1
SỰ PHÁT TRIỂN LÝ LUẬN VỀ CHUYÊN CHÍNH VÔ SẢN CỦA
CÁC NHÀ KINH ĐIỂN CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN. SỰ VẬN DỤNG
CỦA ĐẢNG TA TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA THỜI KỲ ĐỔI MỚI.
MỞ ĐẦU
Sự phát triển của chủ nghĩa xã hội khoa học một nấc thang cao hơn trong lịch
sử tư tưởng xã hội chủ nghĩa nhân loại qua các giai đoạn của nó gắn liền với sự
phát triển của hiện thực xã hội và thực tiễn cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp
công nhân quốc tế. Toàn bộ lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học cũng như mỗi
nguyên lý của nó, trải qua chiều dài lịch sử, ngày càng được bổ sung, phát triển và
hoàn thiện hơn. bằng tư duy khoa học sáng tạo trên nền tảng thế giới quan và
phương pháp luận duy vật biện chứng; qua thực tiễn đấu tranh của phong trào cộng
sản và công nhân quốc tế; trước những đổi mới của cuộc sống và thời đại, lý luận
chủ nghĩa xã hội khoa học ngày càng thể hiện tính đúng đắn và sức sống của mình,
thực sự trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của giai cấp
công nhân quốc tế, các Đảng công sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa và cộng sản
chủ nghĩa, nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng xã
hội và giải phóng loài người.
Tư tưởng về chuyên chính vô sản chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong
hệ thống lý luận mácxít. Nó chỉ ra rằng; trong quá trình đấu tranh cách mạng để
thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình, giai cấp công nhân sẽ không đánh đổ được kẻ
thù của mình là giai cấp tư sản, sẽ không cải tạo được xã hội cũ, xã hội tư bản chủ
nghĩa và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản nếu như giai
cấp công nhân không giành được chính quyền và thiết lập chuyên chính vô sản.
2
Chuyên chính vô sản là hình thức chính trị tất yếu phải trải qua để đưa loài người
sản mà chúng ta đang xây dựng. Chúng đưa ra mô hình “ Nhà nước phi giai cấp”,
“Nhà nước siêu giai cấp”, “ Nhà nước đa Đảng đối lập”…nhằm hạ bệ nhà nước xã
hội chủ nghĩa suy tôn nhà nước tư bản, duy trì trật tự vĩnh hằng của chủ nghĩa tư
bản. Chính vì vậy, trong cuộc đấu tranh “ai thắng ai” giữa hai con đường tư bản
chủ nghĩa và chủ nghĩa xã hội hiện nay, thực chất vẫn đặt ra những vấn đề trực tiếp
đó là chuyên chính vô sản hay chuyên chính tư sản. Vì thế, làm rõ tư tưởng của
C.Mác- Ph.Ăng ghen, VI.Lê-Nin và chủ tịch Hồ Chí Minh về chuyên chính vô sản
là một trong những vấn đề quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội
và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Mặt khác mặt khác trong quá trình
xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, và vì dân đòi hỏi chúng ta luôn
luôn phải đấu tranh chống các quan điểm sai trái, xuyên tạc, về chuyên chính vô
sản, về bản chất nhà nước xã hội chủ nghĩa, đây là nhiệm vụ thường xuyên, cấp
bách hiện nay.
NỘI DUNG
1. Quan điểm của C.Mác- Ph. Ăngghen và VI.Lênin về chuyên chính vô
sản.
1.1- Tư tưởng của C.Mác- Ph. Ăngghen về chuyên chính vô sản .
Tư tưởng về chuyên chính vô sản hình thành gắn liền với quá trình hoạt động
lý luận và thực tiễn của C.Mác- Ph. Ăngghen với quá trình chuyển đổi lập trường
từ duy tâm sang duy vật, từ dân chủ cách mạng sang cộng sản chủ nghĩa. Trong quá
trình đó, với tư duy biện chứng duy vật và thực tiễn đấu tranh cách mạng của giai
cấp công nhân chống giai cấp tư sản, C.Mác- Ph. Ăng ghen đã không ngừng tìm tòi
khám phá trên cơ sở nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn qua từng thời kỳ, từng
giai đoạn thang trầm của phong trào cách mạng để hoàn thiện học thuyết của mình.
Thông qua các tác phẩm chủ yếu như: “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” (1848);
“đấu tranh giai cấp ở Pháp” (1850); “ngày 18 tháng sương mù của Lui-
4
5
nổ của một cuộc cách mạng vô sản, và tất yếu giai cấp vô sản sễ giành được thắng
lợi, giành lấy chính quyền, giành lấy dân chủ trở thành giai cấp thống trị xã hội .
các ông vạch rõ: “giai câp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền,
tự vươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc, tuy hoàn toàn
không phải theo cái nghĩa như giai cấp tư sản hiểu”3
Tác phẩm “tuyên ngôn Đảng cộng sản” chỉ ra cho giai cấp vô sản “phải tự
vươn lên thành giai cấp dân tộc”, điều đó có nghiã là giai cấp vô sản phải thiết lập
một nền chuyên chính của mình, và trở thành giai cấp thống trị xã hội, giai cấp đại
diện cho quốc gia dân tộc mình. Hoàn thành nhiệm vụ của cuộc cách mạng vô sản
trước hết ở trong nước mình, tất nhiên giai cấp dân tộc ở đây không phải là theo
chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi ích kỷ, biệt lập như là cách mà giai cấp tư sản thường
hiểu, mà giành chính quyền trong một quốc gia dân tộc chỉ là mục tiêu trước mắt,
và là tiền đề cho công cuộc giải phóng nhân loại của giai câp vô sản. Rõ ràng đến
đây, tư tưởng về giai cấp vô sản được hình thành rõ nét hơn trong tác phẩm “hệ tư
tưởng Đức”. Trong tác phẩm này C.Mác- Ph. Ăng ghen trình bầy chuyên chính vô
sản như là một tất yếu, con đường, biện pháp, để cho giai câp vô sản thực hiện sứ
mệnh lịch sử của mình.
Sau cách mạng 1848-1849 thông qua tổng kết cuộc đấu tranh giai cấp ở
Pháp, đặc biệt diễn biến cuộc cách mạng dân chủ tư sản tháng hai và cách mạng
tháng 6 năm 1848, C. Mác đã khảng định: việc giai câp vô sản trong cuộc đấu tranh
chống kẻ thù của mình nhất thiết phẩi thành lập nền chuyên chính cách mạng.
C.Mác gọi đó là “nền chuyên chính của giai cấp công nhân”, “chuyên chính của
những người bạn đồng minh của giai cấp nông dân”, hay đó là “chuyên chính của
giai câp vô sản”. Trong tác phẩm “Đấu tranh giai cấp ở Pháp”, C.Mác gắn tư
tưởng chuyên chính vô sản với khái niệm cách mạng không ngừng, cách mạng vô
3
(sách đã dẫn; tập17, tr126)
(C.Mác- Ph. Ăng ghen toàn tập, tập 18, NxbCTQG, H,1995, tr236)
4
5
7
mạng đó là một bộ máy áp bức, bóc lột mới ra đời. Và dường như, bộ máy nhà
nước ra đời sau lại hoàn bị hơn bộ máy nhà nước trước ở sự rã man và bản chất ấp
bức, bóc lột tinh vi sảo quyệt hơn, tính chất bóc lột của nó đối với quần chúng nhân
dân lao động càng nặng nề hơn. Do đó, C.Mác cho rằng, giai câp vô sản không thể
chiếm lấy một chính quyền như thế, mà cần phải đập tan nó, giành chính quyền về
tay mình. Tuy nhiên lấy gì để thay thế cho bộ máy nhà nước vừa bị đập tan thì lúc
đó C.Mác không có kinh ngiệm thực tiễn lịch sử để giải đáp vấn đề đó.
Tư tưởng về chuyên chính vô sản được cụ thể hơn trong thư gửi cho một
người bạn trong “Đồng minh những người cộng sản” ở Mỹ, ngày 05/03/1852 là
Vâyđơmâye. Trong đó C.Mác khảng định: Đấu tranh giai cấp tất yếu dẫn đến
chuyên chính vô sản và bản thân sự chuyên chính này chỉ là bước quá độ để tiến tới
xoá bỏ giai cấp, đi tới một xã hội không còn giai cấp. đến đây, chung ta thấy thuật
ngữ “chuyên chính vô sản” lần đầu tiên được xuất hiện và một lần nữa, C.Mác
khảng định: Về phần tôi, tôi không hề có công phát hiện sự tồn tại của các giai cấp
trong xã hội hiện đại và sự đấu tranh của những giai cấp đó. Trước tôi từ lâu các
nhà sử học đã trình bầy sự phát triển của lịch sử, của cuộc đấu tranh giai cấp đó và
các nhà kinh tế tư sản đã mổ sẻ các giai cấp đó về mặt kinh tế. Điều mới mẻ mà tôi
đã làm là đã chứng minh rằng:
1-Sự tồn tại của các giai cấp chỉ gắn liền với những giai đoạn phát triển nhất
định của sản xuất.
2- Đấu tranh giai cấp tất nhiên đưa đến chuyên chính vô sản.
giới. Thắng lợi đó đã chứng tỏ khả năng cách mạng của giai cấp công nhân, vừa
giải quyết tốt vấn đề dân tộc vừa giải quyết tốt vấn đề giai cấp trong cách mạng.
Công xã Pari đã chứng cũng chứng minh giai cấp công nhân đã có bước trưởng
thành vượt bậc từ sau cách mạng 1848-1849. Công xã Pari là một thực tiễn lịch sử
9
vô cùng quý giá để cho C.Mác- Ph. Ăng ghen tổng kết kinh nghiệm phát triển và
hoàn thiện học thuyết của mình.
Trước khi cuộc cách mạng Pari nổ ra, C.Mác- Ph. Ăng ghen là những người
theo dõi sát sao mọi diễn biến của tình hình. Cuộc chiến Pháp -Phổ nổ ra ngày
19/7/1870 như là một tiếng chuông báo hiệu sự sụp đổ hoàn toàn của nền đế chế II
thối nát. Từ theo dõi tình hình cách mạng ở Pháp, C.Mác đã đưa ra lời tiên đoán
hiên tài: “dầu cho cuộc chiến tranh của Lu-i Bô-na-pác-tơ chống nước Phổ kết
thúc như thế nào chăng nữa, tiếng chuông đưa đám nền đế chế II cũng sẽ điểm ở
Pari rồi. Đế chế II sẽ kết thúc…”.Trong quá trình diễn biến của cách mạng ở Pari,
C.Mác- Ph. Ăng ghen đã có những chỉ đạo cần thiết đối với cách mạng. Sau công
xã Pari, C.Mác- Ph. Ăng ghen đã bắt tay ngay vào việc tổng kết hoạt động của công
xã. Những vấn đề đó được thể hiện trong tác phẩm “nội chiến ở Pháp”. Trong tác
phẩm này C.Mác đã tổng kết cuộc nội chiến diễn ra ở Pháp và qua công xã Pari,
C.Mác đã chỉ ra, vai chò nhiệm vụ, con đường hình thành, chức năng, hình thức tổ
chức và bản chất của chuyên chính vô sản. Nếu như ở tác phẩm “Đấu tranh giai
cấp ở Pháp” C.Mác cho rằng chuyên chính vô sản được biểu hiện là giai cấp công
nhân phải đấu tranh tự mình trở thành giai cấp dân tộc, phải giành lấy dân chủ và
đập tan các bộ máy nhà nước cũ thì qua thực tiễn công xã Pari, C.Mác- Ph. Ăng
ghen chỉ rõ, giai cấp công nhân phải thủ tiêu toàn bộ bộ máy nhà nước tư sản và
thiết lập bộ máy nhà nước chuyên chính của giai cấp công nhân. trong bộ máy nhà
nước tư sản C.Mác cho rằng cần phải đập tan các “công cụ quyền lực vật chất” như
quân đội thường trực, cảnh sát, bộ máy quan liêu, quan toà. đồng thời phải xoá bỏ
của chủ nghĩa Latxan về nhà nước chuyên chính vô sản, C.Mác đã chỉ rõ vai trò
của nhà nước vô sản sau khi giai cấp công nhân giành được chính quyền, chuyên
chính vô sản phải tiến hành cải tạo xã hội cũ xây dựng xã hội mới xã hội chủ nghĩa.
6
7
C.Mác- Ph. Ăng ghen toàn tập, tâp.17,NxbCTQG, H1994,tr454
C.Mác- Ph. Ăng ghen toàn tập, NxbCTQG,H,1995, tr51-52.
11
C.Mác khảng định rằng: giữa xã hội tư bản và xã hội cộng sản có một thời kỳ cải
biến cách mạng từ xã hội trước đến xã hội sau. Tương ứng với thời kỳ ấy là một
thời kỳ quá độ chính trị trong đó nhà nước không thể có gì khác hơn là chuyên
chính cách mạng của giai câp vô sản.
Tóm lại, chúng ta có thể thấy rằng, tư tưởng về chuyên chính vô sản của
C.Mác- Ph. Ăng ghen tư lúc còn manh nha cho đến 1895 đã không ngừng được bổ
xung và phát triển, hoàn thiện. Đặc biệt đến công xã Pari 1871, nó không đơn thuần
chỉ là một tư tưởng mà đã trở thành hiện thực vật chất dưới hình thức chính quyền
công xã. Tuy nhiên chủ nghĩa xã hội khoa học nói chung cũng như tư tưởng về
chuyên chính vô sản nói riêng không phải là cái gì đó bất biến mà nó phải không
ngừng được bổ sung và phát triển trong điều kiện hoàn cảnh lịch sử mới, vấn đề
mang tính quy luật đó được chứng minh rõ nét nhất trong giai đoạn VI.Lê-Nin tiếp
tục bảo vệ và phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội khoa học về chuyên chính vô
sản trong điều kiện lịch sử mới.
1.2- Tư tưởng VI.Lê-Nin về chuyên chính vô sản.
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX,chủ nghĩa tư bản đã phát triển thành chủ
nghĩa đế quốc, chấm dứt thời kỳ phát triển tương đối hoà bình của thế giới những
năm 70-80 của thế kỷ thứ XIX.
như thế nào để đáp ứng với đòi hỏi sự phát triển của lịch sử, phong trào công nhân
và phát triển chủ nghĩa Mác lên một trình độ mới. Giữa lúc bấy giờ, VI.Lê-Nin lãnh
tụ vĩ đại đã đáp ứng yêu cầu của lịch sử và phong trào cộng sản và công nhân quốc
tế.
Đứng trước tình hình đó, VI.Lê-Nin đã đấu tranh không khoan nhượng
chống chủ nghĩa cơ hội, xét lại, bảo vệ và phát triển học thuyết Mác, trong đó vấn
đề chuyên chính vô sản là vấn được VI.Lê-Nin quan tâm đặc biệt. Ông cho rằng,
chuyên chính vô sản là vấn đề cốt lõi xuyên suốt toàn bộ học thuyết Mác, là “hòn
13
đá thử vàng” với lập trường của những người Mác-xít và còn nhấn mạnh rằng “chỉ
người nào mở rộng việc thừa nhận đấu tranh giai cấp đến mức thừa nhận chuyên
chính vô sản thì mới là người Mác-xít”8
Thông qua các tác phẩm như : “Nhà nước và cách mạng” (1917); “cách
mạng vô sản và tên phản bội Kausky” (1918) và nhiều tác phẩm khác, tư tưởng về
chuyên chính vô sản đã được phát triển hoàn thiện. Trong đó VI.Lê-Nin chỉ ra khái
niệm về chuyên chính vô sản, người cho rằng: chuyên chính vô sản là “việc tổ chức
đội tiền phong của những người bị áp bức thành giai cấp thống trị để chấn áp bọn
áp bức”. Như vậy, trong khái niệm này, nội dung cốt lõi của chuyên chính vô sản
được thể hiện, đó là giai cấp công nhân phải tổ chức thành giai cấp cầm quyền.
Chính quyền đó phải thuộc về một giai cấp duy nhất, là giai cấp công nhân. Tính
chất của chuyên chính vô sản: là công cụ của cách mạng vô sản, là sự thống trị của
giai câp vô sản đối với giai cấp tư sản. Khối công nông dưới sự lãnh đạo của giai
câp vô sản là chính quyền mà nó không chia sẻ cho ai hết và trực tiếp dựa vào vũ
trang của quần chúng. Trong đó Đảng của giai câp vô sản là lực lượng lãnh đạo của
chuyên chính vô sản, sự lãnh dạo đó để đảm bảo cho nền chuyên chính vô sản vững
mạnh, hoàn thành được chức năng nhiêm vụ của mình. VI.Lê-Nin chỉ rằng: trong
cuộc đấu tranh cho chuyên chính vô sản và xây dựng chủ nghĩa xã hội, cần cho
kinh nghiệm từ công xã Pari 1871 và cuộc cách mạng Nga lần thứ nhất 1905,
VI.Lênin đã nêu nên tính muôn hình muôn vẻ của các hình thức chính trị của
chuyên chính vô sản . Người khảng định rằng: sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên
chủ nghĩa xã hội sẽ tạo ra tính muôn hình, muôn vẻ của hình thức chính quyền nhà
nước của giai cấp vô sản, song thực chất chúng chỉ là một: đó là “chuyên chính vô
sản” của giai cấp công nhân. sau khi lãnh đạo phong trào cách mạng Nga thành
công, cuộc cách mạng tháng mười Nga thắng lợi, nhà nước Xô viết ra đời,
VI.Lênin cho rằng, về hình thức của chuyên chính vô sản thì tiếp theo sau công xã
VI.Lê-Nin toàn tập, tập33,NxbTB, M1976, tr42.
(sách đã dẫn; trang109)
11 (sách đã dẫn; trang43)
9
10
15
Pari là chính quyền Xô viết Nga, một thành quả từ cách mạng tháng Mười. Với
thực tế ở một số nước, VI.Lênin còn chỉ ra một hình thức chuyên chính vô sản mới
là chính quyền dân chủ nhân dân. chế độ này phản ánh tính chất độc đáo của cách
mạng xã hội chủ nghĩa và đặc điểm lịch sử dân tộc của những nước đó.
Để chuyên chính vô sản tồn tại và phát triển VI.Lênin luận giải cơ sở của nó:
Theo VI.Lênin đó là sự liên minh của giai cấp công nhân với giai cấp nông dân, với
toàn thể nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân. cơ sở khách
quan của khối liên minh ấy là sự thống nhất của các quyền lực cơ bản về kinh tế,
chính trị của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và nhân dân lao động. Và người
chỉ rõ: “Nếu không có sự liên minh ấy thì không thể có dân chủ vững bền, không
thể cải tạo xã hội chủ nghĩa được”12.
Đề cập về nhiệm vụ của chuyên chính vô sản, theo VI.Lênin đó là phải thủ
đạo của Đảng là điều cốt yếu trong nền chuyên chính vô sản. Không có sự lãnh đạo
của Đảng thì không giữ vững được bản chất của nền chuyên chính vô sản, không
thực hiện được thắng lợi của sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.
Công lao của VI.Lê-Nin không chỉ ở việc phát triển tư tưởng về chuyên
chính vô sản của C.Mác- Ph. Ăng ghen lên đến hoàn thiện, mà người đã lãnh đạo
giai cấp công nhân và nhân dân lao động Nga thực hiện thành công cách mạng
tháng Mười, thiết lập nên một nhà nước chuyên chính vô sản đầu tiên, vạch ra cho
Đảng cộng sản và phong trào cách mạng các nước nhìn thấy con đường, bước đi để
thực hiện thắng lợi sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở từng nước.
Sau khi VI.Lê-Nin qua đời, tư tưởng về chuyên chính vô sản tiếp tục được
các Đảng công sản bảo vệ và phát triển. việc các Đảng cộng sản làm rõ khái niệm
chuyên chính vô sản là sự lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua chính Đảng
của nó là Đảng cộng sản đối với toàn xã hội , cũng như việc mở rộng các hình thức
chuyên chính vô sản như: chuyên chính công nông, nhà nước dân chủ nhân dân,
đưa ra các bước quá độ để chuyển từ chuyên chính công nông lên chuyên chính vô
17
sản, đã nói lên sự đóng góp của các Đảng cộng sản để phát triển về tư tưởng
chuyên chính vô sản trong thời đại mới, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ
nghĩa xã hội trên toàn thế giới. Đặc biệt là sự vận dụng của chủ tịch Hồ Chí Minh
về xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân ở Việt Nam.
2- Sự vận dụng của chủ tịch Hồ Chí Minh trong xây dựng nhà nước của
dân, do dân, vì dân ở Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh một lãnh tụ thiên tài, một nhà lý luận kiệt suất, vị anh
hùng giải phóng dân tộc, cuộc đời và sự nghiệp của người gắn liền với công cuộc
cách mạng Việt Nam. Từ chủ nghĩa yêu nước Người đến với chủ nghĩa Mác-Lênin
và tìm ra con đường cách mạng cho Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều
giai cấp đại diện cho nhân dân trong công cuộc giải phóng dân tộc và giải phóng
kiếp người nô lệ. Trong thời điểm đó, Nguyễn tất Thành một thanh niên yêu nước
sớm hiểu biết và đau sót trước nỗi nhục mất nước và cảnh thống khổ của đồng bào.
Tuy khâm phục các nhà cách mạng đương thời nhưng Nguyễn Tất Thành không tán
thành đường lối cách mạng của họ. Tuy chưa tìm ra một cơ sở lý luận nhưng người
nhận thấy kiểu nhà nước quân chủ chuyên chế, quân chủ lập hiến, cộng hoà tư sản
đều không phù hợp với cách mạng Việt Nam.
Qúa trình hoạt động ở nước ngoài Nguyễn Aí Quốc đã viết nhiều bài báo và
tác phẩm lên án chế độ thực dân Pháp nói chung và hình thức cai trị của chúng ở
Đông dương nói riêng. trong đó tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp”, Người
đã tố cáo tội ác của chế độ thực dân và bộ máy thống trị của chúng đối với nhân
dân các nước thuộc địa, đồng thời Người tỏ thái độ dứt khoát phải soá bỏ chế độ
thuộc địa ở các nước thuộc địa. Đây là những vấn đề đầu tiên làm nền tảng cho tư
tưởng giải phóng dân tộc và xây dựng một nhà nước kiểu mới của Hồ Chí Minh
sau này.
19
Đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, nhận thức sâu sắc lời dạy của VI.Lê-Nin:
“Không có lý luận cách mạng thì không có vận dụng cách mạng”. Nguyễn Aí Quốc
không những lên án bộ mặt thật của thực dân Pháp ở Việt Nam mà còn trình bầy cơ
sở lý luận xây dựng đường lối cách mạng Việt Nam trong đó tác phẩm “ Đường
cách mệnh” được xem là giáo khoa cách mạng Việt Nam, sự nối tiếp hợp lôgiích
với “Bản án chế độ thực dân Pháp” đã chỉ ra mục tiêu và con đường đi tới thắng
lợi của cách mạng Việt Nam. Trong tác phẩm người cho chúng ta thấy rằng cách
mạng Việt Nam không thể đi theo con đường cách mạng tư sản vì cách mạng tư sản
là cuộc cách mạng không đến nơi, chỉ có cách mạng vô sản là con đường duy nhất
giải phóng triệt để nhân dân lao động ra khỏi áp bức bóc lột, mới đem lại tự do,
hạnh phúc thực sự cho nhân dân Việt Nam. Người khảng định: “cách mệnh Pháp
hiện quyết tâm bảo vệ đến cùng nền độc lập, thống nhất ấy “thà hy sinh tất cả chứ
không chịu mất nước, chứ nhất định không chịu làm nô lệ”. Sau “tuyên ngôn độc
lập”, bản hiến pháp năm 1946 do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì soạn thảo đã khảng
định lại một lần nữa quan điểm của Người về một nhà nước độc lập, chủ quyền,
cộng hoà, dân chủ nhân dân. Sau 1954 trong điều kiện đất nước bị chia cắt Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã sác định nhiệm vụ cho cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ là
“Nhiệm vụ trước mắt của toàn dân ta là xây dựng và củng cố miền bắc tiến lên xã
hội chủ nghĩa đồng thời đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, nhằm xây dựng
một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ giầu mạnh”15. Từ đó
người xác định nhà nước muốn hoàn thành được chức năng nhiệm vụ của mình cần
phải không ngừng củng cố và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng “Nhà nước ta
thành lập sau cách mạng tháng Tám là nhà nước dân chủ nhân dân do giai cấp
công nhân lãnh đạo để đấu tranh xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thực
hiện thống nhất nước nhà, chúng ta cần phải không ngừng tăng cường sự lãnh đạo
của giai cấp công nhân đối với nhà nước dân chủ nhân dân”16. Ta thấy rằng tư
tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng chính quyền nhà nước giắn liền với quá trình hoạt
động cách mạng của Người và thông qua quá trình chỉ đạo cách mạng Việt Nam nó
15
16
Hồ Chí Minh toàn tập, Tập8, NxbCTQG, H2000, tr154.
Hồ Chí Minh toàn tập, Tâp 8, NxbCTQG, H2000, tr586.
21
mang tính cách mạng khoa học sâu sắc, nội dung của nó còn giữ nguyên giá trị cho
đến ngày nay.
22- Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước kiểu mới, của
sản dân tộc. bốn giai cấp ấy do giai cấp công nhân lãnh đạo, lấy công nông liên
minh làm nền tảng, đoàn kết các giai cấp dân chủ và các dân tộc trong nước để
thực hành dân chủ chuyên chính”17 .
Theo Hồ Chí Minh, trong nhà nước của dân, nhân dân thực hiện quyền làm
chủ của mình mà trước hết là quyền bầu ra nhà nước, bầu ra chính quyền các cấp,
nhà nước là tổ chức để thực hiện quyền lực của nhân dân. Nhân dân có quyền kiểm
tra giám sát hoạt động của nhà nước. Người nhắc nhở: “Chính phủ ta là Chính phủ
của nhân dân, chỉ có mục đích là ra sức phụng sự lợi ích của nhân dân. Chính phủ
rất mọng đồng bào giúp đỡ, đôn đốc kiểm soát và phê bình để làm chòn nhiệm vụ
của mình là người đầy tớ trung thành tận tuỵ của nhân dân ta”18. Muốn để nhân
dân kiểm soát nhà nước phải có cách tổ chức thuận tiện tránh cửa quyền hách
dịch… sinh thời Hồ Chí Minh thường xuyên căn dặn: “nạn lãng phí tham ô và
bệnh quan liêu mệnh lệnh trong công tác của các cấp lãnh đạo ở các cơ quan nhà
nước gây ra… vì vậy các cơ quan thanh tra nhà nước chẳng những kiểm tra chống
lãng phí, tham ô mà còn phải chống bệnh quan liêu, mệnh lệnh để giúp các cơ
quan nhà nước cải tiến công tác, giữ gìn kỷ luật, thực hành dân chủ, góp phần
củng cố bộ máy nhà nước… Đồng bào có oan ức, thắc mắc mới khiếu nại, ta giải
quyết tốt các công việc khiếu nại, đồng bào thấy Đảng và Chính phủ quan tâm lo
lắng đến họ, do đó, mối quan hệ giữa quần chúng nhân dân với Đảng và Chính
phủ được củng cố tốt hơn”19Nhân dân không những có quyền kiểm tra giám sát các
Hồ Chí Minh toàn tập, tập17, NxbCTQG, H2000, tr217
Hồ Chí Minh nhà nước và pháp luật, Nxb Pháp lý, H1995, tr221.
19 Hồ Chí Minh nhà nước và pháp luật, Nxb Pháp lý, H1995, tr228.
17
18
23
đại biểu, mà còn có quyền bãi miễn họ để nhà nước luôn sứng đáng là nhà nước
Nhà nước vì dân là hệ quả tất yếu của nhà nước của dân, do dân. nhà nước vì
dân là nhà nước làm lợi cho dân Người nhắc nhở: “chúng ta phải hiểu rằng các cơ
quan chính phủ từ toàn quốc đến các làng đều là công bộc của dân, nghiã là để
gánh vác việc chung cho dân, chứ không phải là đè đầu nhân dân như trong thời
kỳ dưới quyền thống trị của Pháp- Nhật. Việc gì có lợi cho dân ta, phải hết sức
làm. Việc gì có hại cho dân ta, ta phải hết sức tránh.”21 Nhà nước mà mọi chủ
chương chính sách, mọi quy định của pháp luật từ trung ương đến địa phương đều
phải xuất phát từ lợi ích của nhân dân: cả lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài; cả lợi
ích cá nhân và lợi ích tập thể. Biết bảo vệ nhân dân, kiên quyết chống lại những tệ
nạn vi phạm dân chủ và lợi ích của nhân dân, mọi cán bộ nhà nước đều phải hết
lòng phục vụ nhân dân, phải thực sự gương mẫu, thực sự trong sạch.
Tóm lại, tư tưởng nhà nước “thần dân”, Nhà nước “lấy dân làm gốc” đã sớm
xuất hiện ở nhà chính trị kiệt xuất Hồ Chí Minh, trong đó con người vừa là mục
tiêu và là lực lượng để xây dựng nhà nước. Nhà nước của dân, do dân và vì dân
không ngừng được Người phát triển trở thành một hệ thống lý luận quan trọng
trong hệ thống các quan điểm của Người về cách mạng Việt Nam có nội dung
phong phú và sâu sắc. Tư tưởng về xây dựng Nhà nước pháp quyền ccủa chủ tịch
Hồ Chí Minh đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Là phương hướng cho Đảng ta trong
việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay.
23- Sự vận dụng của Đảng ta về xây dựng nhà nước Việt Nam xã hội chủ
nghĩa trong thời gian qua.
Đảng cộng sản Việt Nam trong quá trình lãnh đạo cách mạng đã trung thành
và vận dụng sáng tạo, phát triển tư tưởng chuyên chính vô sản trong sự nghiệp cách
mạng. Ngay từ những năm 1930, trong “Chánh cương sách lược vắn tắt” và “Luận
cương chính trị” tháng 10 năm 1930, Hồ chí Minh và Đảng ta chỉ rõ: Con đường
21
Hồ Chí Minh toàn tập, T4, NxbCTQG, H2000, tr56