Công ty cổ phần và vai trò của nó trong phát triển kinh tế - Pdf 23

Phần mở đầu
ông ty cổ phần là hình thức kinh tế mới xuất hiện khi nớc ta chuyển sang
nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần. Từ năm 1991 đén nay, ở nớc ta có
rất nhiều công ty cổ phần đợc thành lập. Sự tồn tại và phát triển của chúng
trong những năm qua đã chứng tỏ rằng sự hình thành các công ty cổ phần ở Việt Nam
là một tất yếu khách quan, một xu hớng phù hợp với thời đại. Là sinh viên việc nghiên
cứu về công ty cổ phần và quá trình cổ phần hoá ở Việt Nam là thật sự cấp thiết. Đề tài
Công ty cổ phần và vai trò của nó trong phát triển kinh tế đã mở ra cho em cơ hội
hiểu rõ những vấn đề cơ bản về công ty cổ phần, vai trò của công ty cổ phần trong nền
kinh tế Việt Nam
C
Công ty cổ phần hình thành và phát triển ở Việt Nam là một vấn đề có tính thời
sự, mặt khác do trình độ còn hạn chế nên trong khuôn khổ bài viết này, tôi chỉ nêu lên
một số vấn đề cơ bản về công ty cổ phần, tóm lợc quá trình cổ phần hoá ở Việt Nam
trong thời gian qua và một số biện pháp nhằm thúc đẩy quá trình cổ phần hoá ở nớc ta.
Bài viết này đợc hoàn thành dới sự hớng dẫn tận tình của thầy cô giáo và sự giúp đỡ
của th viện trờng về nhiều tài liệu bổ ích.
Phần nội dung của bài viết đợc bố cục thành 3 chơng chính.
Chơng 1: "Một số vấn đề lý luận cơ bản về công ty cổ phần" bàn về một số
khái niệm bản công ty cổ phần,điều kiện hình thành công ty cổ phần và vai trò
của công ty cổ phần trong nền kinh tế thị trờng.
1
Chơng 2: "Thực trạng về công ty cổ phần ở Việt Nam. Vai trò của nó đối
với nền kinh tế nớc ta". Chơng này cho thấy việc hình thành công ty cổ phần ở
nớc ta là tất yếu, vai trò của chúng đối với nền kinh tế, thc trạng về quá trình
thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nớc trong thời gian qua .
Chơng 3: "Một số giải pháp góp phần thúc đẩy quá trình cổ phần hóa ở n-
ớc ta. ý nghĩa của việc nghiên cứu công ty cổ phần và quá trình cổ phần
hóa các doanh nghệp nhà nớc ở Việt Nam".
2
Phần nội dung

mua cổ phiếu không những đem lại cho cổ đông lợi tức cổ phần mà còn hứa hẹn
mang đến cho họ một khoản thu nhập nhờ việc gia tăng trị giá cổ phiếu khi công
ty làm ăn có hiệu quả. Thứ hai, các cổ đông có quyền tham gia quản lý theo điều
lệ của công ty và đợc pháp luật bảo đảm, điều đó làm cho quyền sở hữu của cổ
đông trở nên cụ thể và có sức hấp dẫn hơn. Thứ ba, cổ đông có quyền đợc u đãi
trong vịêc mua những cổ phiếu mới phát hành của công ty trớc khi chúng đợc
bán rộng rãi cho công chúng.
Nh vậy, công ty cổ phần đã thực hiện đợc việc tách quan hệ sở hữu khỏi quá
trình kinh doanh, tách quyền sở hữu với quyền quản lý và sử dụng. Từ đó, nó tạo
nên một hình thái xã hội hoá sở hữu giữa một bên là đông đảo quần chúng với một
bên là tầng lớp các nhà quản trị kinh doanh chuyên nghiệp sử dụng t bản xã hội
cho các kế hoạch kinh doanh qui mô lớn. Những ngời đóng vai trò sở hữu trong
công ty cổ phần không trực tiêp đứng ra kinh doanh mà uỷ thác cho bộ máy quản
lý của công ty. Trong đó, Đại hội cổ đông và Hội đồng quản trị là hai tổ chức
chính đại diện cho quyền sở hữu của các cổ đông trong công ty, quyền sở hữu tối
cao thuộc về Đại hội cổ đông.
1.2.tính tất yếu khách quan của viêc hình thành công ty
cổ
phần.
Công ty cổ phần ra đời từ những năm cuối thế kỷ XVI ở các nớc phát triển
châu Âu và đến nay đã có lịch sử phát triển hàng trăm năm. Công ty cổ phần là
4
hình thức tổ chức doanh nghiệp điển hình trong nền kinh tế thị trờng. Sự hình
thành và phát triển của công ty cổ phần bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân sâu xa
trong nền kinh tế của các nớc t bản chủ nghĩa. Khi nền kinh tế đạt đợc trình độ tập
trung sản xuất nhất định, cùng với nó là sự phát triển mạnh mẽ của nền đại công
nghiệp cơ khí, thì công ty cổ phần ra đời là kết quả tất yếu để đáp ứng đòi hỏi của
sự ra đời và phát triển của nền kinh tế thị trờng, thúc đẩy quá trình tập trung và
tích tụ t bản diễn ra ngày càng mạnh mẽ.
Quá trình xã hội hoá t bản, tăng cờng tích tụ t bản ngày càng cao là

hình thành nên công ty cổ phần.
Sự phát triển của khoa học công nghệ làm xuất hiện ngày càng nhiều ngành nghề
mới, nhiều lĩnh vực kinh doanh và những mặt hàng mới. Khi thấy ngành mới có lợi
nhuận cao hơn, các nhà t bản sẽdi chuyển t bản của mình sang lĩnh vực kinh doanh
mới. Tuy nhiên, việc di chuyển t bản gặp nhiều khó khăn bởi vì các nhà t bản không
thể một lúc huỷ bỏ ngay các xí nghiệp cũ rồi chuyển sang xây dựng xí nghiệp mới. Họ
chỉ có thể di chuyển dần từng phần t bản của họ mà thôi, hơn nữa, việc di chuyển sẽ
tiêu tốn nhiều thời gian và họ sẽ mất lợi thế trong cạnh tranh và thu lợi nhuận siêu
ngạch từ lĩnh vực kinh doanh mới. Để giải quyết khó khăn này, các nhà t bản đã nhanh
chóng thỏa thuận cùng nhau góp vốn thành lập công ty cổ phần.
Sự phân tán t bản để tránh rủi ro trong cạnh tranh và tạo thế mạnh trong
quản lý Sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ đã mở rông giới hạn của sản
xuất kinh doanh. Tuy nhiên điều này gắn liền với sự cạnh tranh vô cùng khốc liệt trong
nền kinh tế thị trờng và nh vậy các nhà doanh nghiệp phải đứng trớc những rủi ro ngày
càng lớn. Nếu tập trung đầu t vào chỉ một ngành nào đó thì rủi ro của họ càng lớn và họ
có thể bị phá sản. Do đó các nhà t bản phân tán t bản của mình bằng cách tham gia đầu
t kinh doanh ở nhiều ngành, nhiều công ty khác nhau. Cách giải quyết này đã giúp các
nhà t bản tránh đợc nhiều rủi ro. Một là, các nhà doanh nghiệp chia sẻ thiệt hại cho
nhiều ngời khi gặp rủi ro. Hai là, việc điều hành công ty cổ phần do một tập thể hội đủ
điều kiện về vốn, trí tuệ và trình độ tổ chức quản lý đảm nhiệm nên công ty cổ phần
hoạt động hiệu quả và hạn chế đợc nhiều rủi ro.
Tín dụng t bản chủ nghĩa mở rộng, trở thành đòn bẩy mạnh mẽ thúc đẩy tập
trung sản xuất, tạo điều kiện cho công ty cổ phần ra đời và phát triển. Thị trờng
vốn là loại thị trờng quan trọng của nền kinh tế thị trờng, vì thế sự phát triển của kinh
tế hàng hoá thì tất yếu sẽ làm cho thị trờng vốn phát triển. Trong nền kinh tế, thờng
6
xuyên có những doanh nghiệp mà trong từng thời điểm nào đó có một bộ phận vốn
nhàn rỗi. Chẳng hạn, vốn dùng để trả lơng nhng cha đến kỳ trả, vốn mua nguyên liệu
nhng cha đến kỳ mua...Trong khi đó, một số doanh nghiệp khác muốn có vốn để thanh
toán, để mở mang doanh nghiệp nhng lại cha tích luỹ kịp. Tơng tự nh vậy, trong dân c

1.3.1.Tồn tại sở hữu khác nhau về vốn.
Công ty cổ phần là công ty đợc thành lập do các thành viên hợp tác góp vốn cùng tổ
chức sản xuất kinh doanh. Các cổ đông của công ty có thể là các cá nhân hoặc các tổ
chức kinh tế, tổ chức xã hội có t cách pháp nhân. Nhng điều quan trọng là các cá nhân
hay các tổ chức tham gia góp vốn phải độc lập về vốn, nghĩa là họ phải có quyền tự
quyết định đối với phần vốn của mình, họ phải là ngời chủ sở hữu phần vốn đó. Nói
cách khác họ phải là những ngời sở hữu vốn độc lập.
Điều kiện này đảm bảo cho công ty cổ phần thuộc sở hữu của nhiều ngời. Khi
công ty chỉ có một chủ sở hữu ( cá nhân hoặc tổ chức nào đó) thì công ty không
phải là công ty cổ phần. Nó sẽ thuộc một loại hình công ty khác: công ty t nhân,
công ty trách nhiêm hữu hạn một hội viên và nếu Nhà nớc là chủ sở hữu thì nó là
công ty quốc doanh.
1.3.2.Những ngời có vốn muốn tham gia đầu t để kinh doanh thu lơi nhuận.
Trong xã hội có nhiều ngời và nhiều doanh nghiệp có vốn tạm thời nhàn rỗi. Không
ai không muốn đồng tiền của mình sinh lời. Tuy nhiên trong môi trờng cạnh tranh khốc
liệt, việc đầu t cho kinh doanh thờng gắn liền với nhiều rủi ro và họ có thể bị phá sản.
Với nhiều ngời, để yên tâm và thu lợi nhuận chắc chắn, họ đem tiền gửi vào ngân hàng,
tuy lãi ít nhng tiền của họ đợc bảo vệ an toàn. Một số ngời có vốn khác, do sức hấp dẫn
của lợi nhuận, họ sẵn sàng chấp nhận rủi ro đem tiền đi góp vốn và họ trở thành cổ
đông. Đây là hình thức đầu t mạo hiểm nhất, nhiều rủi ro nhất so với các hình thức đầu
t khác nhng bù lại nó có thể đem lại nhiều lợi nhuận và không bị lạm phát làm sói mòn
tiền.
1.3.3.Lợi nhuận thu đợc phải đủ sức hấp dẫn ngời có vốn tham gia kinh
doanh.
Với mục đích tối đa hoá lợi ích, những ngời có vốn sẽ tìm nơi nào có lợi nhất trong
số những nơi có thể để đầu t. Nh vậy họ sẽ phải so sánh lợi nhuận thu đợc giữa các nơi.
Khi nhà đầu t có ý định rót vốn của mình vào công ty cổ phần thì họ cũng sẽ có sự so
8
sánh lợi ích giữa việc mua cổ phần và việc gửi tiền vào ngân hàng, hoặc đầu t cho dự
án đầu t khác. Do vậy công ty cổ phần muốn thu hút vốn thì lợi nhuận do kinh doanh

hỏi giải quyết cấp bách nhất.
Ba là đại hội cổ đồng cổ đông. Đại hội đồng đợc triệu tập thờng vào cuối năm
tài chính hoặc bất kỳ lúc nào mà hội đồng quản trị hoặc ban kiểm soát thấy cần
thiết. Nhiệm vụ chủ yếu của đại hội đồng cổ đông chủ yếu là: quyết định phơng h-
ớng hoạt động của các bộ phận trong công ty, nhiệm vụ và kế hoạch kinh doanh
của công ty, thảo luận và thông qua bảng tổng kết năm tài chính; bầu bãi miễn
thành viên trong hội đồng quản trị và ban kiểm soát; quyết định thành lập, bổ
sung, trích các quỹ của công ty; phân chia lợi nhuận; xác định thiệt hại đối với
công ty ...
1.4.2.Hội đồng quản trị
Đây là bộ máy quản lý của công ty cổ phần. Hội đồng quản trị bao gồm những
thành viên có trình độ chuyên môn cao, có khả năng tổ chức và quản lý giỏi. Các thành
viên của Hội đồng quản trị phải có năng lực tốt để đảm bảo cho những công việc do đại
hội cổ đông giao phó đợc hoàn thành ở mức tốt nhất.
Số lợng thành viên của Hội đồng quản trị do Đại hội cổ đông quyết định và đợc ghi
vào Điều lệ của công ty. Thông thờng, với những công ty nhỏ, Hội đồng quản trị có từ
3 7 ngời, từ 9 13 ngời với những công ty trung bình và từ 15 17 ngời đối với
những công ty lớn. Một Chủ tịch đợc Hội đồng quản trị bầu ra và có thể thể kiêm Tổng
giám đốc công ty nếu không trái với Điều lệ. Vì là ngời đứng đầu nên Chủ tịch hội
đồng quản trị phải là ngời có kiến thức kinh tế và trình độ kinh doanh, hiểu rõ pháp
luật và thông thạo các hoạt động thơng mại.
Hội đồng quản trị là cơ quan có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định tất cả
các vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty, ngoại trừ các vấn đề thuộc
thẩm quyền của Đại hội cổ đông.
1.4.3.Giám đốc điều hành.
Giám đốc điều hành là ngời điều hành hoạt động hàng ngày của công ty. Giám đốc
điều hành đợc lựa chọn thông qua nhiều hình thức thi tuyển khác nhau để công ty lựa
chọn đợc ngời thực sự có năng lực để điều hành công ty. Thc chất, Giám đốcđiều hành
công ty, là ngời điều khiển và quản lý t bản của ngời khác, là ngời làm thuê cho Chủ
10

11
hội đối lập với những xí nghiệp t nhân. C.Mác cho rằng đây là sự thủ tiêu t bản với t
cách là sở hữu t nhân ở trong giới hạn của bản thân phơng thức sản xuất t bản chủ
nghĩa[3,305] và là điểm quá độ tất nhiên để t bản lại chuyển thành sở hữu của những
ngời sản xuất, nhng không phải với t cách sở hữu t nhân của những ngời sản xuất riêng
lẻ [3,305].Chơng 2:
thực trạng về công ty cổ phần ở việt nam
và vai trò của nó đối với nền kinh tế
ở nớc ta
2.1.tính tất yêu khách quan của việc hình thành công ty cổ
phần ở n ớc ta
Công ty cổ phần là hình thức kinh tế mới đối với nớc ta khi chúng ta chuyển sang
nền kinh tế nhiều thành phần. Vấn đề cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nớc đợc đặt ra
từ năm 1991 và cho đến nay đã có rất nhiều công ty cổ phần đợc thành lập ở mọi thành
phần kinh tế. Điều đó cho thấy sự hình thành các công ty cổ phần ở nớc ta là một thực
tế khách quan, một xu hớng tất yếu, nó không phụ thuôc vào ý chí chủ quan của bất cứ
một tổ chức nào.
Thật vậy, công ty cổ phần ra đời là do đòi hỏi của nền kinh tế hàng hóa phát
triển. Nó sẽ hình thành và phát triển ở nớc ta nếu hội tụ đầy đủ những điều kiện
cần thiết.
2.1.1.Nớc ta cần phải hình thành công ty cổ phần.
Hiện nay khu vực doanh nghiệp nhà nớc nắm giữ trên 70% tổng số vốn của các
doanh nghiệp trong trong nền kinh tế, thu hút phần lớn lực lợng cán bộ khoa học kỹ
thuật, cán bộ quản lý, công nhân lành nghề... song chỉ tạo ra trên 40% tổng GDP của
12
toàn bộ nền kinh tế. Cho đến cuối năm 1997, nớc ta có khoảng 6000 doanh nghiệp nhà
nớc thì chỉ có 50% doanh nghiệp có lãi, trong đó thực sự kinh doanh có lãi và lâu dài

Trích đoạn nghĩa thực tiễn.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status