TIỂU LUẬN tư TƯỞNG hồ CHÍ MINH về NHÀ nước KIỂU mới và một số vấn đề xây DỰNG NHÀ nước PHÁP QUYỀN xã hội CHỦ NGHĨA ở VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 39

Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước kiểu mới và vấn đề xây
dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện
nay
Mở đầu
Trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng về Nhà nước kiểu mới là
nội dung cơ bản chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống qua điểm, tư
tưởng cách mạng của Người. Tư tưởng về nhà nước của dân, do dân và vì dân
sớm hình thành ở Hồ Chí Minh và Người đã hiện thực hóa những tư tưởng đó
ngay sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời. Nghiên cứu tư tưởng Hồ
Chí Minh về Nhà nước kiểu mới ở Việt Nam có ý nghĩa cấp thiết về lý luận và
thực tiễn đối với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
của dân, do dân và vì dân đáp ứng những yêu cầu của nền kinh tế thị trường và hội
nhập quốc tế.
Quan tâm xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước là đòi hỏi khách quan.
Đảng ta khẳng định: Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
nhà nước của dân, do dân, vì dân. Ở đó quyền làm chủ của nhân dân được
bảo đảm và phát huy trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong nhà nước
đó, dân chủ được bảo đảm bằng pháp luật, dân chủ đi đôi với kỷ cương trật
tự, được thể chế hoá bằng pháp luật, trong khuôn khổ pháp luật. Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam biểu hiện trực tiếp sức mạnh của của
hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó là một
nhà nước đại diện cho quyền lực của nhân dân, mọi tổ chức nhà nước dựa
trên nền dân chủ, vì dân chủ và do đó, bằng pháp luật và vì công lý. Điều đó
đã được thực tiễn chứng minh từ khi nhà nước ra đời đến nay


1. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước kiểu mới
ở Việt Nam.
Xuất phát từ quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề nhà nước và
xây dựng nhà nước kiểu mới.

nghĩa xã hội, nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa luôn khẳng định vị trí vai
trò và sức mạnh to lớn to lớn và hoàn thành sứ mệnh cao cả của mình.
2. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước kiểu mới.
2.1. Nhà nước kiểu mới là nhà nước của dân, do dân, vì dân
Tư tưởng cốt lõi và nhất quán của Hồ Chí Minh về Nhà nước Việt
Nam, đó là một chính quyền mạnh, một chính quyền sáng suốt, một chính
quyền của dân, do dân, thành lập và hoạt động vì nhân dân.
* Nhà nước của dân
Đó là nhà nước thể hiện đầy đủ tư tưởng “Bao nhiêu quyền hạn đều vì
dân”. Nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước. Nguồn gốc của quyền lực
nhà nước bắt nguồn từ nhân dân. Để nhà nước thực sự của dân, Hồ Chí Minh
yêu cầu không chỉ thể hiện bằng những khẩu hiệu trìu tượng, mà phải xác lập
bằng một cơ chế khoa học. Đó là cơ chế nhân dân tạo ra quyền lực nhà nước
một cách dân chủ, nhân dân có quyền kiểm soát quyền lực nhà nước một cách
hữu hiệu và nhân dân có quyền thu hồi lại quyền lực nhà nước nếu có sự tha
hoá từ chính cán bộ của nhà nước. Để xây dựng nhà nước của dân Hồ Chí
Minh đã nêu lên và thực hiện 3 vấn đề sau:
1

Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 216


1. Xây dựng một chế độ dân bầu cử dân chủ nhằm bảo đảm “chính
quyền từ xã đến chính phủ, Trung ương do nhân dân bầu cử ra”. Cách mạng
Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ động xây dựng Nhà
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà - nhà nước pháp quyền, hợp pháp, hợp
hiến, dân chủ và coi trọng tính hiệu lực, hiệu quả thực tế - một cách bài
bản, quy củ, đúng đắn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm cả hai mặt:
nhanh chóng tổ chức các thiết chế của bộ máy nhà nước và ban hành các
thể chế (hiến pháp và pháp luật) tạo cơ sở pháp lý và khoa học để tổ chức

bộ. Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, đảng viên phỉa đi sâu, đi sát nhân dân, học
hỏi nhân dân, đúc kết ý kiến của nhân dân để khái quát thành chủ trương, kế
hoạch của người lãnh đạo rồi trở lại phục vụ nhân dân.
Ngoài những nội dung nhân dân thực hiện theo pháp luật, thì còn có
những vấn đề xã hội hoá sâu sắc trên các địa bàn dân cư phải do dân cư bàn
bạc, tự tổ chức, tự quản lý. Vấn đề này đồng nghĩa với việc nhân dân làm
chủ.
* Nhà nước vì dân
Trước hết nhà nước phải tôn trọng và bảo vệ quyền con người và
quyền công dân trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị , xã hội, đảm bảo quyền
làm chủ của nhân dân trong phạm vi cả nứơc, từng địa phương, từng cơ sở
và tập thể lao động. Trong thực tế, Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc thảo
luận, phát huy sáng kiến và tìm cách giải quyết mọi vấn đề của nhân dân.
Người chỉ rõ rằng: "Nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì để họ
đề nghị sửa chữa. Dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ
chức của ta"6.
Nhà nước vì dân thể hiện ở tinh thần “bao nhiêu lợi ích đề vì dân” để
thực sự nhà nước vì dân, Hồ Chí Minh chỉ rõ; các cơ quan của chính phủ,
cán bộ từ trung ương đến cơ sở là người “đầy tớ”, “công bộc” của nhân dân,
ở đây cũng phải hiểu rằng “đầy tớ” không có nghĩa là người ăn ở phục dịch
“bị sai khiến” mà là những công chức chuyên thực thi công vụ (tức là việc
6

Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 297


công) trong các cơ quan nhà nước, không vì tư lợi, mà vì lợi ích của toàn thể
nhân dân , trước hết là nhân dân lao động. Vì vậy, Hồ Chí Minh yêu cầu”
việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức
tránh”7. Người nhấn mạnh: “phải thường xuyên chăm lo xây dựng đội ngũ

cấp công nhân với tính nhân dân, tính dân tộc của nhà nước ta
Về lý luận, các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học đã đề cập rất
sâu sắc bản chất giai cấp của nhà nước. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã khẳng định
nhà nước là sản phẩm của xã hội từ khi có giai cấp. Như vậy, nhà nước chỉ
xuất hiện và tồn tại khi nào trong xã hội có giai cấp. Các nhà kinh điển còn
cho rằng, nhà nước là ý chí và sự cai trị của một giai cấp nhất định trong xã
hội.
Trung thành với chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh khẳng định, nhà
nước Việt Nam ra đời sau cách mạng tháng Tám năm 1945 mang bản chất
giai cấp công nhân. Theo Hồ Chí Minh bản chất giai cấp công nhân của nhà
nước kiểu mới ở Việt Nam được thể hiện trên những mặt chủ yếu sau:
* Nhà nước ta do Đảng Cộng sản lãnh đạo
Đây là điều mà Hồ Chí Minh luôn luôn nhấn mạnh. Người xác định rõ
vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền. Đó là chức năng
của một Đảng cộng sản sau khi lãnh đạo toàn dân khởi nghĩa giành được
chính quyền về tay nhân dân. chính quyền nhà nước đó, xét cho đến cùng là
kết quả phấn đấu bền bỉ của Đảng Cộng sản Việt Nam trên cơ sở thực hiện ý
chí, nguyện vọng của nhân dân và toàn thể dân tộc Việt Nam. Mục tiêu hoạt
động của nhà nước ta phù hợp với vai trò và sứ mệnh lịch sử của giai cấp
công nhân Việt Nam; bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựng thành công chủ
nghĩa xã hội, giải phóng giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc.
Ngay trong giai đoạn chính quyền nhà nước còn non trẻ, trong tình thế
thù trong, giặc ngoài, “ngàn cân treo trên sợi tóc”, nhưng nhà nước ta vẫn


đặt đưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Nói đúng hơn là nhân dân uỷ thác
cho đảng lãnh đạo xã hội, lãnh đạo nhà nước trong bất kỳ tình huống nào.
* Nhà nước ta dựa trên khối đoàn kết toàn dân mà nòng cốt là liên
minh công nhân, nông dân, trí thức do giai cấp công nhân lãnh đạo.
Hình mẫu nhà nước Xô Viết đã được các nghị quyết của Quốc tế III

rời giữa bản chất giai cấp công nhân với tính nhân dân và tính dân tộc. Suy
rộng ra, chúng ta thấy Người đã giải quyết thành công mối quan hệ biện
chứng giữa Nhà nước với các bộ phận hợp thành của hệ thống chính trị, trong
đó Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ.
2.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước pháp quyền
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người có ý thức sớm về tầm quan trọng
của pháp luật trong quản lý xã hội. Năm 1919, trong yêu sách của người
dân An Nam, ký tên Nguyễn ái Quốc, gửi tới Vecxây, Hồ Chí Minh đã
quan tâm đến vấn đề pháp luật, yêu cầu thực dân Pháp thay thế chế độ ra
sắc lệnh ở Đông Dương bằng việc ra các đạo luật, cải cách nền công lý ở
Đông Dương; người bản xứ cũng có quyền được hưởng những bảo đảm
pháp luật xoá bỏ các toà án đặc biệt…
Sau khi Người đọc Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố với đồng bào
trong nước và thế giới về sự khai sinh ra Nhà nước kiểu mới ở Việt Nam.
Tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
(3.9.1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập sáu vấn đề cấp bách, trong đó
vấn đề thứ ba là: "Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị
Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ
phổ thông đầu phiếu" 9 để sớm có một nhà nước hợp hiến do nhân dân
bầu ra. Ngày 20 tháng 9 năm 1945, Người ký Sắc lệnh số 34 thành lập
Uỷ ban dự thảo Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà để
chuẩn bị đệ trình quốc hội. Uỷ ban gồm 7 vị, do Người làm Trưởng ban.
9

Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 8


Mặc dù trước những khó khăn dồn dập do thù trong, giặc ngoài gây
ra, cuộc Tổng tuyển cử trong cả nước đã được tiến hành chỉ bốn tháng sau
ngày độc lập. Đây là một cuộc phổ thông đầu phiếu được tổ chức nhanh

xã hội chủ nghĩa, thể hiện trong cả nhận thức và hành động.
Hăng hái, thạo việc là yêu cầu đối với cán bộ, công chức trong các cơ
quan nhà nước, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ phải vững thì bộ máy nhà
nước mới mạnh, đủ năng lực thi thực thi quyền lực của nhân dân.
Thường xuyên liên hệ mật thiết với nhân dân. Đây là một nguyên tắc mà
Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh. Bởi vì, nếu coi nhà nước ta thể hiện quyền lực
của dân nhưng cán bộ, công chức nhà nước xa rời nhân dân, quan liêu, cửa
quyền, hách dịch…thì sẽ phản lại nguyên tắc ấy.
Có “gan quyết đoán” giám làm, giám chịu trách nhiệm nhất là khi gặp
những tình huống khó khăn . Hồ Chí Minh luôn đòi hỏi cán bộ, công chức phải
quán triệt phương châm thất bại không hoang mang, thắng lợi không kiêu ngạo,
công thần, “Lúc thi hành thì kiên quyết, gan góc”. Hồ Chí Minh nhắc nhở cần
hết sức tránh tình trạng để đội ngũ cán bộ thụ động, ỷ lại.
Biết việc, biết người không thành kiến hẹp hòi đố kỵ; không dấu diếm
khuyết điểm; thành khẩn trung thực, có chí tiến thủ.
*Về lựa chọn đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước
Hồ Chí Minh coi trọng cái “đức”, đồng thưòi coi trọng tính chất nghề
nghiệp cũng như sự thành thạo công việc của đội ngũ cán bộ, công chức nhà
nước. Do đó, Hồ Chí Minh thấy cần thiết phải có một chế độ tuyển dụng chặt
chẽ, phù hợp với sự nghiệp cách mạng của từng thời kỳ.
Trong sắc lệnh số 188 năm 1948 và sắc lệnh số 76 năm 1950, Hồ Chí
Minh đề ra các quy định tuyển chọn cán bộ, công chức vào các ngạch bậc của
nện hành chính quốc gia. Các môn thi được quy định là chính trị, kinh tế, pháp
luật, địa lý, lịch sử.


Chủ tịch Hồ Chí Minh còn ký sắc lệnh số 13 ngày 24/1/1946 quy định
tiêu chuẩn chuyên môn hoá cán bộ tư pháp. Chẳng hạn, thẩm phán sơ cấp
phải là người có quốc tịch Việt Nam, hạnh kiểm tốt, chưa can án, 21 tuổi trở
lên, có bằng tú tài, trúng tuyển các kỳ thi. Đối với thẩm phán đệ nhị cấp,

pháp huy, mở rộng và càng hoàn thiện trên nhiều lĩnh vực cả kinh tế, chính
trị, văn hoá, xã hội… Quyền của nhân dân lao động ngày càng được khẳng
định trong đời sống xã hội. Hệ thống hành chính nhà nước các cấp đang đổi
mới từng bước cả thể chế, chức năng, nhiệm vụ…chuyển dần sang phương
thức quản lý xã hội chủ yếu bằng pháp luật, phân biệt chức năng quản lý vĩ
mô của nhà nước với quyền cụ thể của người lao động.
Quốc hội đã có nhiều đổi mới về nội dung và phương thức hoạt động,
giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Quốc hội đã ban hành được nhiều nhiều bộ luật, luật, pháp lệnh, thể chế hoá
đường lối, chính sách của Đảng, cụ thể hoá các quy định của của hiến pháp
nhằm tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ và phát huy quyền làm
chủ của nhân dân. Quy trình xây dựng pháp luật ngày càng được cải tiến và
không ngừng hoàn thiện. Quốc hội đã quan tâm và làm khá tốt công tác
giám sát nhất là giám sát việc thực hiện giải pháp chống tiêu cực tham
nhũng trong đời sống xã hội. Giám sát của quốc hội góp phần bảo đảm cho
bộ máy nhà nước hoạt động đúng chức năng; bảo đảm hiến pháp và pháp
luật nhà nước và chính sách của nhà nước được thi hành nghiêm chỉnh.
Bộ máy hành chính nhà nước các cấp đã giảm dần và trực tiếp
tham gia vào quản lý sản xuất, kinh doanh, hướng mạnh vào chức năng
quản lý vĩ mô của Chính phủ, các bộ. Chính phủ và các cơ quan hành
chính các cấp đã có những đổi mới về tổ chức và điều hành, quản lý đất
nước bằng pháp luật, tập trung chủ yếu vào đổi mới, sử dụng có hiệu quả


các công cụ quản lý. Chính phủ đã cải cách thể chế và thủ tục hành chính
trong các lĩnh vực kinh tế – xã hội.
Các cơ quan tư pháp được kiện toàn đổi mới về một bước về tổ chức
và hoạt động về phối hợp đấu tranh phòng chống tiêu cực tham nhũng, giải
quyết các tranh chấp góp phần giữ vững anh ninh chính trị, trật tự an toàn xã
hội.

kém năng động, thiếu phối hợp nên công việc chồng chéo và cản trở lẫn
nhau. Trong một thời gian dài hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ cơ sở xã,
phường, thị trấn không được quan tâm không được quan tâm xây dựng. Đội
ngũ cán bộ công chức trong các cơ quan và chính quyền nhà nước tuy có
nhiều tiến bộ, nhưng chưa ngang tầm nhiệm vụ, quy chế công chức chưa
theo kịp với sự vận động phát triển của đời sống xã hội hiện hành.
Bốn là, công cuộc cải tổ nền hành chính tiến hành còn chậm, kỷ luật,
kỷ cương chưa nghiêm minh. Thời gan qua tuy đã có một số bước tiến về
xây dựng thể chế, giảm bớt nhiều thủ tục phiền hà, nhưng hệ thống hành
chính nhà nước từ Trung ương đến cơ sở vẫn còn nhiều yếu kém, bộ máy và
đội ngũ cán bộ, công chức chưa ngang tầm với sự nghiệp đổi mới và phát
triển đất nước. Cải cách hành chính chưa đi liền và đồng bộ với đổi mới và
kiện toàn hệ thống chính trị nên kết quả bị hạn chế. Nhiều luật ban hành có
hiệu lực, nhưng chậm cụ thể hoá và hướng dẫn thực hiện, cá biệt có những
quy định của địa phương trái với quy định của pháp luật.
Đánh giá về hạn chế của bộ máy nhà nước Đảng ta chỉ rõ: “cải cách
hành chính chưa đạt yêu cầu đề ra, thủ tục hành chính còn gây phiền hà cho
tổ chức và công dân…quan liêu tham nhũng vẫn còn nghiêm trọng, với


những biểu hiện tinh vi, phức tạp, chưa được ngăn chặn đẩy lùi, gây bức xúc
xã hội”12.
Nguyên nhân yếu kém của nhà nước
Về khách quan đánh giá; do còn nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn
chưa được giải quyết và làm sáng tỏ. Mặt khác việc xây dựng nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa trong điều kiện đang chuyển đổi nền kinh tế- là một
nhiệm vụ mới mẻ trong chúng ta còn có quá ít những kinh nghiệm về công
việc này.
Việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong điều kiện
nước ta đa dạng hoá các thành phần kinh tế với nhiều hình thức sở hữu khác

giải pháp cơ bản sau:
Thứ nhất, nâng cao nhận thức về xây dựng nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa.
Đẩy mạnh việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm
là Nhà nước thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, do Đảng lãnh
đạo; thực hiện tốt chức năng quản lý kinh tế và đời sống xã hội; giải quyết đúng
mối quan hệ giữa Nhà nước với các tổ chức khác trong hệ thống chính trị, với
nhân dân, với thị trường. Nâng cao năng lực quản lý và điều hành của Nhà nước
theo pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và kỷ luật, kỷ cương. Nhà
nước chăm lo, phục vụ nhân dân, bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng của mọi
người dân.
Nghiên cứu xây dựng, bổ sung các thể chế và cơ chế vận hành cụ thể để
bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và nguyên tắc
quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa
các cơ quan trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý kinh tế của Nhà nước phù hợp với
yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tiếp tục hoàn


thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách để vận hành có hiệu quả nền kinh tế
và thực hiện tốt các cam kết quốc tế, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc.
Tiếp tục xây dựng, từng bước hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính
hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công
quyền.
Thứ hai, tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước.
Đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, bảo đảm Quốc hội thực sự là
cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất.
Hoàn thiện cơ chế bầu cử đại biểu Quốc hội để cử tri lựa chọn và bầu những
người thực sự tiêu biểu vào Quốc hội. Tiếp tục phát huy dân chủ, tính công khai,
đối thoại trong thảo luận, hoạt động chất vấn tại diễn đàn Quốc hội.

phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm và thẩm quyền của mỗi cán bộ,
công chức; tăng cường tính công khai, minh bạch, trách nhiệm của hoạt động
công vụ.
Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cả về bản lĩnh chính trị,
phẩm chất đạo đức, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, quản lý nhà nước. Có
chính sách đãi ngộ, động viên, khuyến khích cán bộ, công chức hoàn thành
nhiệm vụ và có cơ chế loại bỏ, bãi miễn những người không hoàn thành nhiệm
vụ, vi phạm kỷ luật, mất uy tín với nhân dân.
Tổng kết việc thực hiện "nhất thể hóa" một số chức vụ lãnh đạo Đảng,
Nhà nước để có chủ trương phù hợp. Đây là điểm mới so với Đại hội X.
Thứ tư, tích cực thực hành tiết kiệm, phòng ngừa và kiên quyết chống
tham nhũng, lãng phí.
Phòng và chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm là nhiệm vụ
vừa cấp bách, vừa lâu dài. Mọi cán bộ lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Mặt trận
Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân từ trung ương đến cơ sở và từng đảng viên phải


gương mẫu thực hiện và trực tiếp tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng,
lãng phí. Tiếp tục hoàn thiện thể chế và đẩy mạnh cải cách hành chính phục vụ
phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tập trung vào các lĩnh vực dễ xảy ra tham
nhũng, lãng phí. Nghiên cứu phân cấp, quy định rõ chức năng cho các ngành,
các cấp trong phòng, chống tham nhũng. Chú trọng các biện pháp phòng ngừa
tham nhũng, lãng phí. Thực hiện chế độ công khai, minh bạch về kinh tế, tài
chính trong các cơ quan hành chính, đơn vị cung ứng dịch vụ công, doanh
nghiệp nhà nước.
Công khai, minh bạch về cơ chế, chính sách, các dự án đầu tư, xây dựng
cơ bản, mua sắm từ ngân sách nhà nước, huy động đóng góp của nhân dân, quản
lý và sử dụng đất đai, tài sản công, công tác tiếp nhận, bổ nhiệm cán bộ. Thực
hiện có hiệu quả việc kê khai và công khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công
chức theo quy định. Cải cách chính sách tiền lương, thu nhập, chính sách nhà ở

quyền xã hội chủ nghĩa; tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà
nước; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực đáp ứng yêu
cầu trong tình hình mới; tích cực thực hành tiết kiệm, phòng ngừa và kiên quyết
chống tham nhũng, lãng phí.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ X, Nxb CTQG, Hà Nội.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc


lần thứ XI, Nxb CTQG, Hà Nội.
3. Nguyễn Linh Khiếu, Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới, Tạp chí Cộng sản (số
1/2013).
4. Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 2, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000.
5. Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, Hà Nội, 2002.
6. Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 10, Nxb CTQG, Hà Nội, 2002.
7. Đỗ Đức Minh, Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam - những yếu tố tác động từ truyền thống và hiện tại, Tạp chí cộng
sản (số 10/2014).
8. Nguyễn Văn Tài, Vấn đề phát huy dân chủ, tiếp tục xây dựng và hoàn
thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay,
Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị quân sự, số 4- 2011.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status