Cty cổ phần và vai trò của nó trong phát triển kinh tế - Pdf 88

Tiểu luận Luật
Đề tài:
vai trò của công ty cổ phần trong phát triển kinh tế
Phần mở đầu
Công ty cổ phần là hình thức kinh tế mới xuất hiện khi nớc ta chuyển sang nền kinh
tế hàng hóa nhiều thành phần. Từ năm 1991 đến nay, ở nớc ta có rất nhiều công ty cổ
phần đợc thành lập. Sự tồn tại và phát triển của chúng trong những năm qua đã
chứng tỏ rằng sự hình thành các công ty cổ phần ở Việt Nam là một tất yếu khách
quan, một xu hớng phù hợp với thời đại. Là sinh viên việc nghiên cứu về công ty cổ
phần và quá trình cổ phần hoá ở Việt Nam là thật sự cấp thiết. Đề tài Công ty cổ
phần và vai trò của nó trong phát triển kinh tế đã mở ra cho tôi cơ hội hiểu rõ
những vấn đề cơ bản về công ty cổ phần, vai trò của công ty cổ phần trong nền kinh
tế Việt Nam
Công ty cổ phần hình thành và phát triển ở Việt Nam là một vấn đề có tính thời
sự, mặt khác do trình độ còn hạn chế nên trong khuôn khổ bài viết này, tôi chỉ nêu
lên một số vấn đề cơ bản về công ty cổ phần, tóm lợc quá trình cổ phần hoá ở Việt
Nam trong thời gian qua và một số biện pháp nhằm thúc đẩy quá trình cổ phần hoá ở
nớc ta. Bài viết này đợc hoàn thành dới sự giúp đỡ của th viện trờng và về nhiều tài
liệu bổ ích khác.
Phần nội dung của bài viết đợc bố cục thành 3 chơng chính.
Chơng 1: "Một số vấn đề lý luận cơ bản về công ty cổ phần" bàn về một
số khái niệm cơ bản công ty cổ phần,điều kiện hình thành công ty cổ phần và
vai trò của công ty cổ phần trong nền kinh tế thị trờng.

Chơng 2: "Thực trạng về công ty cổ phần ở Việt Nam. Vai trò của nó đối
với nền kinh tế nớc ta". Chơng này cho thấy việc hình thành công ty cổ phần
ở nớc ta là tất yếu, vai trò của chúng đối với nền kinh tế, thc trạng về quá trình
thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nớc trong thời gian qua .
Chơng 3: "Một số giải pháp góp phần thúc đẩy quá trình cổ phần hóa ở
nớc ta. ý nghĩa của việc nghiên cứu công ty cổ phần và quá trình cổ phần
hóa các doanh nghiệp nhà nớc ở Việt Nam".

lớp các nhà quản trị kinh doanh chuyên nghiệp sử dụng t bản xã hội cho các kế
hoạch kinh doanh qui mô lớn. Những ngời đóng vai trò sở hữu trong công ty cổ phần
không trực tiêp đứng ra kinh doanh mà uỷ thác cho bộ máy quản lý của công ty.
Trong đó, Đại hội cổ đông và Hội đồng quản trị là hai tổ chức chính đại diện cho
quyền sở hữu của các cổ đông trong công ty, quyền sở hữu tối cao thuộc về Đại hội
cổ đông.
1.2.các điều kiện để hình thành công ty cổ phần.
Cũng nh các hình thức tổ chức kinh doanh khác, một công ty cổ phần đợc thành
lập thì nó phải có một số điều kiện nhất định. Trong đó có những điều kiện quan
trọng mà nếu thiếu một điều kiện nào đó thì công ty cổ phần không thể đợc thành
lập.
1.3.1.Tồn tại sở hữu khác nhau về vốn.
Công ty cổ phần là công ty đợc thành lập do các thành viên hợp tác góp vốn cùng
tổ chức sản xuất kinh doanh. Các cổ đông của công ty có thể là các cá nhân hoặc các
tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội có t cách pháp nhân. Nhng điều quan trọng là các cá
nhân hay các tổ chức tham gia góp vốn phải độc lập về vốn, nghĩa là họ phải có
quyền tự quyết định đối với phần vốn của mình, họ phải là ngời chủ sở hữu phần vốn
đó. Nói cách khác họ phải là những ngời sở hữu vốn độc lập.
1.3.2.Những ngời có vốn muốn tham gia đầu t để kinh doanh thu lơi nhuận.
Trong xã hội có nhiều ngời và nhiều doanh nghiệp có vốn tạm thời nhàn rỗi.
Không ai không muốn đồng tiền của mình sinh lời. Tuy nhiên trong môi trờng cạnh
tranh khốc liệt, việc đầu t cho kinh doanh thờng gắn liền với nhiều rủi ro và họ có thể
bị phá sản. Với nhiều ngời, để yên tâm và thu lợi nhuận chắc chắn, họ đem tiền gửi
vào ngân hàng, tuy lãi ít nhng tiền của họ đợc bảo vệ an toàn.
1.3.3.Lợi nhuận thu đợc phải đủ sức hấp dẫn ngời có vốn tham gia kinh
doanh.
4

Với mục đích tối đa hoá lợi ích, những ngời có vốn sẽ tìm nơi nào có lợi nhất
trong số những nơi có thể để đầu t. Nh vậy họ sẽ phải so sánh lợi nhuận thu đợc giữa

ở nớc ta
2.1.tính tất yêu khách quan của việc hình thành công ty cổ
phần ở n ớc ta
Công ty cổ phần là hình thức kinh tế mới đối với nớc ta khi chúng ta chuyển sang
nền kinh tế nhiều thành phần. Vấn đề cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nớc đợc đặt
ra từ năm 1991 và cho đến nay đã có rất nhiều công ty cổ phần đợc thành lập ở mọi
thành phần kinh tế. Điều đó cho thấy sự hình thành các công ty cổ phần ở nớc ta là
một thực tế khách quan, một xu hớng tất yếu, nó không phụ thuôc vào ý chí chủ quan
của bất cứ một tổ chức nào.
2.1.1.Nớc ta cần phải hình thành công ty cổ phần.
Hiện nay khu vực doanh nghiệp nhà nớc nắm giữ trên 70% tổng số vốn của các
doanh nghiệp trong trong nền kinh tế, thu hút phần lớn lực lợng cán bộ khoa học kỹ
thuật, cán bộ quản lý, công nhân lành nghề... song chỉ tạo ra trên 40% tổng GDP của
toàn bộ nền kinh tế. Cho đến cuối năm 1997, nớc ta có khoảng 6000 doanh nghiệp
nhà nớc thì chỉ có 50% doanh nghiệp có lãi, trong đó thực sự kinh doanh có lãi và lâu
dài chỉ chiếm 30%. Thực tế doanh nghiệp nhà nớc nộp ngân sách chiếm 80 85%
tổng số thu, nhng nêu trừ khấu hao cơ bản và thuế gián thu thì doanh nghiệp nhà nớc
chỉ đóng góp đợc trên 30% ngân sách nhà nớc. Đặc biệt nếu tính đủ chi phí và tài sản
cố định, đất đai theo giá thị trờng thì các doanh nghiệp nhà nớc không tạo ra đợc tích
luỹ. Những điêu trên cho phép khẳng định rằng khu vực kinh tế nhà nớc kinh doanh
kém hiệu quả.
7


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status