Tư tưởng phân quyền và sự vận dụng trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa việt nam - Pdf 31

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGUYN TH HUYN

TƯ TƯởNG PHÂN QUYềN Và Sự VậN DụNG
TRONG QUá TRìNH XÂY DựNG NHà NƯớC PHáP QUYềN
Xã HộI CHủ NGHĩA VIệT NAM
Chuyờn ngnh: Lớ lun v lch s nh nc v phỏp lut
Mó s: 60 38 01 01

LUN VN THC S LUT HC

Cỏn b hng dn khoa hc: GS. TS. HONG TH KIM QU

H NI - 2014


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công
trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo
tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn
học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của
Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi
có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Thị Huyền

1.3.

Giá trị, ý nghĩa của tư tưởng phân quyền ...............................................55

Chương 2: TỔ CHỨC QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM QUA
CÁC BẢN HIẾN PHÁP VÀ SỰ KẾ THỪA NHỮNG HẠT NHÂN
HỢP LÝ CỦA NGUYÊN TẮC PHÂN CHIA QUYỀN LỰC ...................57
2.1.

Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà
nước pháp quyền .....................................................................................57

2.2.

Tổ chức quyền lực Nhà nước ở Việt Nam qua các bản hiến pháp .......67

2.2.1.

Hiến pháp 1946 ...........................................................................................67

2.2.2.

Hiến pháp 1959 ...........................................................................................71

2.2.3.

Hiến pháp 1980 ...........................................................................................75

2.2.4.


1. Tính cấp thiết của đề tài
Phân quyền là một trong những lý thuyết chính trị - pháp lý có ý nghĩa hết
sức quan trọng cả trong tư tưởng và thực tiễn chính trị thế giới. So với các tư tưởng
chính trị trong chế độ chuyên chế độc tài, lý thuyết phân quyền được coi là tư tưởng
thời đại, đánh dấu sự chuyển biến từ việc sử dụng “quyền lực dã man” trong các xã
hội chuyên chế sang việc thực thi quyền lực văn minh trong xã hội dân chủ. Sự hình
thành và phát triển của lý thuyết này gắn liền với quá trình đấu tranh cho bình đẳng,
tự do và tiến bộ xã hội, hướng đến xác lập các mối quan hệ cơ bản giữa pháp luật và
quyền lực, cá nhân và cộng đồng, công dân và nhà nước nhằm đảm bảo tính hiệu
quả cao nhất của việc thực thi quyền lực. Chính vì vậy, phân quyền được coi là một
tất yếu khách quan trong các nhà nước dân chủ, là điều kiện đảm bảo cho những giá
trị tự do được phát huy, là tiêu chí đánh giá sự tồn tại và phát triển của nhà nước
pháp quyền, nơi chủ quyền nhân dân giữ vai trò tối thượng. Tư tưởng phân quyền
được bàn đến rất sớm trong lịch sử tư tưởng chính trị phương Tây.
Ngay từ thời cổ đại, Aristote (384-322 tr.CN) đã chia hoạt động của nhà
nước thành ba thành tố: nghị luận, chấp hành và xét xử. Các thành tố này, lúc đầu,
được mô tả một cách giản đơn về mặt cấu trúc, chức năng và thẩm quyền, những
khía cạnh có tính đơn biệt của việc tổ chức quyền lực nhà nước, chứ chưa chỉ rõ
phương thức vận hành cũng như mối quan hệ bên trong giữa các thành tố đó. Tuy
có nguồn gốc sâu xa trong lịch sử, tư tưởng về phân quyền chỉ trở thành một lý
thuyết toàn diện và độc lập trong thời kỳ Khai sáng. Người khai sinh ra lý thuyết
này là triết gia người Anh, John Locke (1632-1704) và người có đóng góp lớn nhất
trong việc phát triển nó một cách hoàn chỉnh là nhà luật học người Pháp S.
Montesquieu (1689-1755). Tư tưởng này đã được thể hiện và áp dụng trong việc tổ
chức bộ máy nhà nước của nhiều nước trên thế giới ở các mức độ khác nhau, được
ghi nhận một cách trang trọng trong các bản Tuyên ngôn và Hiến pháp của một số
nước. Thậm chí có nước đã coi phân quyền là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức bộ máy

1


văn thạc sĩ của mình.

2


2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước và nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa là những vấn đề thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều cơ quan và các
nhà khoa học từ trước đến nay đặc biệt trong thời kỳ đổi mới đất nước, xây dựng và
hoàn thiện Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân.
Vấn đề này được nhiều tác giả đề cập đến ở những khía cạnh và mức độ
khác nhau, thể hiện trong các công trình nghiên cứu, bài viết đăng trên các báo,
tạp chí và là đề tài của nhiều luận án, luận văn luật học, các công trình nghiên
cứu đó có thể kể đến như:
- Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, TS Trần Hậu Thành, Nxb Lý luận chính
trị, Hà Nội, năm 2005.
- Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước với việc tổ chức bộ máy nhà nước
ở một số nước, TS Nguyễn Thị Hồi, Nxb Tư pháp, Hà Nội, năm 2005.
- Thuyết " Tam quyền phân lập " và bộ máy nhà nước tư sản hiện đại, Viện
khoa học xã hội Việt Nam, Viện thông tin khoa học xã hội, Hà Nội, năm 1992.
- Về " phân cấp, phân quyền - cải cách hành chính và tự quản " tại Cộng hoà
Liên bang Đức, Đặng Quốc Tiến, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, số 8/2004.
- Xây dựng Nhà nước pháp quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng, LS Nguyễn
Văn Thảo, Nxb Tư pháp, Hà Nội, năm 2006.
- Phân cấp quản lý giữa chính quyền Trung ương và chính quyền địa phương
ở Philippine, ThS Nguyễn Thị Minh Hà, Tạp chí Tổ chức nhà nước số 4/2002.
- Phân quyền và tản quyền trong tổ chức và quản lý hành chính ở Pháp, Trần
Đại Thắng, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 2/1996.
Nhìn chung các công trình nghiên cứu khoa học của tập thể và cá nhân, các

- Luận văn cung cấp một cách có hệ thống tiến trình hình thành và phát triển
tư tưởng phân quyền. Trong các tiến trình ấy, tác giả luôn có những lập luận, đánh
giá về những điểm tiến bộ, hạn chế trong tư tưởng phân quyền của các nhà tư tưởng,
cũng như trong các giai đoạn phát triển của lịch sử;
- Luận văn đã có những nghiên cứu và chỉ ra được một cách có hệ thống sự
biểu hiện của tư tưởng phân quyền trong các phương thức tổ chức quyền lực ở Việt
Nam qua các bản Hiến pháp, đồng thời chỉ rõ những nguyên nhân cơ bản của những

4


thay đổi theo hướng tăng cường hay hạn chế áp dụng các hạt nhân hợp lý của tư
tưởng phân quyền trong tổ chức quyền lực nhà nước qua các bản Hiến pháp.
7. Ý nghĩa của luận văn
- Luận văn góp phần vào việc nhận thức rõ hơn ý nghĩa và giá trị của tư
tưởng phân chia quyền lực trong lịch sử để từ đó có thể vận dụng những hạt nhân
hợp lý của nó trong công cuộc xây dựng Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay.
- Các giải pháp đề xuất trong luận văn có thể được nghiên cứu vận dụng
trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam.
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu nghiên cứu, giảng dạy tại các trường, lớp,
trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.
8. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được
kết cấu gồm 2 chương, 6 tiết.

5


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT

thành trung tâm chú ý của tất cả các nhà tư tưởng chính trị tiến bộ của loài người từ
khi nhà nước ra đời tới nay. Vì thế, trong các tư tưởng chính trị, vấn đề hình thức tổ
chức và thực hiện quyền lực nhà nước bao giờ cũng là vấn đề trọng tâm, cơ bản và
quan trọng nhất. Hình thức ấy được gọi bằng những cái tên rất khác nhau. Platon
(427-374 tr. CN) gọi đó là những hình thức chính trị, Aristote (384-322 tr. CN) gọi
nó là hình thức chính phủ, Bertrand Russell gọi là hình thức chính quyền, còn chúng
ta gọi nó là hình thức chính thể.
Trong các nhà nước có hình thức chính thể khác nhau, cách thức thực hiện
quyền lực nhà nước rất khác nhau. Ở các nước quân chủ chuyên chế, toàn bộ quyền
lực cao nhất của nhà nước từ lập pháp, hành pháp đến tư pháp đều tập trung trong
tay nhà vua. Vua được mệnh danh là Thiên tử nên quyền lực của vua là vô hạn, là
tối cao và bất khả xâm phạm. Mọi mệnh lệnh, chiếu chỉ, ý chỉ, thậm chí khẩu dụ của
nhà vua đều có giá trị bắt buộc phải tuân theo, đều là pháp luật nên pháp luật chủ
yếu là sự thể hiện ý chí của nhà vua. Các quan chức nhà nước - những người tổ
chức thực hiện các mệnh lệnh, chiếu chỉ của nhà vua đều do vua cắt cử và bãi chức.
Vua cũng là vị quan tòa tối cao để phán xử các vụ án quan trọng nhất. Việc làm của
các quan chức và của thần dân có thể được vua xem xét đúng sai, tùy công mà vua
thưởng, vua ban lộc, tùy tội mà vua quyết định hình phạt. Khi vua "băng hà", quyền
lực của vua phải được truyền kế một cách nghiêm ngặt theo trật tự "cha truyền con
nối", để đảm bảo sự dài lâu của vương triều, của "cơ nghiệp tổ tông". Ở những nước
quân chủ hạn chế, quyền lực của vua bị hạn chế bởi các thế lực khác nhau (cơ quan
đại diện của các đẳng cấp, nghị viện hoặc hiến pháp) và trong những lĩnh vực nhất
định. Nếu như trong chính thể Quân chủ Đại diện đẳng cấp, vua chỉ phải tham khảo
ý kiến của cơ quan đại diện đẳng cấp khi tăng thuế, thay đổi luật hoặc ban hành luật
mới thì trong chính thể Quân chủ Nhị hợp, quyền lực của vua bị hạn chế trong lĩnh
vực lập pháp (quyền lập pháp thuộc về nghị viện) và tư pháp (quyền tư pháp thuộc
về tòa án), song lại được mở rộng trong lĩnh vực hành pháp. Vua vừa đứng đầu
quốc gia, vừa đứng đầu chính phủ, nắm toàn quyền hành pháp. Các bộ trưởng do
vua bổ nhiệm và bãi nhiệm, chịu trách nhiệm trước vua nên được coi là bộ trưởng


nước thuộc về một cá nhân hoặc một cơ quan và cá nhân hoặc cơ quan ấy có thể chi
phối sự hình thành và hoạt động của các chức vụ nhà nước hoặc các cơ quan nhà

8


nước khác. Còn phân quyền có nghĩa là quyền lực nhà nước được phân tách thành
các loại lập pháp, hành pháp, tư pháp và được phân chia cho các cơ quan nhà nước
khác nhau, cơ quan này thực hiện quyền lực lập pháp, cơ quan kia thực hiện quyền
lực hành pháp và quyền lực tư pháp thì được trao cho cơ quan thứ ba. Các cơ quan
ấy có thể chung hoặc không chung nhân viên với nhau, ngang bằng nhau và khá độc
lập với nhau hoặc phụ thuộc nhau ở một mức độ nhất định, có thể chịu trách nhiệm
trước nhau, trong hoạt động có thể kiềm chế, kiểm soát thậm chí đối trọng với nhau
song lại phối hợp với nhau để tạo nên sự thống nhất của quyền lực nhà nước.
Xem xét lịch sử của nhà nước ta thấy, từ khi nhà nước ra đời đến nay, cách
thức tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước có sự biến đổi rất lớn. Một trong
những nguyên nhân dẫn đến điều đó là do sự trăn trở trong tư duy của loài người
nhằm tìm kiếm một mô hình tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước thích hợp để
có thể phát huy những tác động tích cực và giảm thiểu đến mức thấp nhất những tác
động tiêu cực của nhà nước đối với xã hội. Sở dĩ loài người luôn phải trăn trở, tìm
kiếm mô hình đó vì thuở mới ra đời, nhà nước có công rất lớn trong việc cứu nhân
loại thoát khỏi thảm họa của sự tàn sát lẫn nhau, khái nguy cơ của sự tuyệt chủng.
Nhưng trong quá trình tồn tại của mình, nhà nước đã có thời kỳ bị tha hóa nghiêm
trọng, làm cho nó từ một tổ chức xuất hiện do nhu cầu khách quan của sự tổ chức và
quản lý xã hội có giai cấp nhằm duy trì sự tồn tại của một cộng đồng thành công cụ
đắc lực và hữu hiệu để phục vụ lợi ích và quyền thống trị của một cá nhân hoặc một
nhóm người trong xã hội, thành công cụ đàn áp, nô dịch đại đa số nhân dân lao
động, gây ra cho họ và cho toàn nhân loại biết bao khổ đau và bất hạnh, dẫn đến
những bi kịch của lịch sử. Tuy vậy, nhà nước vẫn cần thiết và ngày càng cần thiết
đối với xã hội cho đến khi nó bị tiêu vong theo quan điểm của Mác. Vì thế, những

cụ thể trong phần dưới đây.
1.2.1. Tư tưởng phân quyền trong thời kỳ cổ đại

1.2.1.1. Tư tư ở ng phân quyề n trong tổ chứ c bộ

máy Nhà

nư ớ c Hy Lạ p, La Mã
Ở Hy Lạp, mầm mống của tư tưởng phân quyền trước tiên được thể hiện qua
những cải cách bộ máy Nhà nước Athenes của Ephialtes (Thế kỷ V tr. CN) và
Pericles (495-429 tr. CN).

10


Trong lịch sử hình thành Athenes có thời kỳ Thành bang này do nhà độc tài
Peisistratus cai trị, ông ta nắm mọi quyền hành. Tới đời các con ông ta, chế độ này
bị sụp đổ và nhân dân giành được quyền tự trị thông qua các hội nghị công dân,
song quý tộc thị tộc vẫn là tầng lớp có thế lực nhất về chính trị và kinh tế. Bộ máy
nhà nước gồm ba bộ phận chủ yếu là: Hội đồng quý tộc hay Hội đồng trưởng lão,
Quan chấp chính và Hội nghị công dân. Nền dân chủ này đã được củng cố và mở
rộng thêm nhờ những cải cách của Solon vào năm 549 tr. CN và của Clisthenes vào
năm 508 tr. CN. Nhờ thế, bộ máy nhà nước Athenes đã có thêm các cơ quan mới
như: Hội đồng nhân dân, Tòa án nhân dân, Hội đồng 10 tướng lĩnh, song quyền lực
nhà nước vẫn chủ yếu tập trung trong tay Hội đồng trưởng lão, quyền hành của các
hội nghị công dân bị hạn chế bởi cơ quan này.
Đến Thế kỷ thứ V tr. CN, chính quyền ở Athenes về tay những người dân chủ
cấp tiến nhất mà đứng đầu là Ephialtes. Ông nổi tiếng là "một nhà chính trị trung
thành với Tổ quốc và cương trực không ai mua chuộc được" (Aristote). Xuất thân từ
một gia đình quý tộc bị phá sản, sống gần gũi với quần chúng, ông trở thành người

không ai có quyền tham gia Hội đồng quá hai năm nên mỗi công dân đều có hy
vọng tham gia Hội đồng một lần trong đời mình, để lần lượt vừa là người thống trị
vừa là người bị thống trị.
Quyền tư pháp thuộc về Tòa án nhân dân gồm 6000 người do tất cả các bộ
lạc bầu ra hàng năm để vừa làm thẩm phán, vừa làm bồi thẩm. Mỗi lần cần xử một
vụ án thì họ lại bắt thăm để chọn lấy một số thẩm phán. Ngoài ra còn có Hội đồng
10 tướng lĩnh do 10 bộ lạc cử ra. Hội đồng này lúc đầu chỉ nắm quyền chỉ huy quân
sự. Người chỉ huy tối cao do 10 tướng lĩnh luân phiên đảm nhiệm. Về sau Hội đồng
này nắm cả quyền hành chính cao nhất của nhà nước và thành viên của nó có thể
được tái cử lại nhiều lần (chẳng hạn Pericles được bầu đi bầu lại trong 30 năm
nhưng mỗi năm ông lại phải ra ứng cử một lần). Như vậy, bằng cải cách của mình,
Ephialtes đã thực sự chia tách quyền lực nhà nước thành ba loại quyền lực và trao
cho các cơ quan dân cử khác nhau thực hiện để bảo đảm quyền lực thuộc về nhân
dân, chống lại sự tập trung quyền lực vào tay một chủ thể. Từ đó có thể coi ông là
một trong những người đầu tiên đặt nền móng cho tư tưởng phân quyền. Rất không
may là Ephialtes thực hiện cải cách chưa được bao lâu thì bị bọn quý tộc thù địch
ám sát. Sau khi ông mất, phái Dân chủ vẫn tiếp tục nắm quyền mà đại diện là

12


Pericles – một nhà chính trị và nhà hùng biện có tài, "là người siêu việt nhất của
Athenes, người thứ nhất về mọi cái và về nói và hành động" [29, tr.33].
Năm 461 tr. CN, khi lên cầm quyền Pericles đã tiếp tục một cách xuất sắc cải
cách của Ephialtes theo chiều hướng củng cố và mở rộng nền dân chủ Athenes. Ông
vận động ban hành quy định mới về việc lựa chọn các chức vụ nhà nước, theo đó,
trừ chức Tướng quân, các chức vụ lớn nhỏ khác đều được bổ nhiệm bằng cách bốc
thăm. Theo ông, bằng phương pháp đó, bất cứ công dân Athenes nào, không phân
biệt dòng họ, giàu nghèo, sang hèn đều có khả năng được cắt cử giữ bất cứ một
chức vụ nào trong nhà nước, có như vậy họ mới thật sự hoàn toàn bình đẳng và còn

tương tự như ở Athenes. Trong thời gian đó, để tránh sự tái diễn các chế độ bạo
quyền mà họ đã phải chịu đựng dưới các triều đại vua chúa, nhất là thời kỳ dưới
quyền độc đoán của vị Vua "Tarquin kiêu ngạo", sau khi ông ta bị lưu đày vào năm
509 tr. CN, người La Mã đã xây dựng nền cộng hòa và áp dụng phương pháp chia
quyền và phân quyền. Họ thiết lập một Hiến pháp trong đó quyền hành được phân
chia một cách khéo léo. Thay vì có một hội nghị công dân thì nay có tới ba hội nghị
với các chức năng và quyền lực khác nhau. Một là Hội nghị Bào tộc (qui-ri) là đại
hội của quý tộc, không có vai trò chính trị quan trọng, có nhiệm vụ giao quyền lực
cho các quan tư pháp tối cao và giải quyết những vấn đề thuộc luật lệ gia đình. Hai
là Hội nghị Xăng-tu-ri là hội nghị theo đơn vị quân đội của các đẳng cấp, có quyền
hành rất lớn như giải quyết các vấn đề chiến tranh và hòa bình, bầu các chức quan
cao nhất của nhà nước. Ba là Hội nghị nhân dân các bộ lạc theo khu vực, giải quyết
những vấn đề về luật pháp. Đó là đại hội mang nhiều tính chất dân chủ nhất, nhưng
lại bị bọn quan lại cao cấp khống chế, vì thế nó không được quyết định những vấn
đề quan trọng của nhà nước.
Loại cơ quan thứ hai trong bộ máy Nhà nước La Mã là Viện nguyên lão - cơ
quan có quyền lực quyết định - gồm những quý tộc giàu sang có thế lực đã từng nắm
giữ những chức quan cao cấp. Cơ quan này có quyền phê chuẩn các quan lại tối cao
mới được bầu ra, quản lý tài sản của nhà nước, đề ra và chỉ đạo thực hiện chính sách
đối nội, đối ngoại, trông coi các công việc tôn giáo.
Bộ phận thứ ba của Nhà nước La Mã là các chức quan cai trị. Chức vị cao
nhất trong hàng quan lại là hai viên quan chấp chính (còn gọi là Thượng phán
quan). Thay vì có một Thượng phán quan trước đây thì nay có hai Thượng phán

14


quan có quyền lực ngang nhau và có thể kiểm soát lẫn nhau. Các quan chấp chính
này do hội nghị Xăng-tu-ri bầu ra và được giữ chức vụ trong một năm. Họ có quyền
rất lớn về quân sự và dân chính, là tổng chỉ huy quân đội, có quyền triệu tập Hội

... có ba bộ phận trong tất cả các nhà nước mà một nhà lập pháp
có trách nhiệm phải cân nhắc thật kỹ vì chúng có tầm quan trọng rất lớn
đối với tất cả mọi người và chúng hết sức cần thiết để làm cho nhà nước
hạnh phúc, tùy theo sự thay đổi của chúng mà làm cho nhà nước này sẽ
khác với nhà nước khác. Thứ nhất trong những bộ phận đó là Hội nghị
nhân dân, thứ hai là các viên chức của nhà nước, đó là những người phải
được giao phó cho một quyền lực nào đó và phải được bổ nhiệm theo
một cách thức nào đó, thứ ba là cơ quan tòa án [43, tr. 132].
Ở đoạn khác ông khẳng định rằng trong một số nhà nước, các công dân có thể
được tham gia vào cả ba bộ phận của chính phủ, đó là Hội nghị nhân dân, hành pháp
và xét xử (có thể thấy từ "chính phủ" Aristote dùng ở đây đồng nghĩa với từ "nhà
nước" hiện nay). Không chỉ chia tách ba bộ phận, Aristote còn trình bày về cách thức
hình thành, chức năng, thẩm quyền, thành viên, cơ cấu của từng bộ phận và khái quát
về mối quan hệ giữa chúng.
Về bộ phận thứ nhất, hay còn được gọi là Hội nghị nhân dân, được ông chỉ
các chức năng là: "quyết định về vấn đề chiến tranh và hoà bình, lập ra hoặc phá vỡ
những liên mình, ban hành các đạo luật, những án tử hình, đi đày hoặc tịch thu tài
sản và yêu cầu các pháp quan giải thích về cách xử sự của họ trong thời gian giữ
chức vụ" [19]. Nói theo ngôn ngữ ngày nay thì Hội nghị nhân dân này nắm quyền
lập pháp và quyết định những vấn đề quan trọng nhất của quốc gia. Số lượng, cách
thức lựa chọn các thành viên và quyền hạn của Hội nghị công dân có liên quan tới
hình thức nhà nước: ở chế độ dân chủ mọi công dân đều được tham gia Hội nghị nhân
dân và có quyền quyết định mọi vấn đề trọng yếu của đất nước; chế độ đầu sỏ chính trị
thì chỉ một số công dân đặc biệt mới được tham gia quyết định các vấn đề nhà nước;
còn trong chế độ quý tộc thì một bộ phận quyết định vấn đề này, trong khi một bộ phận
khác quyết định những vấn đề khác.
Về các toà thị chính, mà cụ thể là về các pháp quan, Aristote cho rằng cần có
nhiều pháp quan để chăm lo cho từng việc cụ thể trong nhà nước: quản lý thị trường,
quản lý đường xá, nhà cửa, quản lý đất đai... Nhưng cần có một pháp quan cao nhất, có


phận ấy có chức năng, thẩm quyền, cơ cấu tổ chức và cách thức hình thành khác
nhau. Ông còn đề cập một cách khái quát đến mối quan hệ giữa các bộ phận ấy.

17


Song về cơ bản, Aristote mới chỉ dừng ở việc mô tả về nhân viên, cách thức tổ chức
và hoạt động của các bộ phận trên mà chưa phân tích sâu về mối quan hệ giữa
chúng cũng như chưa lý giải lý do phải chia tách nhà nước thành những bộ phận
như vậy. Tuy nhiên, Aristote nhận thức khá chính xác rằng ở những chế độ dân chủ,
nơi mà quyền lực tối cao của nhà nước thuộc về toàn thể nhân dân thì nhân dân phải
có cơ hội tham gia vào tất cả các bộ phận đó khi được lựa chọn và có quyền lựa
chọn tất cả các quan chức nhà nước, có quyền thẩm tra tư cách đạo đức của họ và có
thể khiển trách họ.
1.2.1.3. Tư tưởng phân quyền của Polybe (201 – 120 tr.CN) và Ciceron (106
– 43 tr.CN)
Polybe và Cicéron là những người đã thể hiện tư tưởng phân chia quyền lực qua
quan điểm về sự cai trị hỗn hợp.
Polybe cho rằng một nhà nước lý tưởng là nhà nước hỗn hợp của ba chính
quyền - ba thế lực chính trị: chính quyền quốc vương, chính quyền quý tộc và chính
quyền nhân dân, mà theo quan điểm ngày nay đó chính là ba thứ quyền lực: quyền
hành pháp trong tay vua, quyền lập pháp trong tay viện nguyên lão của giới quý tộc
và quyền tư pháp thuộc về sự phán xét của dư luận nhân dân. Polybe chỉ ra nhà
nước tổng thể thực hiện quyền lực bằng cách nào, và các chính quyền khác nhau
trong nhà nước ấy bằng cách thức nào có thể cản trở, kiềm chế nhau, hoặc ngược
lại, bảo vệ và ủng hộ nhau. Khi một thế lực muốn vượt quyền hạn của mình và gây
phương hại tới lợi ích của các thế lực khác thì sẽ đụng độ sự phản đối thích đáng từ
các thế lực này, và kết quả là sẽ đạt đến một trật tự đúng đắn, đảm bảo cho sự ổn
định và vững mạnh của nhà nước tổng thể. Có thể thấy, Polybe đã đi xa hơn
Aristote ở chỗ: ông đòi hỏi các cơ quan thực hiện quyền lực nhà nước phải độc lập

tổ chức và hoạt động của nhà nước, đồng thời thể hiện nhu cầu cấp thiết về việc
phân chia quyền lực nhà nước. Trong hoàn cảnh đó, tư tưởng của Aristote, của
Polybe được "phục hưng", được kế thừa và phát triển bởi phái "Bình quân"
(leveller) ở Anh, John Locke, Montesquieu và Jean – Jacques Rousseau.
1.2.2.1. Tư tưởng phân quyền của John Locke (1632-1704)
John Locke là một bác sĩ kiêm triết gia Anh vĩ đại, người "mà tư tưởng đã
ảnh hưởng mạnh mẽ đến các nhà lập quốc ở Hoa Kỳ" [4, tr. 64]. Ông là một trong
những người đi tiên phong chống chủ nghĩa chuyên chế, kiên quyết đòi phải hạn
chế quyền lực của nhà nước, của nhà vua. Tư tưởng phân quyền của ông chủ yếu

19


được thể hiện trong tác phẩm "Hai chuyên luận về chính quyền", tác phẩm mà giá
trị của nó được Marcel Prelot đánh giá rằng:
Sự thiếu vắng hoàn toàn việc tái bản ở thế kỷ XIX và trong tất cả
nửa đầu thế kỷ XX tác phẩm của Locke không nên nghĩ rằng Locke bị
lãng quên hoặc khi đó không còn ảnh hưởng mà ngược lại, đó là vì các tư
tưởng của ông đã gắn một cách trực tiếp vào sự kiện, rằng một sự tái bản
không cần đặt ra. Từ tư tưởng của Locke mà ba cuộc cách mạng lớn của
thế kỷ XVII và thế kỷ XVIII: Cách mạng Anh, Cách mạng Mỹ và Cách
mạng Pháp đã bắt rễ của chúng trong pháp quyền tự nhiên [29, tr. 503].
Trong tác phẩm này, Locke lý giải khá cặn kẽ về nguồn gốc, mục đích của
nhà nước và các loại quyền lực nhà nước, về nội dung, phạm vi giới hạn của từng
quyền, về vị trí và mối quan hệ giữa các loại quyền lực nhà nước. Theo ông, trong
một nước Cộng hòa có ba loại quyền lực lập pháp, hành pháp và liên bang, cả ba
loại quyền lực này đều do nhân dân ủy quyền cho nhà nước hay nói cách khác,
nhà nước đều nhận được từ nhân dân thông qua một sự chuyển nhượng bằng khế
ước rõ ràng xác định; và tất nhiên cả quyền lực nhà nước nói chung lẫn từng loại
quyền lực nhà nước nói riêng đều phải bị hạn chế hoặc bị giới hạn bởi những điều

một quyền lực nào khác trong nước.
Bên cạnh những quyền hạn ấy, Locke cũng vạch ra những ranh giới mà cơ
quan lập pháp không được phép vượt qua.
Thứ nhất, nó không thể là quyền lực độc đoán, chuyên chế đặt trên cuộc sống
và vận mệnh nhân dân. Con người trong trạng thái tự nhiên không thể xâm hại đến
tính mạng và tài sản của người khác, nếu như đó không phải là sự trừng phạt thích
đáng với những gì người đó đã gây ra cho mình, vậy nên cơ quan lập pháp - thứ
quyền lực có được từ tổng số tất cả những quyền tự nhiên được uỷ thác từ các cá
nhân trong cộng đồng, cũng không thể có quyền huỷ hoại sinh mạng của bất kỳ ai
trong xã hội một cách vô cớ. Không một luật lệ nào được coi là tốt hay là có căn cứ
nếu chống lại cái luật tự nhiên căn bản là bảo toàn loài người. Không một luật lệ
nào được coi là tốt hay là có căn cứ nếu không được thiết lập nhằm mục đích tối
thượng là vì lợi ích của nhân dân.
Thứ hai, hay thực chất là nguyên tắc để ngăn chặn sự độc đoán, chuyên chế
của cơ quan lập pháp, là yêu cầu phải có những đạo luật thường trực đã ban hành và

21


Trích đoạn Hiến pháp 1946 Hiến pháp 1959 Hiến pháp 1980 Hiến pháp 1992 Hiến pháp 2013
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status