1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC XÂY DỰNG
nhµ níc ph¸p quyÒn x· héi chñ nghÜa ViÖt Nam
MỞ ĐẦU
Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, chính quyền nhà nước là vấn đề rất
mấu chốt, rất cơ bản mà giai cấp vô sản cùng nhân dân lao động phải nhận
thức sâu sắc và giải quyết chính xác trong cuộc đấu tranh để tự giải phóng
khỏi mọi ách áp bức, bóc lột giai cấp; cải tạo xã hội cũ và xây dựng thành
công xã hội mới. Xây dựng nhà nước pháp quyền là một yêu cầu tất yếu,
khách quan và phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Thực hiện dân chủ
là một trong những nội dung cơ bản của nhà nước pháp quyền, đặc biệt là
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Không
có nhà nước pháp quyền thực sự thì không có nền dân chủ rộng rãi và
bền vững. Dân chủ đóng vai trò cơ sở, động lực thúc đẩy sự phát triển
của nhà nước pháp quyền.
Xây dựng nhà nước pháp quyền là một đòi hỏi tất yếu, khách quan và phù
hợp với xu thế phát triển lịch sử chung của xã hội loài người, bởi nhà nước pháp
quyền là một giá trị chung của nhân loại trên con đường phát triển tiến bộ. Ở
nước ta vẫn đang tồn tại quan niệm xem nhà nước pháp quyền như là một sản
phẩm của chủ nghĩa tư bản, do đó nó là cái đã lỗi thời, không tiến bộ, trái ngược
và không thích dụng với chủ nghĩa xã hội. Cũng giống như thái độ không đúng
trước đây về kinh tế thị trường, quan niệm sai trái như vậy về nhà nước pháp
quyền đang gây cản trở đối với tiến trình phát triển xã hội nói chung, cho việc
xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân nói riêng.
Tại Đại hội toàn quốc lần thứ IX, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng
định: “Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân
2
dõn, l Nh nc phỏp quyn ca dõn, do dõn, vỡ dõn 1. Nh vy, i vi
V.I. Lờnin. Ton tp, t.39. Nxb Tin b, Mỏtxcva, 1977, tr. 75, 76
3
giai cấp thống trị được nâng lên thành luật. Trong chế độ công xã nguyên thuỷ
không có pháp quyền. Trật tự đời sống xã hội thời kỳ này được duy trì bằng
sức mạnh của tập quán, truyền thống, uy tín, tinh thần của trưởng lão thị tộc đại
diện cho lợi ích chung của các thành viên. Khi xã hội phân chia thành giai cấp,
những lợi ích đối lập nhau xuất hiện, tập quán, truyền thống, uy tín không thể
điều tiết được hành vi của con người, mà chỉ có pháp quyền. Xã hội có giai cấp
không thể tồn tại, nếu không thể chế hoá bằng pháp quyền các mối quan hệ sở
hữu, gia đình, hôn nhân và các quan hệ khác. Thông qua pháp quyền được trình
bày dưới hình thức luật, nhà nước thực hiện chức năng lập pháp.
Những tư tưởng coi trọng pháp luật trong cai trị và quản lý xã hội đã xuất
hiện từ thời cổ đại phương Đông và phương Tây. Mặc dù các tư tưởng triết
học về nhà nước và pháp quyền đã có từ rất sớm trong lịch sử nhưng lý thuyết
triết học về nhà nước và pháp quyền đạt tới trình độ lý thuyết về nhà nhà nước
pháp quyền hoàn chỉnh thì chỉ bắt đầu từ thời cận đại Tây Âu. Đây là thời kỳ
xác lập và phát triển nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa trong phạm vi
các quốc gia dân tộc tư sản. Đó cũng là thời kỳ diễn ra cuộc đấu tranh chính
trị giành quyền lực nhà nước giữa giai cấp tư sản và giai cấp phong kiến.
Thích ứng với nhu cầu xã hội ấy là các lý luận triết học pháp quyền của
Xpinôda, Lốccơ, Cantơ và Hêghen... trên lĩnh vực nghiên cứu về nhà
nước và pháp luật, Môngtexkiơ và Rútxô là những nhà lý luận nổi tiếng
về lý thuyết tổ chức nhà nước theo nguyên tắc “tam quyền phân lập”.
Với học thuyết phân quyền, họ đề cao dân chủ tư sản chống lại nhà nước
phong kiến. Thực chất của học thuyết này là dùng quyền lực để khống
chế quyền lực và dàn xếp mâu thuẫn trong nội bộ tư sản. Trong tổ chức
nhà nước cần phân chia độc lập các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp,
nhưng quyền lực thống trị của nhà tư sản chỉ là một.
5
t tng dõn ch, t tng cng ho v cỏch mng hỡnh thnh, phỏt trin
nhng quan im ca mỡnh.
Trc ht, t tiờu chớ cao dõn ch, phỏp lut v tớnh nhõn vn ca phỏp
lut nh l nhng giỏ tr c bn ca nh nc phỏp quyn, C. Mỏc, Ph.ngghen
đã nêu những t tởng sâu sắc về nhà nớc pháp quyền trong các tác phẩm Gia đình
thần thánh, Sự khốn cùng của triết học, Phê phán triết học pháp quyền của
Hêghen, và đặc biệt trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng cộng sản. C. Mỏc,
Ph.ngghen ó t vn xõy dng mt xó hi mi, mt xó hi m trong ú t
do ca mi ngi l iu kin phỏt trin t do ca tt c mi ngi 3. V gii
phúng con ngi l mc tiờu ca nh nc phỏp quyn kiu mi; ú l mt nh
nc t chc c i sng chung ca nhõn dõn, trong ú bo m c s phỏt
trin ti a v phỏt trin ton din con ngi.
V mt nh nc C.Mỏc ch trng xõy dng mt ch dõn ch trit
, dõn ch l do nhõn dõn t quy nh, l bc chuyn t xó hi thn dõn
sang xó hi cụng dõn, l t nhõn dõn ca nh nc sang Nh nc ca
nhõn dõn. Dõn ch l xut phỏt t con ngi v phỏp lut cng vỡ con ngi.
Trong xó hi mi s to ra iu kin c bn gii phúng cỏc cỏ nhõn; bi l
xó hi s khụng th gii phúng cho mỡnh c, nu khụng gii phúng mt cỏ
nhõn riờng bit. Do vy, xó hi phi c xõy dng trờn c s phỏp lut.
Nhng t tng c bn ca C.Mỏc, Ph.ngghen ó c V.I Lờnin
tip thu v phỏt trin trong quỏ trỡnh xõy dng mt nh nc kiu mi,
trong ú xỏc nh rừ mc ớch ca chớnh quyn Xụ Vit l thu hỳt nhng
ngi lao ng tham gia vo qun lý nh nc, thc hin mt nn dõn ch
rng rói nhm gii phúng con ngi v phỏt trin ton din con ngi
trong xó hi mi. Ngi cho rng khụng cú ch dõn ch thỡ ch ngha
xó hi s khụng thc hin c theo hai ngha sau õy:
3
thi hành quyền đó, hạn chế nó, thì như thế tức là phản lại dân chủ và hoàn
7
toàn từ bỏ nguyên tắc chủ yếu và nhiệm vụ của cuộc cách mạng xã hội chủ
nghĩa đã bắt đầu ở nước Nga.
Về mặt pháp luật. V.I Lênin khẳng định rõ vai trò của pháp luật về pháp
chế trong quản lý xã hội mới, coi đó là một trong những điều kiện cơ bản để
xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, nhà nước xã hội chủ nghĩa phải căn cứ vào
luật lệ của mình là điều kiện cần và đủ cho chủ nghĩa xã hội thắng lợi triệt để.
1.3. Tư tưởng của Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Tư tưởng Hố chí Minh về “nhà nước của dân,do dân và vì dân ” 4 của
Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự nhận thức và vận dụng sáng tạo tư tưởng của chủ
nghĩa Mác - Lênin về vấn đề chính quyền “vấn đề chủ yếu nhất của mọi cuộc
cách mạng”5 phù hợp với điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam. Tư tưởng
về nhà nước của dân, do dân, vì dân là một cống hiến về lý luận và thực tiễn
to lớn và đặc sắc của Hồ Chí Minh. Ngoài ra, trong tư tưởng về xây dựng nhà
nước kiểu mới, Hồ Chí Minh còn chỉ rõ: Bản chất dân chủ triệt để của nó; Sự
thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân với tính nhân dân và tính dân tộc
của Nhà nước; Kết hợp cả đạo đức và pháp luật trong quản lý xã hội.
Tư tưởng Hồ chí Minh về nhà nước của dân do dân và vì dân bao gồm
nhiều nội dung rộng lớn, phong phú, có quan hệ mật thiết với nhau. Trong đó có nội
dung tư tưởng chủ yếu có liên quan trực tiếp tới việc xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. Được thể hiện ở các nội dung sau:
Một là, về quyền lực của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là
quyền lực của nhân dân.
Để có một Nhà nước pháp quyền XHCN thì vấn đề cơ bản, đầu tiên là
quyền lực nhà nước là của nhân dân, nhân dân là chủ tối cao và duy nhất của
quyền lực Nhà nước. Nếu quyền lực Nhà nước trên thực tế chỉ thuộc về thiểu
. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị Quốc gia, H.1996, tr.310.
6
7
Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị Quốc gia, H.1995, tr.698.
8
Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị Quốc gia, H.1995, tr.698.
9
Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị Quốc gia, H.1984, tr.6.
10
Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị Quốc gia, H.1995, tr.133.
9
bản chất giai cấp công nhân và từ đó mới có được tính chất nhân dân triệt
để, mới bảo đảm được mọi quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân lao động.
Hai lµ, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phải là một nhà nước hợp
hiến ,thực hiện việc quản lí điều hành xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật.
Để Nhà nước là tổ chức mà ở đó “bao nhiêu quyền hạn đều của dân” thì
Nhà nước phải thực hiện bằng một cơ chế có hiệu quả.
Hiện nay chúng ta đang xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân,
do dân, vì dân, Nhà nước này phải có được giá trị cơ bản là thật sự đề cao
Vấn đề đặt ra là phải có một đội ngũ cán bộ công chức Nhà nước thật sự
vì dân, đặt lợi ích của dân lên trên hết, không chuyển quyền lực của Nhà nước
thành quyền lực cá nhân để áp bức và chiếm đoạt của cải của dân. Hồ Chí
Minh yêu cầu: “Để xứng đáng với vinh dự to lớn là đầy tớ tuyệt đối trung
thành của nhân dân, các đại biểu quốc hội và cán bộ chính quyền cần phải:
Thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Gương mẫu về mọi mặt:
đoàn kết công tác, học tập, lao động. Luôn luôn giữ vững tác phong khiêm
tốn, chất phác và hoà mình với quần chúng thành một khối”13.
Bốn là, xây dựng nhà nước trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu
quả, đề phòng và khắc phục những tiêu cực trong hoạt động của Nhà nước.
Xây dựng một Nhà nước của dân, do dân, vì dân không bao giờ tách rời
với việc làm cho Nhà nước luôn luôn trong sạch, vững mạnh. Trong quá trình
lãnh đạo Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Hồ Chí Minh thường chỉ rõ
những tiêu cực sau đây và nhắc nhở mọi người đề phòng, khắc phục: Đặc quyền,
đặc lợi; Tham ô, lãng phí, quan liêu. Hồ Chí Minh coi đây là những “giặc nội
xâm”, “giặc trong lòng”, thứ giặc còn nguy hiểm hơn cả giặc ngoại xâm
11
Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.7, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1996, tr.453
12
Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.11, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1996, tr.234
13
Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.4, Nxb Chính trị Quốc gia. Hà Nội.1995, tr.56, 57
11
Thứ ba, nhà nước và nhân dân bảo đảm trách nhiệm lẫn nhau, có quan
hệ mật thiết và ràng buộc lẫn nhau về quyền và nghĩa vụ do pháp luật điều
chỉnh. Bảo đảm đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân là trách nhiệm của Nhà
nước. Nhà nước chịu trách nhiệm trước công dân về những hoạt động của
mình và công dân chịu trách nhiệm trước Nhà nước về những hành vi vi
phạm pháp luật của mình.
Thứ tư, Nhà nước pháp quyền phải có hình thức tổ chức quyền lực thích
hợp để thực hiện hữu hiệu việc xây dựng hệ thống pháp luật, giám sát sự tuân
thủ pháp luật, xử lý các vi phạm pháp luật, bảo đảm cho pháp luật được thực
hiện một cách nghiêm minh.
Hiện nay trên thế giới, dựa trên các nguyên tắc và các đặc trưng của nhà
nước pháp quyền, một quốc gia, dân tộc xây dựng và phân công quyền lực
nhà nước riêng của mình xuất phát từ điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, lịch
sử và truyền thống dân tộc. Không thể có một “mô hình kiểu mẫu” duy nhất
của nhà nước pháp quyền, bắt buộc các dân tộc phải tuân theo.
2. Quá trình nhận thức và những thành tựu, hạn chế về xây dựng
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2.1 Quá trình nhận thức về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam.
Tư tưởng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà Đảng ta khẳng định
trong quá trình đổi mới có cơ sở tư tưởng dân chủ và xây dựng nhà nước pháp
quyền trong lịch sử, đặc biệt là kế thừa giá trị của nền dân chủ tư sản và tư
tưởng dân chủ, xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam của Chủ tịch Hồ Chí
Minh. Nhận thức về xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam được thể
hiện qua các Văn kiện của Đảng trong công cuộc đổi mới như sau:
Đại hội lần thứ VI, Đảng khởi xướng đường lối đổi mới, trong đó lấy
đổi mới kinh tế làm trọng tâm, từng bước đổi mới hệ thống chính trị. Đảng đã
13
của pháp chế xã hội chủ nghĩa kết hợp với sức mạnh của dư luận nhân dân để
đấu tranh những hành vi vi phạm pháp luật. Coi trọng công tác giáo dục,
tuyên truyền, giải thích pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống và cuộc sống
phải được phản ánh vào pháp luật.
Có thể coi những nhận thức trên là cơ sở, tiền đề quan trọng cho sự tiếp
tục phát triển tư duy lý luận của Đảng ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Đại hội lần thứ VII của Đảng tuy chưa nêu lên khái niệm nhà nước pháp
quyền nhưng đã xác định rằng: tiếp tục cải cách bộ máy nhà nước theo
phương hướng: Nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân, Nhà nước quản lý
xã hội bằng pháp luật, dưới sự lãnh đạo của Đảng; tổ chức hoạt động theo
nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện thống nhất quyền lực nhưng phân
công, phân cấp rành mạch; bộ máy tinh giảm, gọn nhẹ và hoạt động có chất
lượng cao trên cơ sở ứng dụng các thành tựu khoa học, kỹ thuật quản lý.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CHXH do Đại hội
VII của Đảng thông qua, đã xác định rằng: toàn bộ tổ chức và hoạt động của
hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng
bước hoàn thiện nền dân chủ XHCN, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân.
Nhà nước định ra các đạo luật nhằm xác định các quyền công dân và quyền
con người, quyền đi đôi với nghĩa vụ và trách nhiệm.
Đến Đại hội giữa nhiệm kỳ khoá VII, nhận thức mới của Đảng ta về
nhà nước pháp quyền khá toàn diện và cụ thể. Hội nghị khẳng định tiếp tục
xây dựng và từng bước hoàn thiện nhà nước pháp quyền Việt Nam, đó là
nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, quản lý mọi mặt đời
sống xã hội bằng pháp luật. Nhà nước pháp quyền Việt Nam được xây
dựng trên cơ sở tăng cường, mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, lấy liên
15
minh giai cấp công nhân với nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng do
nh nc phỏp quyn xó hi ch ngha trong iu kin chuyn i nn kinh
t l nhim v mi m, hiu bit ca chỳng ta cũn ớt, cú nhiu vic phi va
lm, va tỡm tũi, rỳt kinh nghim.
i hi IX ch rừ: Nh nc ta l nh nc phỏp quyn ca dõn, do dõn, vỡ
dõn. Quyn lc nh nc l thng nht, cú s phõn cụng v phi hp gia cỏc c
quan Nh nc trong vic thc hin cỏc quyn lp phỏp, hnh phỏp v t phỏp.
i hi XI mt ln na nhn mnh Nh nc ta l Nh nc phỏp quyn
xó hi ch ngha ca nhõn dõn, do nhõn dõn, vỡ nhõn dõn, do ng lónh
o. Nh nc chm lo, phc v nhõn dõn, bo v cỏc quyn v li ớch
chớnh ỏng ca nhõn dõn. T chc v hot ng ca b mỏy nh nc
theo nguyờn tc tp trung dõn ch. Quyn lc nh nc l thng nht, cú
s phõn cụng phi hp v kim soỏt gia cỏc c quan trong vic thc hin
cỏc quyn lp phỏp, hnh phỏp v t phỏp.14
2.2. Nhng thnh tu v xõy dng nh nc phỏp quyn xó hi ch
ngha vit Nam.
T i hi VII (nm 1991) ca ng n nay, tỡnh hỡnh hot ng ca
b mỏy nh nc núi chung cú tin trin theo chiu hng tt. õy l giai
on chỳng ta t c nhiu thnh tu quan trng v lnh vc kinh t. Cỏc
tin kinh t, chớnh tr, t tng, xó hi v quc t thỳc y s hỡnh thnh
ngy cng y v ton din hn nhng t tng, quan im, s lónh o,
ch o xõy dng Nh nc phỏp quyn xó hi ch ngha Vit Nam.
Cú th núi, vn xõy dng Nh nc phỏp quyn nc ta tuy cũn
mi m, nhng nú ang m ra phng hng mi y trin vng khi xỏc
nh ú l Nh nc phỏp quyn xó hi ch ngha Vit Nam trong nn kinh
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG,
H, 2011, tr.52
14
17
Tư duy lý luận nảy sinh trong quá trình đổi mới về xây dựng Nhà nước
là nguyên tắc quyền lực nhà nước thống nhất có sự phân công, phối hợp giữa
các cơ quan thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nguyên tắc
này được thể chế hoá trong lần sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp
năm 1992 và các luật tổ chức bộ máy nhà nước.
Quốc hội đã xây dựng được nhiều đạo luật tạo khung pháp lý cho sự phát
triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; chế độ sở hữu và
các hình thức sở hữu, địa vị pháp lý của các doanh nghiệp, thương gia, quyền
tự do kinh doanh và tự do hợp đồng, các cơ chế khuyến khích và bảo đảm đầu
tư, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội đã từng bước được
xác lập. Nhìn chung, các thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa đã bước đầu hình thành.
Pháp luật trong lĩnh vực hành chính nhà nước đã có những đổi mới tích
cực. Chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước, nhiệm vụ, quyền hạn
của công chức, nội dung và trách nhiệm công vụ được phân định rành mạch,
rõ ràng hơn; thủ tục hành chính bước đầu cải cách theo hướng đơn giản, công
khai, dễ tiếp cận, dễ kiểm tra, giám sát đã đạt được những kết quả bước đầu
tích cực; các dịch vụ công đang dần dần được xác lập, từng bước đáp ứng nhu
cầu của nhân dân và yêu cầu của cải cách hành chính.
Pháp luật về lao động, viêc làm, an sinh xã hội và các lĩnh vực xã hội
khác đã được quan tâm xây dựng, góp phần phát triển kinh tế đi đôi với hạn
chế những tiêu cực của nền kinh tế thị trường. Các chủ trương xoá đói giảm
nghèo, công bằng xã hội, đền ơn đáp nghĩa đã được thể chế hoá thành luật
và pháp lệnh.
Pháp luật trong lĩnh vực quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội
được tăng cường, góp phần giữ vững ổn định chính trị, phòng chống tội phạm
và vi phạm pháp luật. Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, phát triển
19
quyền lực đã được khẳng định tại Điều 2 của Hiến pháp.
2.3. Những hạn chế về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam.
Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa còn nhiều lúng
túng, hạn chế. Các nguyên tắc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, trong đó có ba vấn đề cốt lõi
mang bản chất của Nhà nước ta chưa được thể chế hóa đầy đủ.
Quan niệm chưa thật rõ về sự thống nhất quyền lực nhà nước, về sự phân
công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập
pháp, hành pháp và tư pháp. Trong thực tế còn chồng chéo về trách nhiệm và
thẩm quyền của các cơ quan đó. Vai trò, vị thế của Tòa án còn yếu, chưa tương
xứng với chức năng bảo vệ công lý. Cải cáh bộ máy nhà nước, đặc biệt là cải
cách hành chính, cải cách tư pháp thực hiện còn chậm. Bộ máy hành chính còn
nhiều bất hợp lý về cơ cấu tổ chức, chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ.
Hiệu lực quản lý, điều hành của Nhà nước còn yếu và chưa thông suốt.
Tính chủ động, ý thức trách nhiệm của tưng địa phương chưa được phát huy
đầy đủ. Nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của bộ máy
nhà nước chưa được thực hiện nhất quán. Hệ thống pháp luật chưa đồng bộ,
việc thực thi pháp luật chưa nghiêm, ý thức chấp hành pháp luật chưa cao; kỷ
cương phép nước còn bị xem nhẹ ở nhiều nơi; tệ cửa quyền, quan liêu, tham
nhũng, lãng phí chưa được đẩy lùi.
Như vậy, chúng ta chưa có những định hướng cải cách rõ ràng, đáng kể
về bộ máy lập pháp, hành pháp, tư pháp, chưa theo kịp với sự vận động khách
quan của công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội. Những chủ trương, định hướng
phát triển hệ thống pháp luật còn manh mún, thiếu tầm nhìn bao quát. Vị trí
của pháp luật trong đời sống xã hội chưa thực sự được tôn trọng đúng mức.
21
Tổng kết hơn 25 năm đổi mới có thể rút ra những bài học kinh nghiệm
nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước và mọi thành viên trong xã hội phải
tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật.
Thứ hai, nhà nước pháp quyền là nhà nước bảo đảm quyền lực nhà nước
thuộc về nhân dân. Nhân dân thực hiện quyền lực của mình thông qua hình
thức dân chủ đại diện và hình thức dân chủ trực tiếp.
Thứ ba, nhà nước pháp quyền là nhà nước thực hiện việc quản lý xã hội
bằng pháp luật, tăng cường pháp chế trong xã hội, xử lý nghiêm minh mọi vi
phạm pháp luật, bảo đảm thực hiện và bảo vệ được các quyền tự do và lợi ích
chính đáng, hợp pháp của công dân, chịu trách nhiệm trước công dân về mọi
hoạt động của mình. Nhà nước tôn trọng và thực hiện đầy đủ các điều ước
quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã cam kết.
Thứ tư, nhà nước pháp quyền là nhà nước tổ chức theo nguyên tắc quyền lực
nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước
trong việc thực hiện ba quyền: lập pháp, hành pháp, và tư pháp, nhằm hạn chế sự
lộng quyền, lạm quyền, xâm hại tới lợi ích hợp pháp của công dân từ phía nhà nước.
Thứ năm, nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt
Nam lãnh đạo, đồng thời đảm bảo sự giám sát của nhân dân, sự phản biện xã
hội của Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận.
3.2 Phương hướng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
ở nước ta hiện nay.
Thứ nhất, xây dựng và từng bước hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của dân, do dân, vì dân, quản lý mọi mặt
đời sống xã hội bằng pháp luật
Quan điểm này thể hiển bản chất của Nhà nước ta và đã được khẳng định
trong tất cả các bản Hiến pháp. Đặc biệt Hiến pháp 1992 (sửa đổi) đã khẳng
định “ Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp
23
quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả các
24
xã hội, thực hiện chuyên chính đối với các phần tử phá hoại chủ quyền an
ninh quốc gia, xâm phạm lợi ích của nhân dân.
Thứ hai, xây dựng bộ máy nhà nước theo nguyên tắc quyền lực nhà nước
là thống nhất ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp
Cải cách, đổi mới, tinh giản, gọn nhẹ các cơ quan nhà nước, bảo đảm
hiệu lực, hiệu quả, đúng chức năng và phối hợp chặt chẽ trong hoạt động của
các cơ quan đó, lập pháp, hành pháp và tư pháp đều hoạt động theo nguyên
tắc tập trung dân chủ, nhưng nguyên tắc đó phải được vận hành sáng tạo, cụ
thể, phù hợp với chức năng, nội dung tổ chức, hoạt động của từng lĩnh vực.
Đẩy nhanh và nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp, lập quy, đáp ứng
yêu cầu quản lý xã hội bằng pháp luật, khắc phục những yếu kém về vai trò,
hiệu lực của pháp luật, yếu kém về ý thức của pháp luật, xúc tiến xây dựng hệ
thống pháp luật đồng bộ, nhất quán, thể chế hóa đường lối của Đảng trên tất
cả các lĩnh vực đời sống xã hội. Tạo cơ sở hành lanh pháp luật để thực hiện
dân chủ rộng rãi và tăng cường kỷ cương xã hội, thực hiện nhà nước pháp
quyền Việt Nam của dân, do dân, vì dân, đồng thời coi trọng giáo dục, nâng
cao đạo đức xã hội chủ nghĩa.
Hiến pháp 1992 xác định rõ Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao
nhất; Chủ tịch nước là người đứng đầu nhà nước; Chính phủ là cơ quan hành
chính nhà nước cao nhất; Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất. Như
vậy, điều hiển nhiên là mỗi một cơ quan nêu trên đều ở vị trí cao nhất của quốc
gia, có chức năng riêng, quyền hạn riêng và có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau.
Phân tích các quy định của Hiến pháp 1992 và các luật về tổ chức và
hoạt động của các cơ quan nhà nước cao nhất ở Nước ta, đều nhận thấy sự
phân công, phân nhiệm về quyền hạn, nhiệm vụ, chức năng giữa 3 quyền
lập pháp, hành pháp và tư pháp đã được xác định. Quốc hội thực hiện
quyền lập hiến và lập pháp, Chính phủ thực hiện quyền hành pháp, Toà án