là ở nước Anh sau đó là nước Pháp . Trải qua quá trình phát triển
của nền kinh tế , nhất là trong giai đoạn mà cuộc Cách mạng công nghiệp
diễn ra thì CTCP phát triển rất mạnh mẽ. Đến những năm đầu thế kỷ XX thì
CTCP đã trở thành hình thức kinh doanh rất phổ biến ở các nước có nền kinh
tế thị trường phát triển mạnh. Với Việt Nam chúng ta, từ khi đất nước được
thống nhất , do phải giải quyết hậu quả nặng nề của chiến tranh . Mặt khác do
cơ chế kinh tế và xuất phát điểm của chúng ta thấp. Chính vì vậy, mà việc
khôi phục nền kinh tế tuy đã đạt được nhiều thành công, song cũng còn nhiều
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN
I. KHÁI NIỆM, SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN
1. Khái niệm
Công ty cổ phần là doanh nghiệp trong đó các cổ đông góp vốn kinh
doanh và chịu trách nhiệm trong phạm vi phần vốn góp của mình trên cơ sở
tự nguyện để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi
nhuận
2. Lịch sử hình thành và phát triển của công ty cổ phần
Công ty cổ phần ra đời từ cuối thế kỷ 16 ở các nước tư bản phát triển
như một nhu cầu khách quan của lịch sử. Trong suốt mấy trăm năm qua các
công ty cổ phần đã chiếm một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh
tế thế giới. Quá trình lịch sử hình thành và phát triển của hình thức công ty cổ
phần trên thế giới có thể được mô tả theo sơ đồ sau:
xuất hiện
giao dịch
chứng
khoán
- Hoạt
động có tổ
chức lớn
hơn
Giai doạn
phát triển
- Công ty cổ
phần phổ
biến ở các
nước tư bản
chủ nghĩa
-Các hình
thức đa
quốc gia
- Hình
thành trung
tâm tài
chính quốc
tế -Giao dịch
chứng
Giai đoạn
trưởng thành
- Hình thức
công ty xuyên
quốc gia, đa
quốc gia
nghiệp và thương nghiệp nhất định". Như vậy trong giai đoạn này công ty cổ
phần có hai loại:
+ Doanh nghiệp góp vốn hoặc doanh nghiệp nhóm bạn
+ Doanh nghiệp do Nhà nước lập bằng hình thức phát hành trái khoán
(Ở Mỹ gọi là cổ phần công cộng) hoặc doanh nghiệp Nhà nước góp vốn.
2.2. Giai đoạn hình thành
Trong nửa đầu thé kỷ XIX các công ty cổ phần chính thức lần lượt ra
đời với hình thức tổ chức và hình thức phân phối riêng của chúng. Những
quy định cơ bản về công ty cổ phần đã ra đời (ở Pháp vào những năm 1806).
Công ty cổ phần được thành lập rộng khắp trong các ngành nghề không chỉ
trong thương nghiệp mà trong giai đoạn trước ở các ngành chế tạo, các lĩnh
vực giao thông vận tải đường sông, đưòng sắt.
Cổ phiếu phát hành có thể bán trao tay, loại giao dịch chứng khoán này
có lúc vượt ra ngoài biên giới quốc gia thu lợi nhuận theo hình thức lợi tức
định kỳ. Một số doanh nghiệp lớn của tư bản tư nhân bắt đầu phát hành cổ
phần, tách người đại biểu quyền sở hữu (hội đồng quản trị) và người kinh
doanh (giám đốc) ra làm hai. Các sở giao dịch chứng khoán cũng hình thành
phổ biến ở các nước Phương Tây tuy nhiên trước những năm 70 của thế kỷ
XIX công ty cổ phần còn ít và hình thức chưa đa dạng, quy mô còn nhỏ.
2.3. Giai đoạn phát triển
Sau những năm 70 của thế kỷ XIX công ty cổ phần phát triển rất
nhanh phổ biến ở tất cả các nước tư bản, các ngành có quy mô sản xuất mở
rộng, tập trung tư bản diễn ra với tốc độ chưa từng có, ra đời các tổ chức độc
quyền như Các ten – Xanh đê ca – Cơ vốt. Các công ty nắm giữ cổ phần
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
3
khống chế ra đời tạo thành kết cấu chuỗi. Công ty mẹ công - ty con – công ty
cháu hình thành một tập đoàn doanh nghiệp xuyên quốc gia.
Đến năm 1930 số công ty cổ phần của Anh là 86000, 90% tư bản chịu
kinh doanh
Nếu lợi nhuận trong kinh doanh mang lại lớn hơn lợi tức ngân hàng
hoặc lợi tức do đầu tư vào các lĩnh vực khác và lớn hơn đủ mức cần thiết thì
người có vốn mới sẵn sàng góp vốn vào công ty cổ phần để tham gia kinh
doanh
3.4. Phải có sự nhất trí thành lập công ty
Những người có vốn muốn tham gia kinh doanh phải thoả thuận được
với nhau để cùng góp vốn và đứng ra thành lập công ty cổ phần trên cơ sở
những quy định của pháp luật. Nếu không thoả thuận được thì công ty cổ
phần không thể thành lập được
4. Cơ cấu tổ chức và hoạt động của công ty cổ phần
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
4
4.1. Cổ phần, cổ phiếu và cổ đông
Vốn của công ty cổ phần được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là
các cổ phần. Chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán ghi sổ
xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty gọi là cổ phiếu.
Cổ phiếu có thể ghi tên hoặc không ghi tên. Giá trị của mỗi cổ phiếu gọi là
mệnh giá cổ phiếu. Cổ phiếu bảo đảm cho người chủ sở hữu có quyền lĩnh
một phần thu nhập của công ty tương ứng với số tiền ghi trên cổ phiếu
Một công ty chỉ được phép phát hành một số lượng cổ phiếu nhất định.
Cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi do công ty phát hành hình thành nên vốn
cổ phần của công ty. Cổ phiếu chứng minh tư cách thành viên của những
người góp vốn vào công ty cổ phần, những thành viên này gọi là cổ đông.
Mỗi cổ đông có thể mua một hoặc nhiều cổ phiếu. Quyền và trách nhiệm, lợi
ích của mỗi cổ đông phụ thuộc vào số lượng cổ phiếu của họ trong công ty.
Cổ đông nắm được số lượng cổ phiếu khống chế thì có thể nắm được quyền
chi phối mọi hoạt động cuả công ty.Theo điều 51 và 53 của Luật doanh
nghiệp Việt Nam thì :
5
của Đại hội đồng cổ đông. Hội đồng Quản trị tự bầu chủ tịch Hội đồng và chủ
tịch Hội đồng Quản trị có thể kiêm Tổng giám đốc công ty nếu điều lệ công
ty không có qui định khác.
Giám đốc điều hành là người điều hành hoạt động hàng ngày của công
ty và chịu trách nhiệm trước hội đồng quản trị về việc thực hiện các nhiệm vụ
và quyền hạn được giao. Về thực chất giám đốc điều hành là người làm thuê
cho chủ tịch Hội đồng Quản trị. Giám đốc không làm việc theo nhiệm kỳ mà
theo thời hạn hợp đồng ký kết với chủ tịch Hội đồng Quản trị.
Ban kiểm soát có vai trò giám sát các hoạt động của công ty. Số lượng
uỷ viên kiểm soát theo qui định trong điều lệ của công ty. Những người này
không phải là thành viên của Hội đồng Quản trị và giám đốc.
Phân chia lợi nhuận trong công ty cổ phần: Trong công ty cổ phần
quan hệ phân phối được thực hiện theo nguyên tắc vốn góp của các cổ đông
và phụ thuộc vào lợi nhuận của công ty. Lợi nhuận của công ty sau khi dùng
cho các khoản chung cần thiết, phần còn lại được chia đều cho các cổ đông tỷ
lệ với phần vốn góp của họ và gọi là cổ tức.
5. Các loại công ty cổ phần trên thế giới.
Ở các nước khác nhau công ty cổ phần có thể khác nhau về tên gọi. Ở
Pháp là công ty vô danh, ở Anh là công ty TNHH ( company Ltd ). Ở Mỹ nó
được gọi là công ty kinh doanh ( comercial – coorporation). Ở Nhật Bản là
công ty chung cổ phần ( Habusiki Haishu) ... Tuy nhiên xét về bản chất
chung không có gì khác nhau lớn.
II. VAI TRÒ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN TRONG NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN
1. Sự ra đời của công ty cổ phần là tất yếu khách quan
Công ty cổ phần là sự hình thành một kiểu tổ chức doanh nghiệp trong
nền kinh tế thị trường. Nó ra đời không nằm trong ý muốn chủ quan của bất
cứ lực lượng nào mà là một quá trình kinh tế khách quan do các nguyên nhân
sau:
1.1. Quá trình xã hội hoá tư bản, tăng cường tích tụ và tập trung tư bản
tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và yêu cầu khắc nghiệt
của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường
Sự phát triển của lực lượng sản xuất và do trình độ kỹ thuật ngày càng
phát triển cao đòi hỏi tư bản cố định tăng lên và vì thế quy mô tối thiếu mà
một nhà tư bản phải có để có thể kinh doanh trong điều kiện bình thường
cũng như ngày càng lớn hơn. Một nhà tư bản cá biệt không thể đáp ứng được
số vốn đó phải có sự liên minh tập trung nhiều tư bản cá biệt còn đang phân
tán trong nền kinh tế bằng cách góp vốn để cùng kinh doanh. Với sự tập trung
vốn như vậy đã hình thành công ty cổ phần. Mặt khác do kỹ thuật ngày càng
phát triển làm xuất hiện ngày càng nhiều ngành, nhiều lĩnh vực kinh doanh và
những mặt hàng mới có hiệu quả hơn đã thu hút được các nhà tư bản đổ xô
vào các ngành, lĩnh vực và các mặt hàng mới này bằng cách di chuyển tư bản
từ các ngành, lĩnh vực và các ngành kinh doanh kém hiệu quả. Điều này càng
gây ra nhiều khó khăn cho các nhà tư bản khi thực hiện di chuyển vốn bởi vì
họ không thể bỗng chốc xoá bỏ ngay các xí nghiệp đang có để thu hồi và
chuyển vốn sang xây dựng ngay một doanh nghiệp mới mà chỉ có thể rút bớt
và chuyển dần từng bộ phận mà thôi. Quy luật đó có thể kéo dài và do vậy họ
có thể mất thời cơ. Mâu thuẫn đó chỉ được giải quyết bằng cách các nhà tư
bản cá biệt liên minh với nhau, cùng nhau góp vốn để xây dựng các doanh
nghiệp lớn, cùng chung mục tiêu đi tìm lợi nhuận siêu ngạch họ đã gặp nhau
và nhanh chóng thoả thuận cùng nhau góp vốn để thành lập công ty cổ phần
để cùng kinh doanh
1.3. Sự phân tán tư bản để tránh rủi ro trong cạnh tranh và tạo thế mạnh
về quản lý
Sản xuất càng phát triển, trình độ kỹ thuật ngày càng cao, cạnh tranh
càng khốc liệt thì sự rủi ro trong kinh doanh đe doạ phá sản đối với các doanh
nghiệp ngày càng lớn. Để tránh những rủi ro này các nhà tư bản đã phải phân
tán tư bản của mình tham gia đầu tư kinh doanh ở nhiều ngành, nhiều công ty
khác nhau. Điều này có thể làm cho họ chia sể sự thiệt hại cho nhiều người
khi gặp rủi ro. Mặt khác do cùng được một số đông người quản lý nên tập
để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh khổng lồ mà không nhà tư
bản riêng biệt nào có thể tự mình làm nổi. Các Mác đã đánh giá vai trò
nàycủa công ty cổ phần như sau: "Nếu như cứ phải chờ cho đến khi tích luỹ
làm cho một nhà tư bản riêng lẻ lớn lên đến mức có thể đảm đương việc xây
dựng đường sắt thì có lẽ đến ngày nay thế giới vẫn không có đường sắt.
Ngược lại qua công ty cổ phần sự tập trung đã thực hiện được việc đó chỉ
trong nháy mắt"
- Công ty cổ phần góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng của đồng vốn bởi vì
: Thứ nhất, do hình thức tự cấp phát tài chính bằng huy động vốn đã đề cao
trách nhiệm của doanh nghiệp nâng cao sự quan tâm đến sử dụng hiệu quả
nguồn vốn. Mặt khác do sức ép của cổ đông do việc đòi chia lãi cổ phần và
muốn duy trì giá cổ phiếu cao trên thị trường chứng khoán khiến doanh
nghiệp phải phấn đấu nâng cao hiêụ quả sử dụng đồng vốn. Thứ hai, là do lợi
nhuận của các công ty cổ phần là khác nhau trong các lĩnh vực khác nhau
thúc đẩy nên có thể dẫn dắt tiền vốn nhàn rỗi từ nhiều kênh khác nhau trong
xã hội vào các ngành, các lĩnh vực có năng suất lao động và tỷ suất lợi nhuận
cao làm cho vốn được phân bổ và sử dụng có hiệu quả trong nền kinh tế
- Công ty cổ phần tạo ra một cơ chế phân bổ rủi ro đặc thù đã hạn chế được
những tác động tiêu cực về kinh tế xã hội khi một doanh nghiệp lâm vào tình
trạng khủng hoảng. Chế độ đã hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại của
rủi ro thua lỗ. Vốn tự có của công ty huy động thông qua việc phát hành cổ
phiếu là vốn của nhiều cổ đông do đó san sẻ rủi ro cho nhiều cổ đông. Nhờ
vậy khi công ty cổ phần phá sản hậu quả về mặt kinh tế xã hội được hạn chế
ở mức thấp nhất. Cách thức huy động vốn của công ty cổ phần đã tạo điều
kiện cho các nhà đầu tư tài chính có thể mua cổ phiếu, trái phiếu ở các công
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
9
ty ở nhiều ngành khác nhau nên giảm bớt được tổn thất khi công ty bị phá sản
so với việc đầu tư vào một công ty. Cơ chế phân bổ rủi ro này đã tạo điều