nhìn nhận về bộ luật dân sự của nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa việt nam - Pdf 14

Nhìn nhận về bộ luật dân sự của nhà nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam
Lời mở đầu
Để quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng nâng cao tính thực thi
của các văn bản pháp luật, tăng cờng pháp chế xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà
nớc ta chủ trơng xây dựng một hệ thống pháp luật ngày càng hoàn chỉnh với
đầy đủ các ngành luật phản ánh tốt hơn đờng lối của Đảng trong công cuộc
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nớc ta hiện nay. Với mục tiêu, động ực chính của
sự phát triển là vì con ngời, do con ngời, đặt con ngời vào vị trí trung tâm, giải
phóng sức sản xuất, khơi dậy mọitiềm năng của mỗi cá nhân, mỗi tập thể lao
động và của cả cộng đồng dân tộc; động viên và tạo mọi điều kiện cho mọi
ngời Việt Nam phát huy ý chí tự lực, tự cờng, cần kiệm xây dựng tổ quốc, ra
sức làm giàu cho mình và cho đất nớc. Trong đó, mọi ngời đợc tự do kinh
doanh theo pháp luật, đợc bảo hộ quyền sở hữu và thu nhập hợp pháp.
Hệ thống pháp luật của Nhà nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao
gồm nhiều ngành luật, điều chỉnh các quan hệ xã hội đa dạng, phức tạp. Trong
đó, mỗi ngành luật điều chỉnh những nhóm quan hệ xã hội nhất định. Những
nhóm quan hệ xã hội do một ngành luật điều chỉnh đợc gọi là đối tợng điều
chỉnh của ngành luật đó. Để điều chỉnh các quan hệ xã hội, Nhà nớc sử dụng
các biện pháp tác động khác nhau hớng cho các quan hệ xã hội đó phát sinh,
thay đổi chấm dứt phù hợp với ý chí của Nhà nớc. Phơng pháp tác động của
Nhà nớc lên các quan hệ xã hội có những đặc thù khác nhau phụ thuộc vào
các quan hệ xã hội cần điều chỉnh bằng pháp luật. Luật dân sự là một ngành
luật đợc hình thành từ rất sớm trong lịch sử phát triển của Nhà nớc và pháp
luật. Các nhà nớc luôn luôn chú trọng hoàn thiện luật dân sự vì tính phổ biến
và vai trò quan trọng của nó trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội. Với t
cách là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật của Nhà nớc ta, luật
dân sự có đối tợng điều chỉnh là những nhóm quan hệ tài sản và quan hệ nhân
thân. Tạo cơ sở và hành lang pháp lý nhằm tiếp tục giải phóng mọi năng lực
sản xuất, bảo đảm dân chủ và công bằng xã hội. Bộ luật dân sự quy định các
chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của các chủ thể trong giao lu dân sự nhằm
bảo đảm sự ổn định, lành mạnh các quan hệ dân sự trong điều kiện phát triển

Phần riêng: Dựa theo các nhóm quan hệ mà luật dân sự điều chỉnh, căn cứ
vào khách thể của quan hệ dân sự- luật dân sự đợc chia thành các chế định lớn
tơng ứng. Trong các chế định lớn này có phần chung và chỉ áp dụng cho riêng
phần đó. Hiện nay, luật dân sự Việt Nam hình thành các chế định lớn sau đây:
+ Chế định quyền sở hữu: Đây là chế định trung tâm, quan trọng nhất không
chỉ riêng cho luật dân sự mà cho cả hệ thống pháp luật nói chung. Trong đó,
quy định các hình thức sở hữu; đối tợng của quyền sở hữu; các căn cứ phát
sinh, thay đổi, chấm dứt quyền sở hữu; nội dung quyền sở hữu và các biện
pháp bảo vệ quyền sở hữu, đồng thời cũng quy định những hạn chế đối với
chủ sở hữu trong việc thực hiện các quyền năng quyền sở hữu.
+Chế định nghĩa vụ và hợp đồng: Đây là chế định lớn nhất trong luật dân sự-
là chế định dẫn xuất của chế định quyền sở hữu gồm các quy định liên quan
đến nghĩa vụ và các căn cứ phát sinh nghĩa vụ quân sự- chế định lớn này đợc
chia thành các chế định nhỏ: Những quy định chung về nghĩa vụ dân sự, căn
cứ phát sinh nghĩa vụ nghĩa vụ dân sự, thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm dân sự
và các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự; Hợp đồng dân sự thông
dụng( mua bán, thuê tài sản); Chế định thực hiện công việc không có uỷ
quyền; Chế định đợc lợi về tài sản không có căn cứ hợp pháp; Chế định trách
3
Nhìn nhận về bộ luật dân sự của nhà nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam
nhiệm dân sự do gây thiệt hại quy định căn cứ phát sinh trách nhiệm do gây
thiệt hại và một số trờng hợp riêng biệt của trách nhiệm do gây thiệt hại.
+Chế định quyền thừa kế: Bao gồm các quy định về trình tự dịch chuyển di
sản của ngời chết cho những ngời còn sống, việc dịch chuyển di sản theo di
chúc hoặc theo quy định của pháp luật.
+Chế định chuyển quyền sử dụng đất: Quy định trình tự, điều kiện dịch
chuyển quyền sử dụng đất.
+Chế định quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ: Quy định về việc
xác lập quyền của mỗi cá nhân đối với kết quả sáng tạo tinh thần nh: tác phẩm
văn học, nghệ thuật, khoa học kỹ thuật, các đối tợng của sở hữu công nghiệp

*áp dụng luật dân sự.
Luật dân sự là hệ thống các quy phạm. Các quy phạm này là những hình mẫu
để các chủ thể khi hành xử phải tuân theo. Đó là các chuẩn mực ứng xử của
chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự. Nhng việc thực thi pháp luật; việc tuân
theo các chuẩn mực ứng xử đó khi tham gia vào các quan hệ dân sự phụ
thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau: Vào bản thân nội dung các quy phạm pháp
luật đó. Nó thực sự phù hợp và phản ánh đúng các điều kiện kinh tế trong xã
hội đó hay không; Vào ý thức pháp luật của các chủ thể tham gia, vào các ý
thức pháp luật của xã hội nói chung; Vào việc áp dụng pháp luật của cơ quan
nhà nớc có thẩm quyền. Tự bản thân các quy phạm không thể sống nếu
không đợc áp dụng trong thực tế cuộc sống. Vì vậy, việc áp dụng pháp luật
dân sự trong cuộc sống là hết sức quan trọng để biến các quy phạm pháp luật
trở thành công cụ thực sự, tích cực điều chỉnh các quan hệ xã hội. áp dụng
luật dân sự là những hoạt động cụ thể của cơ quan nhà nớc có thẩm quyền căn
cứ vào những sự kiện thực tế đó để đa ra quyết định phù hợp với thực tế và
những quy phạm của pháp luật. Những quyết định đợc cơ quan có thẩm quyền
đa ra có thể là: Công nhận hay bác bỏ một quyền dân sự nào đó đối với một
chủ thể( quyền sở hữu, quyền thừa kế, quyền đòi nợ); Xác lập một nghĩa vụ
cho một chủ thể nhất định ( bồi thờng thiệt hại, trả nợ, giao vật, trả tiền, chấm
dứt hành vi vi phạm); áp dụng các biên pháp cỡng chế cần thiết để bảo vệ
quyền, lợi ích của các chủ thể khác, của Nhà nớc(tịch thu tài sản, phạt vi
phạm, quyết định bán đấu giá).
5
Nhìn nhận về bộ luật dân sự của nhà nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam
Chơng II: Nhìn nhận về Bộ luật dân sự trên thực tế.
I.Một số vấn đề đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự.
1.Thực trạng tổ chức và thi hành án dân sự.
Về hệ thống pháp luật, cùng với việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp
luật về thi hành án nói chung, hệ thống các văn bản pháp luật về thi hành án
dân sự đã đợc xây dựng tơng đối hoàn chỉnh, tạo cơ sở vững chắc cho việc

Nhìn nhận về bộ luật dân sự của nhà nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam
án. Kết quả hoạt động thi hành án dân sự trong 10 năm qua đã chứng minh
tính u điểm của cơ chế tổ chức và quản lý hoạt động vào việc khôi phục và bảo
vệ quyền lợi của Nhà nớc, các cơ quan, tổ chức và công dân, tăng cờng pháp
chế xã hôi chủ nghĩa. Tuy nhiên cũng phải nhìn nhận rằng: công tác thi hành
án dân sự hiện nay cha đáp ứng đợc quá trình phát triển kinh tế- xã hội đất nớc
khi các quan hệ xã hội phát sinh trong điều kiện kinh tế thị trờng ngày càng
mở rộng, phong phú và đa dạng.
2.Những hạn chế trong công tác thi hành án dân sự hiện nay.
Thứ nhất, các quy định pháp luật thi hành án dân sự: Pháp lệnh Thi hành án
dân sự đợc ban hành từ năm 1993 đến nay đã bộc lộ khá nhiều điểm hạn chế
cần bổ sung, sửa đổi và hoàn thiện, điển hình là về phạm vi áp dụng, các quy
định về thủ tục thi hành án, nh chủ động thi hành theo đơn yêu cầu thi hành
án, quy định về trả lại đơn yêu cầu, về chế định uỷ thác trong thi hành án; về
các biện pháp cỡng chế trong thi hành án; các biện pháp kê biên, xử lý tài sản
của cơ quan, tổ chức, các quyền sở hữu trí tuệ, về xác minh tài sản và thời hạn
xác minh để thi hành án, các quy định về bán đấu giá, các quy định về hoãn ,
tạm đình chỉ , đình chỉ, quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo, về kháng
nghị trong thi hành án, về thi hành án có yếu tố nớc ngoài Đặc biệt pháp luật
thi hành án hiện hành cha quy định rõ trách nhiệm của cơ quan hữu quan
trong việc giúp đỡ, tạo điều kiện và thực hiện các yêu cầu của cơ quan thi
hành án, các chấp hành viên; hình thức, chế tài trong trờng hợp họ không thực
hiện. Những bất cập trong các quy định pháp luật về thi hành án và các quy
định pháp luật về nội dung có liên quan đến thi hành án đã ảnh hởng không
nhỏ đến thi hành án dân sự.
Thứ hai, về cơ chế quản lý thi hành án dân sự: xét cả về lý luận và thực tiễn,
hoạt động thi hành án dân sự mang nhiều nét đặc thù riêng, mặc dù có những
nét nổi trội của hoạt động hành chính t pháp, song về cơ bản nó bị chi phối
mạnh mẽ của quá trình xét xử và các bớc tố tụng. Không ít các trờng hợp do
bản án quyết định không rõ ràng hoặc sự can thiệp, chi phối, thiếu căn cứ của

hiện quản lý Nhà nớc càng khó khăn hơn. Có thể nói, cơ chế quản lý tổ chức
và hoạt động thi hành án dân sự hiện nay cha phù hợp và hiệu quả, cha xác
định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, dẫn đến chồng chéo, giảm hiệu lực
quản lý nhà nớc. Các nội dung quản lý thể hiện ở mối quan hệ gữa cơ quan
quản lý và cơ quan thi hành án còn nhiều điểm gây khó khăn, vớng mắc cho
hoạt động thi hành án, cha đảm bảo tính chủ động, độc lập, hiệu quả của các
cơ quan thi hành án; cha quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan hữu quan
các cấp trong phối hợp tổ chức thi hành án. Điều này đã hạn chế rất lớn đến
hiệu lực, hiệu quả của cơ chế thi hành án và hoạt động thi hành án dân sự.
Thứ ba, về cơ cấu tổ chức các cơ quan thi hành án dân sự: về cơ cấu tổ chức
các cơ quan thi hành án dân sự theo đơn vị hành chính cấp tỉnh, huyện nh hiện
nay phần nào đã tạo đợc một số thuận lợi trong quản lý nhà nớc, có sự quan
tâm chỉ đạo kịp thời của cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phơng đối với cơ quan
thi hành án thuộc địa phơng mình. Tuy nhiên, một số địa phơng đặc biệt là cấp
8
Nhìn nhận về bộ luật dân sự của nhà nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam
huyện ở vùng xa, vùng sâu số lợng án phải thi hành hàng năm rất ít, nhng về
tổ chức vẫn phải thành lập Đội thi hành án với đủ biên chế theo quy định.
Trong khi đó, tại các quận huyện, tại các thành phố lớn, số lợng án phải thi
hành nhiều, nhng số không tăng so với quy định dẫn đến tình trạng quá tải, tạo
ra sự mất cân đối giữa các cơ quan thi hành án cùng cấp trong các vùng miền
đất nớc về sự thừa, thiếu cán bộ. Thiết nghĩ, chúng ta cần nghiên cú tới phơng
án tổ chức cơ quan thi hành án theo khu vực, căn cứ theo nhu cầu thực tế công
việc và sự tiện lợi cho nhân dân mà ấn định số lợng biên chế các cán bộ, chứ
không nhất thiết phải tạo ra một khuôn mẫu chung cho tất cả các đơn vị theo
địa giới hành chính.
Thứ t, về đội ngũ chấp hành viên, các tiêu chí đối với chấp hành viên: so với
nhu cầu thực tế công việc, hiện tại số lợng chấp hành viên và cán bộ thi hành
án còn phải bổ sung rất nhiều. Tính đến tháng8/2001, tổng số chấp hành viên
trong cả nớc là 1764 ngời, trong khi đó, tổng biên chế thực tế của các cơ quan

pháp lý của các văn bản pháp luật. Vì vậy, quan điểm về vấn đề: Cần xác định
lại vị trí của Bộ luật Dân sự trong hệ thống pháp luật Việt Nam phải đợc
nghiên cứu và xem xét nghiêm túc.
Trong buổi tọa đàm lần đầu đợc tổ chức tại trụ sở Bộ T pháp vào chiều
ngày15/8/2000 khi bàn về Phơngg pháp luận sửa Bộ luật Dân sự Việt Nam
lúc đó giáo s Akio Morishima (trởng đoàn chuyên gia Nhật Bản giúp Việt
Nam soạn thảo và sửa đổi Bộ luật Dân sự) cũng đã nêu quan điểm: Các nớc
trên thế giới theo xu thế chung không có sự phân biệt hợp đồng dân sự hay
hợp đồng kinh tế. Trong quá trình áp dụng pháp luật, các chủ thể có thể sử
dụng pháp luật khác nhau tuỳ thuộc voà tính chất mục đích và nội dung của
những giao dịch cụ thể để tìm luật áp dụng. Nhng nguyên tắc là nếu Bộ luật
Dân sự đã có quy định, thì trớc hết phải áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự,
Việt Nam phải xác định đợc một vấn đề quan trọng là việc quy định các loại
hình hợp đọng trong Bộ luật Dân sự có ý nghĩa gì? Nguyên tắc tự do trong hợp
đòng cần đợc tôn trọng. Có thể hợp đồng đó trong tơng lai sẽ có những bất
trắc xảy ra nhng không cần phải quy định trớc, nếu có tranh chấp thì trớc hết
phải áp dụng Bộ luật Dân sự để giải quyết.
Tuy còn một số ít hạn chế, nhng bộ luật Dân sự năm 1995 là bộ luật có nhiều
tiến bộ vợt bậc so với hệ thống các văn bản quy định về dân sự trớc đây. Lần
đầu tiên nhiều nội dung quan trọng của pháp luật dân sự đã đợc phát triển hóa
một cách có hệ thống, ví dụ nh chế định tài sản và quyền sở hữu, các quy định
về chủ thể của luật dân sự trớc đây, Bộ luật Dân sự đã có những quy định tơng
đối đầy đủ, cụ thể, chi tiết Trong hội thảo thực tiễn 4 năm thi hành luật Dân
sự nhiều ý kiến cho rằng, tuy đã có nhiều quy định cụ thể nhng khi áp dụng
pháp luật trong thực tiễn, Toà án nhân dân hoặc các cơ quan nhà nơc có thẩm
quyền vẫn còn có những khó khăn, vớng mắc, đôi khi hiểu luật còn thiếu sự
thống nhất. Do đó tính chất đặc trng của giao lu dân sự nên Toà án nhân dân
và các cơ quan nhà nớc có thẩm quyền vẫn áp dụng các văn bản pháp luật có
liên quan để giải quyết các tranh chấp. Trong nhiều trờng hợp phải áp dụng
10

phối cả những Pháp c trú ở nớc ngoài
(2)
.
Theo Bộ luật Dân sự và Thơng mại Thái Lan, trong tiêu đề những quy định
chung tại Điều4 có quy định: Bộ luật này phải đợc áp dụng trong tất cả các
trờng hợp thuộc phạm vi câu chữ hoặc tinh thần của bất cứ quy định nào của
Bộ luật. Nếu không có quy định nào của bộ luật có thể áp dụng thì vụ việc đợc
quyết định theo tập quán địa phơng. Nếu không có tập quán địa phơng nào nh
vậy, thì vụ việc đợc quyết định bằng cách áp dụng quy định tơng tự nhất; và,
(1)
Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự Nhật Bản, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội năm 1995.
(2)
Bộ luật Dân sự của nớc Cộng hoà Pháp, bản dịch của NXB Chính trị Quốc Gia Hà Nội, năm 1998, Điều3
11
Nhìn nhận về bộ luật dân sự của nhà nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam
nếu cũng không có quy định tơng tự thì áp dụng những quy tắc chung của
pháp luật
(3)
.
Luật hợp đồng của nớc Cộng hoà nhân dân Trung Hoa cũng quy định tại
Điều 2: Hợp đồng gọi trong luật này là sự thoả thuận, thiết lập, thay đổi, kết
thúc quan hệ quyền lợi nghĩa vụ dân sự giữa các chủ thể bình đẳng tự nhiên
nhân, pháp nhân, các tổ chức khác. Các thoả thuận liên quan đến quan hệ thân
phận nh hôn nhân, nhận nuôi, giám hộ Thích dụng với quy định của các luật
khác. Điều 428 Luật trên quy định: Luật này thi hành từ ngày 1/10/1999,
các luật hợp đồng kinh tế nớc Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, Luật hợp đồng
kinh tế đối ngoại nớc Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, Luật hợp đồng kỹ thuật
nớc Cộng hoà nhân dân Trung Hoa đồng thời phế bỏ
(4)
.

cũng gặp không ít khó khăn, vớng mắc.
Chính vì những lý do trên đây nên trong qúa trình sửa đổi Pháp lệnh Hợp
đồng kinh tế ngày 29/9/1989, Ban sửa đổi ( Do Toà án nhân dân tối cao chủ
trì) cũng đã nhận thấy: Trong thời kỳ chuyển đổi cơ chế lần đầu tiên trong hệ
thống pháp luật về hợp đồng nói chung đã có quy định quyền tự do giao kết
hợp đồng( đối với các chủ thể của luật kinh tế trớc đây việc ký kết là kỷ luật
của Nhà nớc nhằm thực hiện chỉ tiêu kế hoạch và nhiệm vụ đợc giao) đợc quy
định trong một văn bản có hiệu lực pháp lý cao là một sự tiến bộ đáng kể. Nh-
ng trong quá trình áp dụng càng về sau càng bộc lộ những hạn chế. Mặc dù
Ban sửa đổi đã cố gắng và nhiều lần đa ra dự thảo sửa đổi trong những năm
vừa qua, nhng đều không khắc phục đợc những bất cập trong thực tiễn áp
dụng để giải quyết các tranh chấp hợp đồng kinh tế. Vì vậy Ban sửa đổi đã
thuyết trình hai phơng án: Một là, đa ra dự thảo Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế
mới quy định những quan hệ kinh tế đối với các doanh nghiệp nhà nớc, mở
rộng chủ thể áp dụng là các thơng nhân; Hai là áp dụng các quy định chung
của bộ luật Dân sự, còn pháp lệnh Hợp đồng kinh tế chỉ quy định những nội
dung đặc thù của các doanh nghiệp nhà nớc. Nh vậy, xu thế thừa nhận các hợp
đồng phải tuân thủ một nguyên tắc chung đã có những tín hiệu ban đầu.
Đây là những vấn đề mà Ban sửa đổi Bộ luật Dân sự cần có định hớng ngay
trong các dự thảo sửa đổi( Vì liên quan đến hiệu lực áp dụng còn là các hợp
đồng kinh tế).
Nếu phơng án có hiệu lực áp dụng cao nhất của Bộ luật Dân sự đợc chấp
nhận nh thông lệ và tập quán quốc tế, tức là thừa nhận giá trị pháp lý của Bộ
luật Dân sự cao hơn các văn bản pháp luật khác, tôi thấy cần phải có sự bổ
sung nội dung các quy định tại Điều 15 Bộ luật Dân sự. Hiện nay, tại Điều 15
Bộ luật Dân sự hiện hành có 4 khoản, nhng không có điều khoản nào quy định
về vấn đề nguyên tắc áp dụng luật dân sự với các hợp đồng. Vấn đề quan trọng
này tại Chơng I và Chơng II, phần thứ ba Bộ luật Dân sự về nghĩa vụ dân sự và
hợp đồng dân sự cũng cha quy định và dự liệu. Tôi cho rằng: Đây là vấn đề rất
cấp thiết nhằm bảo đảm nguyên tắc áp dụng pháp luật thống nhất của pháp

chỉ quy định Năng lực pháp luật Dân sự cá nhân là khả năng của cá nhân
có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự. Theo nguyên lý chung của Luật Dân sự,
năng lực pháp luật của chủ thể có tính chất xã hội và tuỳ thuộc vào từng giai
đoạn lịch sử, điều kiện kinh tế- chính trị- xã hội mà phạm vi năng lực pháp
luật có thể có những giới hạn khác nhau. Quy định nh trên đây tôi thấy theo
xu hớng không hạn chế và đã gây ra không ít tranh luận về phơng diện lý luận.
Để đảm bảo tính chặt chẽ, vấn đề này cũng cần xác định nội hàm cụ thể. Vì
vậy tôi đề nghị nên theo cụm từ theo quy định của pháp luật vào cuối
khoản 1 mới đảm bảo tính chặt chẽ.
Trong quy định về nơi c trú tại Điều 48 Bộ luật Dân sự cũng tơng tự nh vậy.
Việc xác định nơi c trú và quản lý nhà nớc về nơi c trú hiện nay đang có
14
Nhìn nhận về bộ luật dân sự của nhà nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam
những bất cập. Nhiều vụ việc tranh chấp Toà án đã thụ lý nhng khi xác định
nơi c trú của cá nhân theo nh quy định tại khoản 1 Điều 48 Bộ luật Dân sự đã
không có trong thực tiễn. Cần hiểu rằng với tính chất đặc thù của ngành luật
Dân sự không phải với bất cứ quy định nào cũng phải là luật hoá ý chí của
giai cấp thống trị mà còn chú ý đến đặc trng riêng và tính khả thi của các quy
định. Quy định nh Điều 48 Bộ luật Dân sự đã không bao quát đợc tất cả những
vấn đề nảy sinh trong thực tiễn. Tôi thấy rằng cần bổ sung thêm quy định
nơi ngời đó thờng xuyên sinh sống và có hộ khẩu thờng trú hoặc đang sinh
sống. Việc mở rộng quy định xác định nơi c trú của cá nhân nh vậy sẽ thuận
lợi cho các cơ quan tiến hành tố tụng khi tống đạt giấy tờ trong các vụ giải
quyết tranh chấp và theo dõi đợc sự thay đổi nếu đơng sự liên quan đến việc
thực hiện nghĩa vụ dân sự.
Quy định về giám hộ tại Điều 67 Bộ luật Dân sự nh hiện nay là có sự trùng
lặp. Khoản hai Điều 67 là liệt kê khá chi tiết về ngời đợc giám hộ và thực ra là
cụ thể hoá một số điều luật cụ thể trớc. Vì vậy, tôi đề nghị bỏ đoạn cuối khoản
1 từ chỗ ngời bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không nhận
thức làm chủ đợc hành vi của mình(gọi là ngời đợc giám hộ) bằng cụm từ

phức tạp, đa dạng đó là vấn đề xác định các quyền, nghĩa vụ do văn phòng đại
diện, chi nhánh xác lập thực hiện có phải là quyền, nghĩa vụ của pháp nhân
không. Để bảo đảm tính chặt chẽ của điều luật và cũng là tạo sự thuận tiện cho
các pháp nhân trong các giao dịch dân sự tại các địa điểm khác nhau, tôi đề
nghị sửa khoản 4 Điều 100 nh sau: Văn phòng đại diện, chi nhánh không
phải là pháp nhân. Ngời đứng đầu văn phòng đại diện, chi nhánh đợc(hoặc chỉ
đợc) thực hiện nhiệm vụ trong phạm vi và thời hạn đợc uỷ quyền của pháp
nhân.
Vấn đề đại diện của pháp nhân theo quy định tại khoản 1 Điều102 Bộ luật
Dân sự. Quy định về đại diện của pháp nhân tại khoản 1 là thiếu chặt chẽ và
cha đầy đủ. Trong phần thứ nhất đã dành riêng một chơng quy định riêng về
vấn đề đại diện. Các quy định về chơng này tơng đối chi tiết và cụ thể. Do đó
tôi đề nghị cuối khoản 1 Điều 102, Bộ luật Dân sự cần bổ sung thêm đoạn:
Ngời đại diện của pháp nhân phải tuân theo các quy định về đại diện quy định
tại chơngVI, phần thứ nhất của bộ luật này.
Trong các điều luật quy định về đại diện tôi xin đề nghị bổ sung một số nội
dung nhằm cụ thể hơn các quy định trong các điều luật sau:
Đối với Điều 150 khoản 5: quy định này đã gây nên sự nhầm lẫn trong thực
thi pháp luật nhất là khi các chủ thể trong các giao dịch dân sự vận dụng pháp
luật để xác lập giao dịch dân sự. Quy định nh khoản 5 Điều150, Bộ luật Dân
sự các chủ thể tham gia giao dịch, nhất là giao dịch mua bán nhà chuyển nh-
ợng quyền sử dụng đất đều nhầm lẫn và cho rằng: Chủ hộ( đơng nhiên thờng
là cha mẹ hoặc chỉ là ngời cha) ký vào bản hợp đồng mua bán, chuyển nhợng
là bảo đảm giá trị và sự an toàn pháp lý của giao dịch. Do tính chất đặc biệt
của loại tài sản này nên trong các quy định về mua bán nhà lại có quy định
khác. Tính chất đại diện trong trờng hợp này không còn giá trị pháp lý theo
16
Nhìn nhận về bộ luật dân sự của nhà nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam
nguyên nghĩa nữa. Vì vậy tôi đề nghị bổ sung khoản 5 Điều 150 Bộ luật Dân
sự là: Chủ hộ gia đình đối với hộ gia đình, trừ trờng hợp quy định tại Điều

Về mặt chủ trơng, các Nghị quyết của Đảng, Chỉ thị của Thủ tớng Chính
phủ về nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự đã định hớng để chúng
ta kiếm tìm những giải pháp thực sự có hợp lý và hiệu quả. Tuy nhiên, về lộ
trình đổi mới, nhát thiết phải diễn ra từng bớc, phù hợp yêu cầu và điều kiện
thực tế của sự phát triển khách quan đời sống kinh tế- chính trị- văn hóa xã
hội đất nớc. Bởi vậy, để khắc phục những tồn tại hiện nay, từng bớc đổi mới
tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự đáp ứng các yêu cầu trớc mắt cũng
nh lâu dài, chúng ta cần xây dựng các giải pháp tháo gỡ khó khăn, vớng mắc
trớc mắt, định hớng về các giải pháp cơ bản, đồng bộ, lâu dài có thể phù hợp,
khả thi cho các giai đoạn tiếp theo. Để khắc phục những điểm còn tồn tại,
nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự, trớc mắt chúng ta cần tập trung giải
quyết tốt một số nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh Thi hành án dân sự và các văn bản
pháp luật hớng dẫn thi hành, các văn bản pháp luật có liên quan đến công
tác thi hành án dân sự: Việc sửa đổi, bổ sung cần tập trung vào các quy định
về quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ thi hành án, nâng cao trách
nhiệm của cơ quan thi hành án, xác định rõ trách nhiệm của các cấp chính
quyền địa phơng, trách nhiệm của cơ quan hữu quan, các cấp trong việc tổ
chức thi hành án dân sự; các quy định về trình tự, thủ tục thi hành án nhằm
tháo gỡ khó khăn, bất cập; bổ sung các quy định nhằm đáp ứng tính đặc thù
của các loại án đợc thi hành theo trình tự, thủ tục thi hành án dân sự. Sửa đổi,
bổ sung các quy định pháp luật hớng dẫn thi hành án và có liên quan đến thi
hành án tạo ra sự đồng bộ cho việc áp dụng pháp luật.
Thứ hai, tiếp tục kiện toàn tổ chức, bộ máy tăng cờng đội ngũ cán bộ cho cơ
quan thi hành án, hoàn thiện đổi mới cơ chế quản lý thi hành án dân sự: trớc
hết, cần bổ sung đủ biên chế về cán bộ, kiện toàn đội ngũ chấp hành viên, cán
18
Nhìn nhận về bộ luật dân sự của nhà nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam
bộ thi hành án ở các cơ quan thi hành án các cấp. Không ngừng trau dồi, giáo
dục về phẩm chất đạo đức chấp hành viên, cán bộ thi hành án. Có kế hoạch

Một là, đổi mới công tác đổi mới công tác thi hành án dân sự cần đặt trong
tổng thể đổi mới công tác thi hành án nói chung, phù hợp với chiến lợc về
phát triển kinh tế- xã hội, công cuộc cải cách t pháp, cải cách bộ máy nhà n-
19
Nhìn nhận về bộ luật dân sự của nhà nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam
ớc, cải cách thủ tục hành chính, tiến tới xây dựng Nhà nớc pháp quyền xã hội
chủ nghĩa Việt Nam. Việc đổi mới thi hành án dân sự và hoạt động thi hành
án dân sự là nhằm mục đích nâng cao hiệu quả của nó, bảo vệ quyền lợi hợp
pháp cho Nhà nớc, xã hội và mọi công dân từ đó thúc đẩy kinh tế, xã hội
ngày càng phát triển. Đổi mới thi hành án nói chung, thi hành án dân sự nói
riêng hiện đang đợc Đảng và Nhà nớc coi là nhiệm vụ trọng tâm của cải cách
t pháp. Kết quả của quá trình tố tụng, của giai đoạn xét xử có đợc thực hiện
trên thực tế hay không đều phụ thuộc vào hiệu quả của thi hành án. Hơn nữa,
trình độ, thủ tục thi hành án cũng trải qua rất nhiều khâu, nhiều bớc, nếu thực
hiện đơn giản, nhanh chóng và hiệu quả chính là yêu cầu của cải cách thủ tục
hành chính. Bên cạnh đó, yêu cầu của cải cách bộ máy nhà nớc chính là việc
làm cho nó hoạt động trơn tru, hiệu quả, điều này đòi hỏi ở sự đổi mới cơ chế
quản lý và hoạt động thi hàng án, tạo ra sự phù hợp, không làm phát sinh mâu
thuẫn, chồng chéo, bất cập. Các yếu tố trên đây chính là mục đích hớng tới
của quá trình đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự. Các nguyên
tắc cơ bản của Nhà nớc pháp quyền cũng đang đặt ra những đòi hỏi mà một
trong số đó là tôn trọng sự tối thợng của pháp luật, tôn trọng và bảo đảm các
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Đây cũng là những yêu cầu đặt ra
đối với các công tác thi hành án , khi yếu tố quyết định hiệu quả thi hành án
phụ thuộc ý thức chấp hành và tôn trọng pháp luật của mọi tổ chức, cơ quan
nhà nớc và mọi công dân. Qua đó, việc thi hành án sẽ đảm bảo quyền lợi
chính đáng cho họ, đồng thời bản thân việc thi hành án cũng phải đợc thực
hiện bình đẳng, dân chủ và công bằng. Những yêu cầu trên đây đồng thời
cũng là quan điểm chủ đạo khi thực hiện đổi mới công tác thi hành án dân sự.
Hai là, đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự cần quán triệt chủ

Bởi vậy, công tác thi hành án dân sự phải đợc tổ chức hợp lý, hoạt động hiệu
quả mới đủ sức làm bình ổn các quan hệ xã hội góp phần bảo đảm dân chủ,
bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho mọi chủ thể trong xã hội. Việc củng cố, mở
rộng dân chủ trong thi hành án còn thể hiện ở khía cạnh mọi cấp, mọi ngành,
mọi công dân đều phải nâng cao ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật,
giúp cho việc tác nghiệp thi hành án thực sự đạt hiệu quả.
Bốn là, đảm bảo hiệu lực pháp luật thực sự của bản án, quyết định của Toà
án đợc thực thi trên thực tế. Đảm bảo để các bản án, quyết định đã có hiệu lực
pháp luật của Toà án nhân dân phát sinh hiêu lực thực tế trong đời sống xã hội
chính là mục đích hớng tới của công tác thi hành án dân sự. Để thực hiện đợc
mục đích này phụ thuộc rất nhiều yếu tố, đó là: Cơ chế quản lý, cơ chế tổ chc
bộ máy, đội ngũ cán bộ chấp hành viên, trình độ thủ tục hợp lý, sự quan tâm
của chính quyền các cấp, tinh thần trách nhiệm của của các cơ quan tổ chức
có liên quan, ý thức chấp hành pháp luật và tôn trọng pháp luật của công dân,
các điều kiện về kinh tế, xã hội thực tế Tuy nhiên, về phía cơ quan thi hành
án-ngời trực tiếp thực hiện việc thi hành án cần phải đợc tổ chức đủ mạnh và
quan tâm đáp ứng đầy đủ các điều kiện cần thiết để họ thực hiện thi hành án
đạt hiệu quả. Đó chính là yếu tố chủ quan mà chúng ta có thể củng cố trực
tiếp. Cùng với nó là việc định ra các thủ tục thi hành đơn giản, hiệu quả, phù
21
Nhìn nhận về bộ luật dân sự của nhà nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam
hợp với điều kiện thực tiễn. Chỉ khi chúng ta biết cách phát huy hết sức mạnh
nội tại và vận dụng những điều kiện khách quan, chắc chắn sẽ đẩy mạnh hoạt
động thi hành án dân sự đạt hiệu quả cao.
Mục lục Trang
Lời mở đầu 1
ChơngI: Hệ thống luật dân sự và nguồn của luật dân sự. 3
Chơng II: Nhìn nhận về Bộ luật dân sự trên thực tế. 7
Chơng III: Một số vấn đề về đổi mới và thi hành án dân 22
sự ở Việt Nam hiện nay.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status