LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất tới Cô giáo - Lại
Trang Huyền, người đã hướng dẫn và chỉ bảo tận tình để em hoàn thiện khóa
luận này.
Em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Ban Giám hiệu, Phòng
đào tạo, khoa Lý luận chính trị, thư viện trường Đại học Tây Bắc đã luôn tạo
điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình nghiên cứu.
Cuối cùng, em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành nhất đến những người
thân trong gia đình, Thầy giáo chủ nhiệm và các bạn sinh viên lớp k50 Đại học
Giáo dục chính trị đã luôn ủng hộ, động viên giúp đỡ. Trong quá trình làm khóa
luận do những hạn chế về mặt thời gian và tài liệu nên không tránh khỏi thiếu
sót, kính mong các thầy cô và các bạn sinh viên đóng góp ý kiến để khóa luận
hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 05 năm 2013
Tác giả
Nguyễn Thị Nguyệt
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
CHDCND
Cộng hòa dân chủ nhân dân
MDGs
Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ
NXB
5. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................... 4
6. Cấu trúc của khóa luận ...................................................................................... 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ, QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TƯ
TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ
HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM ........................................................................ 5
1.1. Vị trí của vấn đề nhà nước trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh ................ 5
1.2. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam ................................................................................ 7
1.2.1. Cơ sở khách quan ........................................................................................ 7
1.2.2. Nhân tố chủ quan ...................................................................................... 19
1.3. Quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam .................................................. 22
1.3.1. Giai đoạn trước năm 1945 ........................................................................ 22
1.3.2. Giai đoạn 1945 - 1954 .............................................................................. 24
1.3.3. Giai đoạn 1954 - 1969 .............................................................................. 24
CHƯƠNG 2: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC
PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM ..................................... 27
2.1. Quan niệm của Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa
Việt Nam ............................................................................................................. 27
2.1.1. Nhà nước pháp quyền trước hết phải là một nhà nước hợp pháp và hợp
hiến, được nhân dân tổ chức thông qua tuyển cử, xây dựng và hoạt động theo
các nguyên tắc của hiến pháp ............................................................................. 27
2.1.2. Pháp luật của ta là pháp luật dân chủ, phải nghiêm minh và phát huy tính
hiệu lực thực tế .................................................................................................... 29
2.1.3. Sự thống nhất giữa quản lý xã hội bằng pháp luật với việc nâng cao giáo
dục đạo đức - Nét đặc sắc trong quan niệm Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp
quyền ................................................................................................................... 32
ta hiện nay ........................................................................................................... 48
3.3. Quan điểm đổi mới và sự vận dụng, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Đảng ta trong giai đoạn hiện
nay ....................................................................................................................... 52
3.3.1. Quan điểm của Đảng về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ............ 52
3.3.2. Vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa trong việc hoàn thiện Nhà nước ta hiện nay ................ 53
3.3.3. Những phương hướng xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa .......... 56
KẾT LUẬN ......................................................................................................... 65
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta đã tiến hành
các cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ, từng bước giành lại độc lập, tự do
cho dân tộc, đi lên chủ nghĩa xã hội. Sở dĩ đạt được những thắng lợi vĩ đại và vẻ
vang đó là nhờ sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng theo ngọn cờ chủ nghĩa
Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ kinh nghiệm lịch sử và từ yêu cầu
cấp bách của sự nghiệp đổi mới đất nước, Đại hội lần thứ IX (2001) của Đảng
một lần nữa khẳng định: Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt
Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống lý luận bao gồm nhiều lĩnh vực rất phong
phú, nhằm hướng dẫn toàn Đảng, toàn dân ta đấu tranh bảo vệ thành quả cách
mạng và lao động sáng tạo, xây dựng một nhà nước Việt Nam hòa bình, thống nhất
độc lập, dân chủ giàu mạnh và văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa là nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân là quan điểm tư
nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân và nhấn mạnh được vấn đề: Để nhà
nước thực sự của dân, do dân và vì dân Người chỉ rõ là phải xây dựng nhà nước
pháp quyền Việt Nam nhằm đem lại hiệu quả xã hội thực sự. Nhà nước pháp
quyền trước hết là một nhà nước hợp pháp và hợp hiến, được nhân dân tổ chức
nên thông qua tuyển cử, được xây dựng và hoạt động theo nguyên tắc của Hiến
pháp. Tuy nhiên, giáo trình chưa đi nghiên cứu sâu một số nội dung về sự vận
dụng của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay.
Cuốn “Tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước kiểu mới ở Việt Nam”
của nhà xuất bản đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã nêu nội dung, giá
trị tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước kiểu mới ở Việt Nam. Tuy nhiên
cuốn sách chưa chỉ rõ xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là nhiệm
vụ quan trọng trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ở Việt Nam
hiện nay.
Cuốn “Hồ Chí Minh - Người mang lại ánh sáng” của nhà xuất bản Thời đại
tạp chí Xưa và nay trong đó có bài viết của tác giả Vũ Đình Hòe đã bàn về nhà
nước pháp quyền trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Cuốn sách đã làm rõ cơ sở hình
thành tư tưởng của Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền.
Cuốn “Những vấn đề cơ bản về nhà nước và pháp luật xã hội chủ nghĩa”
của nhà xuất bản Chính trị - hành chính đã nêu các đặc trưng và phương hướng
xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo tư tưởng của Hồ
Chí Minh, nhưng chưa làm nổi bật lên nội dung nhà nước pháp quyền trong tư
tưởng của Người.
Cuốn “Tài liệu nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh”của nhà xuất bản Chính
trị quốc gia đã đề cập đến quyền làm chủ của nhân dân và xây dựng nhà nước
thực sự của dân, do dân và vì dân nhưng chưa đi nghiên cứu sâu nội dung tư
2
tưởng của Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền và chưa đề cập đến sự vận
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
3
3.4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ chủ yếu của người nghiên cứu là phân tích, tổng hợp, so sánh,
thống kê, đối chiếu để làm rõ nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, thấy được những thành tựu mà Đảng ta vận
dụng sáng tạo tư tưởng của Người về vấn đề nhà nước ở Việt Nam.
4. Đóng góp của khóa luận
Khóa luận góp phần làm sáng tỏ cơ sở, quá trình hình thành và phát triển tư
tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đặc
biệt đề tài thể hiện một cách sinh động và thiết thực sự vận dụng tư tưởng của
Hồ Chí Minh của Đảng ta về Nhà nước pháp quyền, cơ chế hoạt động, tổ chức
bộ máy, xây dựng đội ngũ cán bộ công chức của Nhà nước đó.
Bổ sung nguồn tư liệu về tư tưởng Hồ Chí Minh của dân tộc ta, góp phần
củng cố tri thức cho thế hệ trẻ về việc chấp hành quy định của nhà nước và pháp
luật, khơi dậy truyền thống yêu nước, lòng biết ơn và kính trọng đối với các thế
hệ đi trước, các anh hùng giải phóng dân tộc, làm tài liệu tham khảo học tập cho
sinh viên trường Đại học Tây Bắc.
5. Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu như sau: Phương pháp lịch
sử, phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê…
6. Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo… đề tài gồm 3
chương:
Chương 1: Cơ sở, quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí
Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Chương 2: Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền
cách mạng của giai cấp vô sản” [26, 47]. Nhà nước vô sản được xác lập bằng
con đường cách mạng. Không thể cải tạo bộ máy nhà nước bóc lột bằng con
đường tiến hóa trong khuôn khổ nhà nước cũ. Trong bức thư gửi Lubwing
Kugelmann ngày 12 - 4 - 1971, C.Mác đã viết: “Nếu anh còn lại chương cuối
cùng trong quyển “Ngày mười tám tháng Sương mù” của tôi, anh sẽ thấy tôi nói
rằng mục tiêu cách mạng sắp tới ở Pháp sẽ không nên là việc chuyển giao bộ
máy quân phiệt quan liêu từ tay kẻ này sang tay kẻ khác như trước nữa, mà là
đập tan bộ máy ấy” [25, 547]. Cách mạng vô sản phải đập tan bộ máy nhà nước
tư sản, thiết lập bộ máy nhà nước kiểu mới của giai cấp vô sản. Đối với kết luận
trên của Mác, V. I. Lênin cho rằng đó là vấn đề cơ bản của học thuyết Mácxít về
nhà nước. Đồng thời V. I. Lênin đã phát triển hơn nữa và cụ thể hóa kết luận đó.
V. I. Lênin đã soạn thảo ra cương lĩnh về việc đập tan bộ máy nhà nước tư sản
được áp dụng trong những điều kiện của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở thời kỳ
5
đế quốc chủ nghĩa. Các nhà kinh điển của chúng ta đã dày công nghiên cứu tìm
một mô hình nhà nước phù hợp với điều kiện cầm quyền của giai cấp vô sản.
Như vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra rằng nhà nước vô sản là vấn đề cơ bản
của cách mạng vô sản.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc, mà cuộc đời và sự
nghiệp của Người gắn liền với công cuộc cách mạng Việt Nam. Từ bến cảng
Nhà Rồng, Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước là tìm con đường cách mạng Việt
Nam trong hiện tại và tương lai. Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX
(2001) đã khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm toàn diện
và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự
vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của
nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp
thu tinh hoa văn hóa nhân loại” [8, 38].
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào
Cộng hòa, trực tiếp chỉ đạo, xây dựng nhà nước Việt Nam qua các giai đoạn
cách mạng khác nhau: kháng chiến chống Pháp, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
miền Bắc, đấu tranh thống nhất đất nước. Mô hình nhà nước Việt Nam được xây
dựng trên cơ sở tư tưởng Hồ Chí Minh đã phát huy hiệu quả tích cực trong sự
nghiệp cách mạng của dân tộc.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là một
hệ thống quan điểm rõ ràng, nhất quán, phù hợp với đặc điểm và truyền thống
Việt Nam, trên cơ sở của nền kinh tế Việt Nam và cơ cấu của xã hội Việt Nam
trong giai đoạn lịch sử. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa là một bộ phận cơ bản cấu thành hệ thống quan điểm của Người về
những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam.
1.2. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Xuất phát từ vị trí của vấn đề nhà nước trong tư tưởng Hồ Chí Minh, cơ
sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam bao gồm cơ sở khách quan và nhân tố chủ quan.
1.2.1. Cơ sở khách quan
Điều kiện lịch sử xã hội
Thực tiễn lịch sử Việt Nam
Giữa thế kỷ XIX, thực dân Pháp tiến hành xâm lược và đặt ách thống trị
của chúng lên dân tộc ta. Vua quan nhà Nguyễn đầu hàng thực dân Pháp, phản
bội truyền thống yêu nước quật cường và phong trào đấu tranh anh dũng liên tục
của các tầng lớp nhân dân ta. Tình cảnh đó đã đặt trước dân tộc Việt Nam câu
hỏi: Làm thế nào để đánh đuổi thực dân Pháp, giành chủ quyền cho đất nước,
đem lại hạnh phúc cho nhân dân?
Do đó, vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, nước ta đã xuất hiện những dòng
tư tưởng mới và các cuộc vận động cách mạng lớn và có mục đích chung là đánh
đuổi thực dân Pháp, giành độc lập dân tộc, tuy nhiên lại khác nhau về con đường
7
người nô lệ và đem lại cuộc sống mới cho đại đa số nhân dân lao động.
Trong thời điểm đó, “Nguyễn Tất Thành - một thanh niên mới mười lăm
tuổi đã sớm hiểu biết và đau xót trước cảnh thống khổ của đồng bào, lúc bấy giờ
Anh đã có chí đánh đuổi thực dân Pháp. Anh đã tham gia công tác bí mật, nhận
công việc liên lạc” [47, 15]. Tuy rất khâm phục nhưng không tán thành đường
lối cách mạng của họ, trong đó có vấn đề chính quyền nhà nước. Có thể thấy
rằng đây là lúc bắt đầu hình thành tư tưởng về một nhà nước độc lập, có chủ
8
quyền. Như vậy, việc Nguyễn Tất Thành không đồng tình với con đường cách
mạng của những nhà yêu nước đương thời, trong đó có vấn đề nhà nước, cho
thấy rằng, tuy chưa tìm ra một cơ sở lý luận toàn diện, nhưng bước đầu Người
đã nhận thấy nhà nước quân chủ chuyên chế, quân chủ lập hiến, cộng hòa dân
chủ kiểu tư sản không phù hợp với con đường cách mạng Việt Nam.
Năm 1923, trả lời phỏng vấn tạp trí “Ngọn lửa nhỏ” ở Liên Xô, đồng chí
Nguyễn Tất Thành đã giải thích quyết định của mình: “vào trạc tuổi mười ba,
lần đầu tiên tôi đã được nghe những từ ngữ tiếng Pháp, thế là tôi đã muốn làm
quen với văn minh Pháp, tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau từ ấy” [47, 15 16]. Không tán thành đường lối cách mạng của những nhà yêu nước đương thời,
Nguyễn Tất Thành quyết định tự mình ra đi tìm đường cứu nước. “Tôi muốn đi
ra nước ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm thế
nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào ta” [47, 16]. Trong những năm bôn ba hải ngoại,
với tên người yêu nước, Nguyễn Ái Quốc đã nhận thấy và tố cáo bộ mặt thật của
thực dân Pháp ở Việt Nam, trong đó thể hiện sự phản đối hình thức nhà nước
của chính quyền thuộc địa.
Với sự phủ nhận chính quyền thực dân Pháp ở Việt Nam, có thể thấy rằng
Nguyễn Ái Quốc không chấp nhận nhà nước tư sản, nhất là nhà nước thực dân
trong con đường cách mạng Việt Nam. Lúc này, trong tư tưởng Nguyễn Ái
Quốc, Việt Nam phải được độc lập và có chủ quyền, mô hình tổ chức Nhà nước
Việt Nam trong tương lai phải là một mô hình tổ chức nhà nước kiểu mới đối
bản tuyên ngôn độc lập trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Hồ
Chí Minh đề nghị một trong những nhiệm vụ cấp bách của nhà nước là: “trước
chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không
kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp. Nhân dân ta không được
hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ” [30, 8].
Có thể nói rằng Tuyên ngôn độc lập và Hiến pháp có quan hệ mật thiết với nhau.
Bộ trưởng Bộ Tư pháp đầu tiên của Việt Nam, ông Vũ Đình Hòe khẳng định:
“Hiến pháp 1946 gắn hữu cơ với Tuyên ngôn độc lập, trong mối quan hệ này
tuyên ngôn độc lập là cơ sở của Hiến pháp” [47, 32].
Tư tưởng hồ Chí Minh về một nhà nước độc lập tự chủ thống nhất cộng
hòa dân chủ nhân dân đã được thể chế hóa, Người khẳng định: Nước Việt Nam
là nước dân chủ cộng hòa. Đất nước Việt Nam là một khối thống nhất Trung Nam - Bắc không thể phân chia. Với hiến pháp năm 1946, tư tưởng Hồ Chí
Minh về hình thức nhà nước đã được cụ thể hóa đến từng chế định. Sau Hiến
pháp năm 1946, chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục cụ thể hóa tư tưởng của mình về
một nhà nước độc lập, tự chủ, thống nhất, cộng hòa dân chủ nhân dân trong các
bài viết, các bài phát biểu, các cuộc nói chuyện, trong chính thực tiễn hoạt động
xây dựng nhà nước của Người, trong các văn bản pháp luật mà Người đã ban
hành tổ chức.
Trước đây, Người đã từng nói “đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. Sông
có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi” [30, 246].
Trong điều kiện mới của cách mạng, hiến pháp 1946 đã hoàn thành sứ mệnh lịch
sử của mình. Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng: “nhưng so với tình hình mới và nhiệm
vụ cách mạng mời hiện nay thì nó không thích hợp nữa. Vì vậy, mà chúng ta
10
phải sửa đổi hiến pháp ấy” [35, 585]. Hiến pháp năm 1959, cũng do chủ tịch Hồ
Chí Minh chủ trì, soạn thảo, hiến pháp được ra đời để đáp ứng nhiệm vụ mới
của cách mạng. Bản hiến pháp này tiếp tục thể hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về
một nhà nước độc lập, tự chủ, thống nhất, cộng hòa dân chủ nhân dân. Báo cáo
Đặc điểm thời đại
11
Cuối thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản từ giai đoạn tự do
cạnh tranh đã chuyển sang giai đoạn tư bản độc quyền, tức giai đoạn đế quốc
chủ nghĩa. Sự hình thành chủ nghĩa đế quốc và hệ thống thuộc địa của chúng đã
làm nảy sinh một mâu thuẫn cơ bản của thời đại: mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đế
quốc với các dân tộc ở thuộc địa. Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc với
“sự thức tỉnh của châu Á” là một nét nổi bật của tình hình thế giới đầu thế kỷ
XX.
Thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và sự ra đời
của Nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới đã phá vỡ tính thống nhất của chủ
nghĩa tư bản thế giới, mở đầu cho thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư
bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, tạo ra mâu thuẫn cơ bản
xuyên suốt thời đại là mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội với chủ nghĩa tư bản.
Chính sự ra đời của nhà nước Xôviết và sau đó là Quốc tế cộng sản đã tạo điều
kiện cho phong trào cách mạng thế giới phát triển, trong đó có phong trào giải
phóng dân tộc các nước phương Đông, mở ra sự chuyển hướng của cách mạng
giải phóng dân tộc theo quỹ đạo của cách mạng vô sản.
Nguyễn Ái Quốc đã chỉ ra cho nhân dân ta thấy rằng cách mạng Việt Nam
không thể đi theo con đường cách mạng tư sản. Tìm hiểu cách mạng Mỹ, Người
nhận định: “Mỹ tuy rằng cách mạng thành công đã hơn 150 năm, nhưng công
nông vẫn cứ cực khổ, vẫn cứ lo cách mạng lần thứ hai. Ấy là vì cách mạng Mỹ
là cách mạng tư bản, mà cách mạng tư bản chưa phải là cách mạng đến nơi” [28,
270]. Người đánh giá: “Cách mạng Pháp cũng như cách mạng Mỹ, nghĩa là cách
mạng tư bản, cách mạng không đến nơi, tiếng là cộng hòa dân chủ, kỳ thực
trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa” [28, 274]. Cách
mạng đến nơi trong tư tưởng Nguyễn Ái Quốc là cách mạng vô sản theo kiểu
Cho đến những năm 60 của thế kỷ thứ XX, loài người cũng đã chứng kiến
sự phát triển vượt bậc của cách mạng khoa học và công nghệ, đưa tới những đổi
thay có tính cách mạng về năng lượng, vật liệu, về giao thông vận tải, thông tin
liên lạc, về công nghệ sinh học, v.v… Lực lượng sản xuất phát triển tới một
trình độ cao chưa từng thấy, làm cho nền sản xuất thế giới ngày càng được quốc
tế hóa cao và trở thành một thị trường có tính thống nhất rộng lớn.
Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong Báo cáo chính trị đọc tại Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ II của Đảng (tháng 2 - 1951), đã khái quát những nét lớn về nửa thế
kỷ XX như sau: “Năm mươi năm vừa qua có những biến đổi mau chóng hơn và
quan trọng hơn nhiều thế kỷ trước cộng lại. Trong 50 năm đó, đã có những phát
minh như chiếu bóng, vô tuyến điện, vô tuyến truyền hình cho đến sức nguyên
tử. Nghĩa là loài người đã tiến một bước dài trong việc điều khiển sức thiên
nhiên. Cũng trong thời kỳ ấy, chủ nghĩa tư bản từ chỗ tự do cạch tranh, đã đổi ra
độc quyền lũng đoạn, đã tiến lên chủ nghĩa đế quốc.
Trong 50 năm đó, đã có hai cuộc chiến tranh thế giới khủng khiếp nhất
trong lịch sử do bọn đế quốc gây ra. Đồng thời cũng do những chiến tranh đó mà
bọn đế quốc Nga, Đức, Ý, Nhật bị tiêu diệt; đế quốc Anh, Pháp bị suy đồi; tư
bản Mỹ thì nhảy lên làm trùm đế quốc, trùm phản động.
13
Quan trọng nhất là Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, Liên Xô,
nước xã hội chủ nghĩa thành lập, rộng một phần sáu thế giới và gần một nửa loài
người, đã tiến vào con đường dân chủ mới, những dân tộc bị áp bức lần lượt nổi
dậy chống chủ nghĩa đế quốc, đòi độc lập tự do” [32, 153].
Đó chính là một sự tổng kết ngắn gọn mà sâu sắc, bao quát được mặt cơ
bản của thời đại trong nửa đầu thế kỷ XX, từ sự phát triển của khoa học - công
nghệ, sức sản xuất đến đấu tranh giành giai cấp và cách mạng xã hội.
Như vậy, xuất phát từ đặc điểm thời đại đặc biệt là thắng lợi của cuộc
Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 là cơ sở để Nguyễn Ái Quốc chỉ ra cho
Mác - Lênin.
Chủ nghĩa yêu nước, truyền thống dựng nước và giữ nước cả dân tộc thấm
nhuần trong con người Hồ Chí Minh, là nhân tố thúc đẩy người ra đi tìm đường
cứu nước, đưa dân tộc thoát khỏi ách nô lệ thực dân, giành độc lập dân tộc, xây
dựng một mô hình nhà nước phù hợp với sự phát triển của xã hội Việt Nam.
Tư tưởng văn hóa Đông - Tây
Ngoài truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh còn chịu
ảnh hưởng và tiếp thu tinh hoa văn hóa phương Đông và phương Tây. Người đã
tiếp thu và kế thừa có chọn lọc tư tưởng chính trị dân chủ, nhân văn của văn hóa
Phục hưng của thời kỳ Ánh sáng, của cách mạng tư sản phương Tây và của cách
mạng Trung Quốc.
Hồ Chí Minh đã kế thừa và khai thác những yếu tố hợp lý trong tư tưởng
chính trị của Nho giáo khi kế thừa và vận dụng tư tưởng chính danh của Nho
giáo, Hồ Chí Minh đã loại bỏ tính chất duy tâm thiên mệnh khôi phục lại quan
hệ bình đẳng hai chiều tự nhiên trong quan hệ người với người. Người dạy rằng:
“dù là chủ tịch nước, bộ trưởng, công dân, nông dân bộ đội hay người phục vụ
nấu ăn, quét rác… đều là người tồi nếu không hoàn thành được nhiệm vụ của
mình, còn làm tốt hơn người khác thì đều là anh hùng, chiến sỹ thi đua là những
thánh nhân vậy” [40, 13].
Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người đã thấm nhuần các giá trị tiến bộ của tư
tưởng chính trị của Nho giáo, đã sớm chỉ ra cho chúng ta thấy sức mạnh của
nhân dân một nhà nước do dân: “Gốc có vững cây mới bền, xây lầu thắng lợi
trên nền nhân dân”. Người cũng đã từng dạy phải lấy dân làm gốc. Đó là sự kế
thừa các giá trị tiến bộ của các nhà tư tưởng đi trước. Người xưa chỉ mới nhận
thấy sức mạnh của nhân dân, nhưng chưa nhận thấy nhân dân là người chủ của
quyền cai trị, tức là quyền lực nhà nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh, trên cơ sở thấy
được sức mạnh to lớn của nhân dân, đã đi đến khẳng định rằng, nhân dân là
nguồn gốc của quyền lực nhà nước: “Nước ta là nước dân chủ, bao nhiêu lợi ích
đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân” [31, 299].
Như vậy trong nhà nước ta, nhân dân không những là một sức mạnh to lớn,
nói riêng; chỉ dừng lại ở những tư tưởng cổ truyền ấy, những bậc tiền bối của
phong trào giải phóng dân tộc đã không tìm ra con đường đúng đắn. Chỉ có Hồ
Chí Minh, người chứng kiến tận mắt thất bại của các bậc tiền bối mới nhìn ra
những hạn chế của tư tưởng cổ truyền và Người đã quyết định tìm tòi, nghiên
cứu, tiếp thu hệ tư tưởng mới.
Trong những năm học ở Trường Quốc học Huế, được làm quen với những
khẩu hiệu “Tự do - Bình đẳng - Bác ái” của Cách mạng tư sản Pháp, Hồ Chí Minh
đã có ý định sang phương Tây để tìm hiểu bản chất của tư tưởng đó. Người cho
biết: “Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: “Tự do,
Bình đẳng, Bác ái…Và từ thưở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp,
muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những chữ ấy” [24, 226]. Điều tìm thấy đã
được Người thể hiện trong tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp.
16
Trong ba mươi năm hoạt động cách mạng ở nước ngoài, Người đã lao động
và dừng chân ở nhiều nơi khắp các châu lục. Ở Mỹ (khoảng cuối năm 1912 đến
cuối năm 1913), Người đến Brúclin thăm khu da đen Háclem, đã chiêm ngưỡng
tượng Thần Tự do, đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập (1776) của nước Mỹ, trong
đó đề cập đến quyền bình đẳng, quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh
phúc của con người. Người phát hiện ra nghịch lý: đằng sau những lời hoa mỹ
về tự do, bình đẳng kia là sự bất bình đẳng và nghèo đói của hàng triệu người
lao động, là điều kiện sống khủng khiếp của người da đen - nạn nhân của sự
phân biệt chủng tộc. Ở Pháp, Người đã có dịp tiếp xúc với những tư tưởng chính
trị nhân văn tư sản, thoát thai từ thời kỳ Phục hưng, được thể hiện trong Tuyên
ngôn độc lập của nước Mỹ (1776) và Tuyên ngôn về nhân quyền và dân quyền
của Cách mạng tư sản Pháp (1789). Trong khi khẳng định và tiếp thu những giá
trị tư tưởng chân chính, những nhân tố nhân văn tiến bộ của cách mạng dân chủ
tư sản, nhất là tư tưởng Dân chủ - Tự do - Bình đẳng - Bác ái, tư tưởng giải
thành lập Đảng Cộng sản Pháp và đứng hẳn về lập trường Quốc tế cộng sản.
Qua tìm hiểu và học tập các tác phẩm của Lênin và của Mác, Người tìm
thấy con đường giải phóng dân tộc đúng đắn. Người nói: “Từng bước một, trong
cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác - Lênin, vừa làm công tác thực tế,
dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải
phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi
ách nô lệ” [36, 128] và “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con
đường nào khác con đường cách mạng vô sản” [35, 314]. Từ đó mục tiêu của
cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam được xác định đúng đắn là độc lập dân
tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Tư tưởng Hồ Chí Minh từ đó, thuộc hệ tư
tưởng của giai cấp vô sản, mang tính cách mạng, khoa học và nhân văn.
Chính thế giới quan và phương pháp luận Mác - Lênin đã giúp Hồ Chí
Minh tổng kết kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn của loài người để tìm ra con
đường cứu nước đúng đắn. Trong tác phẩm Đường Cách Mệnh, khi phân tích
các chủ nghĩa, các học thuyết, Người viết: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa
lắm, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ
nghĩa Lênin” [28, 268]. Và tổng kết kinh nghiệm thắng lợi của cách mạng Việt
Nam, Người cũng chỉ rõ: chúng ta giành được thắng lợi đó trước hết là nhờ cái
vũ khí không gì thay thế được là chủ nghĩa Mác - Lênin. Chủ nghĩa Mác - Lênin
là cái cẩm nang thần kỳ của chúng ta.
Hồ Chí Minh không chỉ vận dụng mà còn phát triển một cách sáng tạo lý
luận Mác - Lênin. Đối với Người, việc học tập chủ nghĩa Mác - Lênin trước hết
là phải nắm cái cốt lõi, linh hồn sống của nó - phép biện chứng, phải học tập
theo tinh thần của chủ nghĩa Mác - Lênin; dựa trên lập trường, quan điểm và
phương pháp do chủ nghĩa Mác - Lênin đề ra để giải quyết những vấn đề thực tế
trong công tác cách mạng của chúng ta. Chân lý là cụ thể, cách mạng là sáng tạo
điều đó luôn thể hiện trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Có thể khẳng định: tư tưởng
Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác - Lênin là nguồn gốc chủ yếu của tư tưởng Hồ
Chí Minh.
Lý luận Mácxít về nhà nước cách mạng vô sản là cơ sở để Người đánh giá,
nước, một mô hình nhà nước phù hợp với điều kiện thực tế Việt Nam sau khi
giành được chính quyền.
Đến các nước Pháp, Anh, Mỹ, Người để tâm sức nghiên cứu Tuyên ngôn
độc lập của nước Mỹ (1776), trong đó đề cập tới “quyền bình đẳng”, “quyền
sống”, “quyền tự do”, “quyền mưu cầu hạnh phúc”… của con người, đặc biệt là
quyền nhân dân kiểm soát chính phủ.
Thời gian ở Pháp, Người tìm hiểu cách mạng tư sản Pháp (1789), tìm hiểu
những tư tưởng của ban tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền, về Tự do - Bình
đẳng - Bác ái, tư tưởng nhân văn giải phóng con người, Nguyễn Ái Quốc khẳng
19
định những giá trị tích cực, tiến bộ của cuộc cách mạng Pháp, Mỹ, đồng thời
đánh giá những hạn chế của hai cuộc cách mạng này.
Trong khi nghiên cứu xem xét các cuộc cách mạng lớn trên thế giới, Hồ
Chí Minh đánh giá cao cuộc cách mạng vô sản, cách mạng Tháng Mười Nga
năm 1917. Người cho rằng, đây là cuộc cách mạng triệt để, đưa lại quyền lợi
thực sự cho nhân dân, nhân dân có quyền làm chủ nước nhà. Cách mạng Việt
Nam nên đi theo con đường của Cách mạng tháng Mười Nga.
Sống và hoạt động chủ yếu ở trung tâm văn minh châu Âu và nguồn tinh
hoa cách mạng tư sản, Nguyễn Ái Quốc đủ thời gian và điều kiện nhận những gì
cần thiết cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc mình và phục vụ dân tộc khác
cùng cảnh ngộ. Một vốn tri thức sách vở đồ sộ, những cuộc khảo nghiệm thực tế
phong phú đã làm giàu thêm vốn văn hóa phương Đông, phương Tây trong con
người Nguyễn Ái Quốc. Những chuyến dài ngày gần như vòng quanh thế giới
đã thực sự mang lại cho Hồ Chí Minh những tri thức, kinh nghiệm, sự hiểu biết
lịch sử, tình cảm hữu ái giai cấp, sự thông cảm sâu sắc khi chứng kiến cảnh khổ
cực của người lao động dưới sự áp bức, bóc lột dã man, vô cùng nhân đạo của
những kẻ thống trị. Mặt khác, trong những cuộc tiếp xúc, gặp gỡ của Hồ Chí
Minh với các nhà văn, nhà báo, nhà hoạt động chính trị xã hội có danh tiếng lúc