ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ
BÀI KIỂM TRA GIỮA KỲ - THẢO LUẬN NHÓM
MỐI QUAN HỆ THẾ - PHÁP - THUẬT TRONG
TƯ TƯỞNG PHÁP TRỊ CỦA HÀN PHI TỬ
Giảng Viên: PGS.TS Phạm Ngọc Thanh
Nhóm Sinh Viên Thực hiện: Nhóm 3
Hà Nội - 2011
3
lực lật đổ chế độ phong kiến phân tán và lập ra chế độ phong kiến quân
chủ chuyên chế, thay “vương đạo” của Khổng Mạnh bằng chính sách "bá
đạo".
Tư tưởng Pháp gia với đại biểu xuất sắc là Hàn Phi Tử. Hàn Phi
Tử(280-233 TCN),là một công tử nước Hàn, học rộng, biết cả đạo Nho,
đạo Lão, nhưng thích nhất học thuyết của Pháp gia và có tư tưởng mới về
Pháp trị. Nội dung cơ bản của Pháp gia là đề cao vai trò của pháp luật và
chủ trương dùng pháp luật hà khắc để trị nước. Theo Hàn Phi Tử, thời
thế hoàn cảnh đã thay đổi thì phép trị nước không thể viện dẫn theo "đạo
đức" của Nho, "Kiêm ái" của Mặc, "Vô vi nhi trị" của Đạo gia như trước,
mà cần phải dùng Pháp trị. Hàn Phi đưa ra quan điểm tiến hóa về lịch sử,
ông cho rằng lịch sử xã hội luôn trong quá trình tiến hoá và trong mỗi
thời kỳ lịch sử thì mỗi xã hội có những đặc điểm dấu ấn riêng. Vì thế,
không có một phương pháp cai trị vĩnh viễn, cũng như không có một thứ
pháp luật luôn luôn đúng trong hệ thống chính trị tồn tại hàng ngàn năm.
Từ đó, ông đã phát triển và hoàn thiện tư tưởng Pháp gia thành một
đường lối trị nước khá hoàn chỉnh . Về mặt lý luận chính trị ông tiếp thu
điểm ưu trội của ba trường phái trong pháp gia: “pháp” (Quản Trọng,
Thương Ưởng), “thuật” (Thân Bất Hại), “thế” (Thận Đáo). Trong phép
trị nước, Hàn Phi Tử là người đầu tiên coi trọng cả ba yếu tố Thế, Thuật,
và Pháp. Ông cho rằng ba yếu tố đó phải thống nhất không thể tách rời
trong đường lối trị nước bằng pháp luật. Quan niệm về bản chất con người của Hàn Phi Tử.
Khi nhắc đến tư tưởng quản lý của một tác giả thì trước tiên chúng
ta cần xem xét quan niệm về bản chất con người của tác giả đó. Vì nó sẽ
ông, thế không liên quan với đạo đức và tài trí của con người. Bởi vì, 5
“hiền tài như vua Nghiêu nhưng khi chưa làm vua nói không ai nghe, bạo
tàn như vua Kiệt , nhưng vì là vua nên mọi người không dám trái lệnh.”
Vua là người có quyền uy tối cao. Điều đó thể hiện:
+ Vua là người duy nhất có quyền đề ra pháp luật. Chính vì vậy
vua phải được mọi người tôn kính, tuân theo triệt.
+ Vua phải nắm lấy quyền thưởng phạt. Chính sách thưởng phạt
là phương tiện cơ bản để nhà vua cai trị dân, qua đó giữ được Thế của
mình. Điểm thống nhất trong chính sách thưởng phạt của ông là: Thưởng
phạt phải chắc chắn, công bằng, nghiêm minh; thưởng phải hậu, phạt
phải nặng. “Trị tội thì không chừa cásc quan lớn, thưởng công bằng thì
không bỏ sót các dân thường…Hình phạt nặng thì người sang không dám
khinh kẻ hèn, pháp luật phân minh thì người trên được tôn trọng, không
bị lấn”(thiên Hữu Độ).
Như vậy, pháp luật và chính sách thưởng phạt luôn được Hàn Phi
đề cao khi nói về Thế và điều kiện để có được Thế “pháp luật công
bằng,thưởng phạt công minh,cho nên,đều sửa chữa được sai lầm của
người trên,trị được cái gian của kẻ dưới trừ được loạn, sửa được điều sai,
thống nhất đường lối của dân không gì bằng pháp luật”.
Xuất phát từ quan niệm bản chất con người là vì tư lợi nên chính
sách thưởng phạt có phần cực đoan song quan niệm về Thế của ông có
nhiều điểm sâu sắc mà trong hoạt động quản lý có thể ứng dụng. 2. Thuật
Thuật: là kĩ thuật quản lí và tâm thuật.
công, ban ơn cho dân. Khi họ khen ai hay chê ai thi phải xem xét thực sự
có thực tài hay không. Khi để tìm ra kẻ gian điều mấu chốt là ai được lợi
ở đây, động cơ là gì. Đại thần thì phải: “đối với những người hiền tài thì 7
bắt vợ con thân thích của họ làm con tim để uy hiếp, nếu là kẻ tham lam
thì cho họ tước lộc nhiều dùng để mua chuộc,nếu là kẻ gian tà, phải làm
cho họ khốn khổ bằng cách trừng phạt hoặc nếu không thì giết”
Thuật dùng người: Nguyên tắc cơ bản của thuật dùng người theo
Pháp gia gọi là thuyết hình danh - tức là muốn đánh giá một người hoặc
một sự vật thì phải xem xét sự thực đã làm (hình) và tên gọi công việc
(danh) có phù hợp hay không. Có ba khía cạnh, phương thức, phương
pháp:
Thánh ngôn: nghe ngóng, xem xét, khi nghe bề tôi thì vua phải
trầm mặc, lầm lì, không bày tỏ thái độ, không khen không chê, không để
lộ tình cảm của mình. Lời nói của bề tôi không được mâu thuẫn nhau. Bề
tôi phải đưa ra ý kiến rõ ràng. Lời nói phải thiết thực.
Tham nghiêm: khảo sát nhiều mặt để biết lòng bề tôi. Hỏi ý kiến
của nhiều người, xem xét việc đã làm. Cho họ ở gần mình để thấy được
nội tình. Dùng những điều mình biết rồi để tra khảo. Đưa ra nhiều ý kiến
khác nhau để xem ý kiên của kẻ dưới ra sao.
Thí chi giao chức: cho họ thử việc, dùng thực tiễn kiểm tra thực
lực của họ.
Có ba nguyên tắc:
Một giao họ việc nhỏ để làm lần lượt sẽ giao cho họ việc lớn
hơn.
Hai không cho kiêm nhiệm phải phân công rõ ràng mỗi người một
chức vụ.
đời đã thay đổi mà cấm lệnh không biến thì nước bị chia cắt. Cho nên
thánh nhân trị dân thì pháp luật theo thời mà đổi, cấm lệnh cũng với đời
mà biến”. Tính kịp thời của pháp luật với Hàn Phi không chỉ có ý nghĩa
chung chung mà rất cụ thể “Bậc vua chúa sáng trị nước thì dựa theo thời 9
tiết của năm mà làm ra của cải, tính thuế khóa sao cho giàu nghèo được
đều ”
Pháp luật phải công khai, dễ biết, dễ thi hành:
Về ý pháp luật công khai, trong thiên Hữu độ, Hàn Phi viết: “Pháp
luật rõ ràng thì người trên được tôn trọng mà không bị xâm lấn” và ông
phân tích rõ trong thiên Thủ đạo: “Pháp luật rõ ràng thì người hiền không
cướp của kẻ kém, người mạnh không thể hiếp kẻ yếu, người đông không
thể hung bạo với kẻ ít”.
Ông cho rằng pháp luật dễ hiểu, dễ biết: “Pháp luật không gì bằng
thống nhất và chắc chắn, khiến cho dân biết nó”. Trong thiên Bát Thuyết
ông còn viết: “Những điều mà những kẻ sĩ sâu sắc mới có thể hiểu được
thì không thể đưa ra làm lệnh, vì dân không phải tất cả đều sâu sắc” và
“Pháp luật gọn thì việc kiện tụng của dân ít đi”.
Pháp luật phải công bằng, bênh vực kẻ yếu và số ít:
Nhìn chung, pháp gia chủ trương mọi người đều bình đẳng trước
pháp luật. Hàn Phi viết: “Pháp luật phải công bằng thì quan lại không
làm điều gian” và trong thiên Thủ đạo ông viết: “ cho nên trị nước thì
phải minh định pháp luật, đặt ra hình phạt nghiêm khắc để cứu loạn cho
quần chúng, trừ họa cho thiên hạ, khiến cho kẻ mạnh không lấn kẻ yếu,
đám đông không hiếp đáp số ít, người già được hưởng hết tuổi trời, bọn
trẻ mồ côi được nuôi lớn, biên giới không bị xâm phạm, vua tôi thân
nhau, cha con bảo vệ nhau, không lo bị giết hay bị giặc cầm tù, đó cũng
làm yên được dân, đất nước được thịnh trị.
1.Thế - Pháp
Thế là điều kiện tất yếu tạo ra Pháp 11
Theo Hàn Phi, để có thể cai trị được đất nước thì vua phải có Thế-
quyền lực tối thượng, đó là điều kiện căn bản nhất của nhà lãnh đạo. Nhà
vua phải dựa vào Thế của mình để ban lệnh, buộc bề dưới phải nghe
theo. Bởi vì “hiền tài như vua Nghiêu nhưng khi chưa làm vua nói không
ai nghe, bạo tàn như vua Kiệt nhưng vì là vua nên mọi người không ai
dám không nghe theo” … “Kiệt làm thiên tử có thể khống chế cả thiên hạ
không phải vì ông ta hiền mà vì cái thế của ông ta nặng. Nghiêu là kẻ
thất phu không thể sửa nổi ba cái nhà không phải vì Nghiêu hư hỏng mà
vì thế của ông ta thấp” (Thiên Công Danh). Và cái Thế được thể hiện
thông qua việc nhà vua là người duy nhất có quyền ban hành pháp luật
và quyền nắm giữ thưởng phạt. Nhờ có Thế mà pháp luật ra đời và đi vào
cuộc sống. Mức độ hiệu quả thi hành của pháp luật đến đâu là do Thế của
nhà vua. Thế có cao, có vững thì sự thực thi pháp luật của bề dứơi mới
được triệt để tuân theo. Có pháp luật mà Thế yếu thì pháp luật cũng khó
được thi hành. Hàn phi viết: “nếu họ (tức vua) giữ pháp luật ở vào cái thế
thì trị an, nếu họ từ bỏ pháp luật, gạt bỏ cái thế thì loạn”. Như vậy, Thế là
điều kiện để tạo nên Pháp, để cho Pháp được thi hành theo đúng như
những gì nó được ban ra.
Pháp duy trì củng cố Thế
Nếu như Thế là điều kiện tạo ra Pháp thì Pháp là yếu tố để duy trì
vua luôn giữ được uy quyền - Thế của mình, tránh việc kẻ dưới nịnh hót,
dối trá.” Một mình tự chế ngự dân trong bốn bể, khiến cho kẻ thông minh
không gian trá được, kẻ miệng lưỡi không nịnh bợ được, kẻ gian tà
không biết dựa vào đâu được, dù kẻ ở xa ngoài ngàn dặm cũng không
dám đổi lời, kẻ thân cận như các lang trung cũng không dám che dấu cái
tốt, tô điểm cái xấu; như vậy từ các bề tôi tại triều tụ tập ở bên vua cho 13
tới những kẻ thấp hèn ở xa cũng không dám lấn nhau mà đều giữ chức
phận mình.” (thiên Hữu Độ).
Thế là điều kiện tất yếu để thực thi Thuật
Thuật là công cụ vua sử dụng để quản lý tầng lớp quan lại. Vậy
nên để sử dụng được Thuật thì trước hết vua phải có Thế. Nhà vua phải
nắm vững Thế -quyền uy, vị thế của mình thì mới có thể sử dụng Thuật.
Thuật ở đây là thuật dùng người và thuật trừ gian. Một người dù có
Thuật hay đến đâu mà không có quyền thế trong tay thì cũng không thể
thi hành những nội dung đó của Thuật. Vì vậy, Thế là điều kiện tất yếu
để thực thi Thuật. chỉ khi có thế thì mới có thể “nhà vua không giỏi mà
làm thầy những người giỏi, không khôn ngoan mà làm chuẩn mực cho sự
khôn ngoan. Bầy tôi vất vả mà nhà vua hưởng thụ sự thành công” (Thiên
Chủ đạo).
3.Pháp - Thuật
Pháp và Thuật thể hiện sự phân loại trong quản lý
Nếu như Pháp là công cụ để nhà vua cai trị đất nước thì Thuật là
cách thức để nhà vua thi hành Pháp.Tư tưởng của Hàn Phi có điểm mới
toán, mưu mô, bỏ việc bên trong mà nhờ cậy bên ngoài thì có thể mất
nước"(thiên XV: Vong Trưng). Trong thiên Định Pháp, Hàn Phi cũng có
đề cập: “…Như vậy tuy Thân Bất Bại mười lần khiến Hàn Chiêu hầu
dùng thuật, nhưng bọn gian thần vẫn có cách đưa ra lời dối trá. Cho nên
tuy dựa vào nước Hàn mạnh có vạn cỗ xe mà trong mười bảy năm vẫn
không hể đạt được địa vị bá vương. Như vậy tuy ở trên dùng thuật trị
nước nhưng có mối lo các quan không trau dồi pháp luật.” và “Thương
Quân tuy làm mọi cách tô vẽ cho pháp luật của mình nhưng bầy tôi lại 15
dùng nó một cách sai trái cho việc riêng của họ. Cho dù dựa vào cái cơ
sở của nước Tần mạnh trong mấy mươi năm vẫn không đạt đến đế
vương. Đó là mối lo pháp luật tuy được các quan chăm chỉ trau dồi
nhưng ở trên vẫn không có cái thuật trị nước”.
Như vậy, trong tư tưởng của mình, Hàn Phi Tử thấy được và đề
cao vai trò và mối quan hệ của ba yếu tố: Thế, Thuật, Pháp. Hàn Phi Tử
cho rằng Pháp và Thuật mà thiếu quyền lực để cưỡng bức thì cũng không
thể đảm bảo các bầy tôi phục tùng sự cai quản của vua. Cho nên Thế
cũng rất quan trọng. Thế phải đi đôi với Pháp và Thuật. Thế mà không có
Pháp dễ dẫn đến chuyên quyền, tiếm quyền, xã hội có nhiều bất công.
Thế cũng cần có Thuật để cai trị quần thần cho phải đạo, dùng người cho
chính xác, phù hợp, cư xử với dân cho đúng đạo, đúng mực.
Lần đầu tiên học thuyết cai trị của Pháp gia hội tụ đủ ba yếu tố:
Thế, Thuật và Pháp. Nó đánh dấu sự phát triển mới vượt bậc, là sự hoàn
thiện nhất so với trước đó của tư tưởng Pháp trị. Hàn Phi đã kế thừa và
phát triển ba yếu tố của các nhà Pháp gia đi trước: Thế của Thận Đáo,
Pháp của Quản Trọng và Thương Ưởng, Thuật của Thân Bất Hại để tạo
thành ba điểm sáng hội tụ trong một tư tưởng lớn duy nhất, đó là tư
tốt phải trừ họ. Muốn trừ họ mà không thương tổn danh tiếng của vua
hãy nên đầu độc họ hoặc dùng kẻ thù của họ để giết họ.
Ông đã đề cao quá mức vai trò của pháp luật, quyền thưởng
phạt, dùng những hình phạt quá hà khắc. Theo Hàn Phi, con người phải
vì pháp luật. Điều này không còn phù hợp với điều kiện hòa bình. Pháp
luật là do con người đề ra để phục vụ con người, pháp luật sinh ra phải vì
con người.
Hàn Phi tử là người tôn thờ, chủ trương chế độ quân chủ chuyên
chế. Ông đã sử dụng các phạm trù “thế”, “pháp”, “thuật” để tuyệt đối hóa
quyền lực của nhà vua. Hàn phi chủ trương pháp luật đề ra dành cho tất 17
cả mọi người “pháp luật diện tiền nhân nhân bình đẳng” (trước pháp luật
ai cũng như ai) nhưng chỉ duy trừ một người- người làm ra pháp luật,
nắm pháp luật, là vua.
Theo ông, nhà trị quốc (nhà vua) là hiện thân của quyền lực độc
đoán và độc hình. Tư tưởng này giúp củng cố và trở thành chỗ dựa vững
chắc cho chế độ quân chủ tập quyền.
Và do hạn chế của thời đại mà không thể xây dựng lý thuyết vững
chắc dựa trên quyền lợi của một ông vua. Vì lịch sử cho thấy rằng không
triều đại nào mà các ông vua không bị chế độ quan liêu, tha hóa làm cho
hư hỏng không sớm thì muộn chỉ là vấn đề thời gian.
Đồng nhất việc cai trị dựa trên pháp luật dựa trên việc cai trị bằng
thưởng phạt trong đó chủ yếu nhấn mạnh các hình phạt nghiêm khắc. Nội
dung của pháp luật trong tư tưởng pháp trị chủ yếu là các hình thức
thưởng phạt. Nhưng thưởng phạt(chế độ đãi ngộ, kỉ luật) chỉ là một phần
nội dung trong pháp luật. Ngoài ra pháp luật còn quy định nhiều nội dung
khác của đời sống như kinh tế, chính trị, xã hội, giáo dục,…
nhà nước, chính quyền thì chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép.
+ Pháp luật phải kịp thời “thánh nhân trị dân thì pháp luật theo
thời mà đổi cấm lệnh cũng với đời mà biến” (thuyết Tân Độ).
Qua các thời kỳ phát triển của đất nước để bắt kịp với yêu cầu đổi
mới khách quan thì Quốc Hội đã đang có những sửa đổi bổ sung Hiến
Pháp các văn bản pháp luật và dưới luật ban hành các nghị định, thông
tư hướng dẫn thi hành pháp luật để pháp luật thật sự đi vào đời sống và
phục vụ nhân dân.
+ Luật pháp đề ra sao cho dân dễ biết, dễ hiểu, dễ thi hành được
phổ biến đến mọi người “pháp luật không gì bằng thống nhất để cho dân
dễ hiểu” (Thiên Ngũ Đố). 19
Pháp luật hiện nay ban hành ra phải đơn nghĩa có tính xác thực về
mặt nội dung và cần có sự thống nhất về nội dung và hình thức. luật pháp
đang không ngừng được tuyên truyền phổ biến sâu rộng đến quần chúng
nhân dân thông qua nhiều kênh khác nhau như báo chí, truyền thông
truyền hình,…
+Pháp luật đề ra mang tính phổ biến. Những nội dung của pháp
luật ban ra phải có tinh ứng dụng phổ biến đối với mọi đối tượng trong
xã hội,để tất cả mọi người đều phải chấp hành đúng pháp luật,và có thể
sử dụng pháp luật như một công cụ để bảo vệ quyền lợi của mình khi cần
thiết.
2.Đối với quản lý
Tuy kỹ thuật hóa cai trị đến mức tinh vi nhưng Hàn Phi vẫn thừa
nhận yếu tố con người quyết định thành bại của quản lý. Các thuật cai trị
cơ bản trong quản lý là nguyên tắc sủ dụng quyền lực hợp lý và nguyên
tắc quyền hạn tương xứng với trách nhiệm. Cần phải tránh trường hợp
quyền lực chỉ tập trung rơi vào tay một người: lạm quyền, tiếm quyền rất
có thể có những quyết định quản lý sai lầm dẫn đến những hệ lụy rất lớn,
do vậy nhà quản lý cần biết chia sẻ quyền lực với cấp dưới một cách hợp
lý, nhưng không có nghĩa là bỏ rơi quyền lực .Thế giúp nhà quản lý đưa
ra được những quyết định quản lý những chính sách thưởng phạt đãi ngộ
với nhân viên và thực thi chúng.
+ Nhà quản lý thông qua pháp luật sử dụng những nội quy, quy
chế như một công cụ hữu hiệu sác bén trong quản lý. Chính “pháp” quy
định nhân viên (đối tượng quản lý) được làm gì?, không được làm gì? và
phải làm như thế nào?, từ đó nhân viên nhận thức được quyền hạn, trách 21
nhiệm của mình trong tổ chức để làm việc đúng chừng mực mà không
giám vượt quá quyền hạn hay xao lãng công việc.
+ Thuật mang những tư tưởng quản lý phù hợp với mọi trường
hợp. Đặc biệt là nội dung về vấn đề tuyển chọn người tài, khi dùng
người, giao công việc là phải “nhân tài năng mà giao cho chức quan,…
theo cái danh mà xét khả năng của quần thần”.(Thiên Lục phản). Điều
này có nghĩa khi giao việc phải dựa vào năng lực, khả năng của đối
tượng. Khi đánh giá phải dựa trên tiêu chí hiệu quả, mức độ hoành thành
công việc. “Thuật” chính là cách dùng người gồm “kỹ thuật” là kỹ thuật
tuyển chọn nhân tài, kiểm tra khả năng của đối tượng quản lý và “tâm
thuật” là biện pháp để chế ngự người dưới. Trong quản lý hiện đại thì
đây chính là cách thức sắp xếp tổ chức bố trí, bổ nhiệm nguồn nhân lực
vào những vị trí thích hợp với khả năng của đối tượng. Những chính sách
đãi ngộ (thưởng), khích lệ song song với đó là các hình thức kỷ luật răn
và sử dụng hợp lý tránh trường hợp lạm dụng.
Vì là ép buộc nên phương pháp này tuy cho hiệu quả nhanh nhưng
chỉ tồn tại trong thời gian ngắn,không lâu dài chỉ mang tính tức thời.Vậy
nên để đạt hiệu quả cao nhất trong quản lý chúng ta cần kết hợp với “đức
trị” để thu phục nhân tâm, việc này đòi hỏi tốn nhiều thời gian và công
sức. Qua đó tác động trực tiếp vào nhận thức của đối tượng từ đấy thay
đổi thói quen, hành vi đúng với mong muốn của chủ thể, và vì những
hành vi này do nhận thức của đối tượng mà có nên có thể tồn tại trong
thời gian tương đối dài và tương đối ổn định.
Từ đây có thể thấy “pháp trị” mang tính chiến thuật sử dụng trong
từng hoàn cảnh cụ thể, còn Đức trị mang tính chiến lược chủ yếu là tác
động kiểm soát từ bên trong bắt đầu từ nhận thức sau dần là thói quen
hành vi.
- Với đối tượng quản lý 23
Mối quan hệ “thế”, “pháp”,”thuật”cho đối tượng quản lý biết mình
ở vị trí nào quyền hạn trách nhiệm đến đâu, làm gì và không được làm gì,
phải chịu trách nhiệm trực tiếp với ai để từ đó làm đúng bổn phận của
mình.
VI.Kết luận
Tóm lại tư tưởng pháp trị của Hàn Phi với 3 phạm trù quan
trọng”thế”, “thuật”, “pháp”. Trong đó lấy pháp luật làm trung tâm, thế và
thuật là 2 yếu tố hỗ trợ quan trọng của nhà nước pháp trị.
Ông đã làm rõ mối quan hệ giữa “pháp”, “thuật”, “thế”. Qua đó ta
thấy rõ được tư tưởng chủ đạo trong quản lý là “pháp trị”. Chủ thể quản
lý cao nhất chinh là quân vương. Đối tượng quản lý là quan và dân.Vua
_dai.html
-
- o/forum/archive/index.php/t-11864.html 25
Trường Đại Học KHXH và NV,ĐHQGHN
Khoa Khoa Học Quản Lý
BÁO CÁO KẾT QUẢ THẢO LUẬN NHÓM
Đề tài nghiên cứu: Mối quan hệ Thế - Pháp -Thuật trong tư tưởng Pháp trị
của Hàn Phi Tử
1. Danh sách nhóm và công việc phân công
STT Họ và tên Nhiệm vụ được phân công Ghi chú
1. Lê Thị Hương Bối cảnh lịch sử
Làm phần Power Point
Làm biên bản họp nhóm