1
LỜI MỞ ĐẦU
Xu thế hiện nay của thế giới là tự do hoá thương mại và đầu tư, trong đó,
đầu tư trực tiếp nước ngoài là một hoạt động có vị trí ngày càng quan trọng đối
với cả nước đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư. Khai thác sử dụng đầu tư nước
ngoài một cách có hiệu quả đang là mục tiêu được ưu tiên hàng đầu của nhiều
nước trên thế giới, nhất là đối với các nước đang phát triển.
Kể từ khi Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam ban hành năm
1987, không ai có thể phủ nhận những đóng góp to lớn mà nguồn vốn này đã
đóng góp cho sự phát triển kinh tế Việt Nam. Nói cách khác, Việt Nam không
thể thiếu nguồn vốn này cho sự phát triển kinh tế nếu muốn hoà nhập vào nền
kinh tế thế giới và không muốn tụt hậu.
Sau hàng loạt sự kiện xảy ra trong thập kỷ 90, đặc biệt là sự sụp đổ của
các nước Xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô cũ và cuộc khủng hoảng tài
chính tiền tệ châu Á năm 1997, nền kinh tế Việt Nam rơi vào tình trạng hụt hẫng
do mất đi các thị trường truyền thống và sự suy giảm của các hoạt động kinh tế
đối ngoại. Do đó, xuất hiện một yêu cầu mới là cần phải thường xuyên mở rộng
và nâng cao hiệu quả quan hệ hợp tác, đầu tư với nhiều nước trên thế giới, nhất
là với những nước phát triển cao, có công nghệ kỹ thuật tiên tiến như các nước
EU. Tuy nhiên, cho đến nay dù các nhà đầu tư EU đã trở thành một trong ba nhà
đầu tư lớn nhất ở Việt Nam nhưng về tài chính cũng như kỹ thuật, lượng vốn
đầu tư trực tiếp mà họ đưa vào Việt Nam vẫn chưa tương xứng với tiềm năng
sẵn có.
Trước tình hình đó, việc nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng hoạt động đầu tư
trực tiếp của EU vào Việt Nam, phân tích những thành công cũng như trở ngại
của hoạt động này không những sẽ giúp chúng ta hình dung đầy đủ hơn bức
tranh đầu tư nước ngoài ở Việt Nam hiện nay, mà còn góp phần cung cấp những
hiểu biết để đưa ra những chính sách, kiến nghị góp phần tích cực vào việc thúc
3
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
Để phân tích và đánh giá rõ ràng và đầy đủ về tình hình đầu tư trực tiếp
nước ngoài của EU vào Việt Nam, trước hết chúng ta cần hiểu một số vấn đề về
lý luận về đầu tư nước ngoài, đầu tư trực tiếp nước ngoài, các hình thức, vai trò,
các nhân tố ảnh hưởng tới đầu tư trực tiếp nước ngoài. Mặt khác chúng ta cũng
xem xét các xu hướng vận động của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên
Thế giới và ở Việt Nam để chuẩn bị cơ sở cho việc phân tích, đánh giá trong
chương sau.
I. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ SỰ TẤT YẾU KHÁCH QUAN CỦA HOẠT
ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (ĐTTTNN):
1.Khái niệm đầu tư quốc tế và đầu tư trực tiếp nước ngoài :
Trong một vài thập niên trở lại đây, người ta đã được chứng kiến sự bùng nổ mạnh
mẽ của hoạt động đầu tư quốc tế (ĐTQT) trên phạm vi toàn cầu. Nó cùng với thương m
quốc tế là hai xu hướng nổi bật nhất trong nền kinh tế Thế giới. Mặc dù ra đời sau hoạt
động thương mại quốc tế, nhưng hoạt động ĐTQT đã chứng tỏ được vai trò to lớn đối với
sự tăng trưởng kinh tế của các quốc gia, và nền kinh tế Thế giới.
Tuy có vai trò và sức ảnh hưởng to lớn như vậy, nhưng khái niệm về ĐTQT
không phải là một khái niệm xa lạ và khó tiếp cận. ĐTQT thực chất là một quá
trình kinh doanh trong đó vốn đầu tư được di chuyển từ quốc gia này sang quốc
gia khác với mục đích sinh lời.
Yếu tố quốc tế trong ĐTQT thể hiện ở chỗ các bên hợp tác đầu tư có quốc tịch khác
nhau, vì vậy mới có sự di chuyển vốn giữa các quốc gia mà các bên mang quốc tịch. ĐTQT
là một quá trình diễn ra trong một thời gian dài, có thể từ 5 đến 20 năm và có thể lên t
tỷ suất lợi nhuận của vốn giảm, ĐTTTNN sẽ giúp họ tìm được nơi đầu tư có lợi
nhuận cao, xâm chiếm thị trường và tránh được hàng rào thuế quan và phi thuế
quan (trong xu hướng bảo hộ mậu dịch). Từ đó hình thành nên những tập đoàn
lớn, đa quốc gia và xuyên quốc gia.
+ Đối với bên tiếp nhận vốn đầu tư: Do thiếu vốn tích luỹ, do nhu
cầu tăng trưởng, nhu cầu đổi mới kỹ thuật, công nghệ và tiếp nhận kinh nghiệm
quản lý tiên tiến... để khai thác tài nguyên, tạo việc làm cho dân cư, và đặc biệt
đối với các nước đang phát triển, thu hút vốn ĐTTTNN còn bảo đảm cho nhu
cầu tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá
(CNH - HĐH). 5
- Do nhu cầu giải quyết những nhiệm vụ đặc biệt như xây dựng công trình
có quy mô và cần hoạt động vượt ra ngoài phạm vi biên giới quốc gia đòi hỏi
phải có sự phối hợp của nhiều nước, chẳng hạn như việc xây dựng các đường
ống dẫn dầu và khí đốt, xây dựng hệ thống lưới điện xuyên Châu Âu, xây dựng
tuyến cáp quang nối liền nhiều nước Châu Á.
Những nguyên nhân cơ bản trên đây khiến cho hoạt động đầu tư quốc tế
hình thành và phát triển với quy mô ngày càng lớn. Tuy nhiên, khác với loại
hình đầu tư gián tiếp, đầu tư trực tiếp trong ĐTQT có xu hướng phát triển mạnh
mẽ hơn rất nhiều. Đó là do những đặc điểm riêng của loại hình đầu tư này.
3. Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài:
Dựa trên cơ sở phân biệt giữa đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp trong
ĐTQT, căn cứ vào thực tiễn hoạt động ĐTTTNN trên thế giới, có thể rút ra một
số đặc điểm nổi bật sau đây về ĐTTTNN:
* Các chủ đầu tư nước ngoài thực hiện việc đầu tư trên nước sở tại nên
ngoài việc phải tuân thủ luật pháp nước chủ nhà, luật pháp quốc tế, còn phải
tuân thủ theo các quy định của pháp luật của nước sở tại đề ra đối với doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Nguồn luật điều chỉnh hoạt động ĐTTTNN
như Thông tư số 12/BKH của Bộ Kế hoạch - Đầu tư và Nghị định 24/CP của
Chính phủ Việt Nam ban hành năm 2000.
Ngoài ra, hoạt động ĐTTTNN còn mang một số đặc điểm mới sau:
* Hiện tượng đa cực và đa biên trong ĐTTTNN là hiện tượng đặc thù
không chỉ gồm nhiều bên với tỷ lệ vốn góp khác nhau mà còn có các hình thức
khác nhau của tư bản như tư bản tư nhân và Nhà nước cùng tham gia.
* Tồn tại hiện tượng hai chiều trong ĐTTTNN: hiện tượng một nước vừa
tiếp nhận vốn đầu tư từ nước khác, vừa thực hiện đầu tư ra nước ngoài nhằm tận
dụng lợi thế so sánh giữa các nước với nhau.
* Do quyền lợi của chủ đầu tư gắn liền với lợi ích do đầu tư đem lại cho
nên có thể lựa chọn kỹ thuật, công nghệ thích hợp, nâng cao trình độ quản lý, tay
nghề cho công nhân ở nước tiếp nhận đầu tư.
* ĐTTTNN liên quan đến việc mở rộng thị trường của các công ty đa
quốc gia và sự phát triển của thị trường tài chính quốc tế và thương mại quốc tế.
Với những đặc điểm trên ĐTTTNN đã có những tác động rất lớn đối với
cả quốc gia đi đầu tư lẫn quốc gia tiếp nhận đầu tư.
II. VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI:
ĐTTTNN là một hoạt động có phạm vi ảnh hưởng rất rộng lớn và mang
tính hai mặt. Nó không chỉ tác động lên nước đầu tư mà còn ảnh hưởng đối với
nước tiếp nhận đầu tư. 7
1. Vai trò đối với nước chủ nhà:
Đối với nước chủ nhà, ĐTTTNN đem lại cho họ những lợi ích sau:
- Thứ nhất, bằng hoạt động ĐTTTNN các chủ đầu tư có khả năng trực
tiếp kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp, do đó có thể khai thác hiệu quả số
vốn của họ. Đây là ưu điểm vượt trội so với loại hình đầu tư gián tiếp, trong đó
chủ đầu tư không trực tiếp điều hành hoạt động của doanh nghiệp mà họ bỏ vốn
ra mua cổ phiếu, trái phiếu hoặc cho vay để kiếm lời qua lãi cho vay hay lợi tức
nước đang và kém phát triển. Ví dụ như những nước chuẩn bị chuyển sang sử
dụng công nghệ nguồn như Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc… thì những nước
chậm và đang phát triển trở thành thị trường nhập khẩu những công nghệ thế hệ
cũ của các nước này.
- Thứ sáu, ĐTTTNN còn giúp nước chủ nhà bành trướng sức mạnh về
kinh tế, nâng cao uy tín chính trị trên trường quốc tế... Thường những nước có
tiềm lực kinh tế lớn và có ảnh hưởng lớn trong nền kinh tế thế giới như Mỹ,
Đức, Pháp, Nhật Bản… là những nước đầu tư đầu tư ra nước ngoài lớn nhất thế
giới.
Tuy vậy, ĐTTTNN cũng thể hiện tính 2 mặt của nó ngay cả với nước chủ
nhà. Mặt tiêu cực của hoạt động này thể hiện ở việc làm giảm một nguồn vốn
đáng kể ở nước đi đầu tư. Vốn là 1 nguồn lực quan trọng của mọi quốc gia việc
di chuyển nó ra khỏi biên giới không chỉ khiến cho nước đi đầu tư mất đi nguồn
lực này nà còn làm thâm hụt cán cân thanh toán. ĐTTTNN cũng buộc nước phải
san sẻ 1 phần công nghệ mới và những kinh nghiệm quản lý đã tích góp được
của mình. Đó là chưa kể đến những rủi ro mà nhà đầu tư gặp phải ở nước tiếp
nhận khi thực hiện hoạt động đầu tư. Nhưng dù có rủi ro đến mức nào đi nữa thì
ĐTTTNN cũng là hoạt động đem lại nhiều lợi nhuận cho nhà đầu tư.
Lợi ích của nước đi đầu tư thì có thể nhìn thấy một cách rõ ràng như vậy,
tuy nhiên, đứng ở góc độ nước tiếp nhận thì việc đánh giá tác động của việc
ĐTTTNN phải được xem xét trên nhiều khía cạnh, nhiều mặt.
2. Vai trò đối với nước sở tại:
2.1. Nước sở tại là nước phát triển:
Hiện nay dòng chảy của tư bản quốc tế đang đổ dồn vào các nước công
nghiệp phát triển như Mỹ và Tây Âu. Những nước này trở thành những trung
tâm thu hút vốn lớn nhất thế giới. Đối với những quốc gia này, ĐTTTNN đã
giúp tái cơ cấu nền kinh tế, hiện đại hoá những ngành công nghiệp quan trọng,
phát triển các ngành mũi nhọn... Và một số những lợi ích cơ bản sau:
* Giúp giải quyết khó khăn về vấn đề kinh tế - xã hội như thất nghiệp và
lạm phát. Đây là 2 vấn đề mà nhiều nước phát triển đang phải đương đầu, khi
lượng vốn lớn chảy vào các nước chậm và đang phát triển. Đối với những nước
này, tác động của hoạt động ĐTTTNN được đánh giá trên hai mặt cơ bản: mặt
tích cực và mặt tiêu cực.
Hoạt động ĐTTTNN ngày càng chứng tỏ được vai trò quan trọng đặc biệt
của nó đối với những nước chậm và đang phát triển, thể hiện ở những điểm sau: 10
- Thứ nhất, ĐTTTNN bổ sung nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát
triển, khai thác và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nước, tạo ra
thế và lực phát triển mới.
Vốn là một yếu tố quan trọng của tăng trưởng, đặc biệt trong giai đoạn
đầu phát triển kinh tế. Nhiều nhà kinh tế đã giải thích sự nghèo khó của các
nước chậm và đang phát triển thông qua cái "vòng luẩn quẩn" mà các nước này
đang phải đối mặt. Đó là: Do sản lượng và thu nhập thấp, nên tích luỹ và đầu tư
phát triển thấp, do đầu tư phát triển thấp nên trình độ khoa học công nghệ thấp,
dẫn đến năng suất lao động thấp, kết quả là sản lượng và thu nhập thấp... Cái
"vòng luẩn quẩn" này cứ tiếp diễn và quốc gia đó sẽ không phát triển nếu như
không có một "cú huých" từ bên ngoài. Đó chính vốn ĐTTTNN.
Thiếu vốn tích luỹ đã hạn chế quy mô và hạn chế đổi mới kinh tế, gây ra
tình trạng mất cân đối trong xuất nhập khẩu, cán cân thanh toán thường xuyên bị
thâm hụt, thiếu dự trữ ngoại tệ... Vì vậy, ĐTTTNN sẽ thúc đẩy xuất khẩu, nhập
khẩu và làm tăng thu ngoại tệ, cải thiện tình trạng của cán cân thanh toán thâm
hụt. Thực tế cho thấy, trong 3 thập kỷ qua các nước công nghiệp mới (NICs)
Châu Á đã nhận được trên 50 tỷ USD vốn ĐTTTNN, đây là nhân tố quan trọng
giúp các nước này trở thành những con rồng Châu Á (Theo: Giáo trình sau đại
học, môn: Kinh tế quốc tế).
Thông qua vốn ĐTTTNN, nhiều nguồn lực trong nước (lao động, đất đai,
tài nguyên,…) được khai thác và đưa vào sử dụng tương đối có hiệu quả; đồng
thời, các quốc gia này cũng chủ động hơn trong bố trí cơ cấu vốn đầu tư; dành
và đang phát triển theo hướng công nghệp hoá, hiện đại hoá và đưa nền kinh tế
các nước này tham gia vào phân công lao động quốc tế một cách mạnh mẽ.
Hoạt động ĐTTTNN tập trung chủ yếu vào các ngành quan trọng của nền
kinh tế, chẳng hạn như các lĩnh vực: công nghiệp chế tạo, công nghiệp lắp ráp
có trình độ công nghệ tương đối cao. Khi tỷ trọng ngành công nghiệp ổn định
trong nền kinh tế đã tăng lên thì các nước này có thể tham gia vào việc phân
công lao động quốc tế thông qua việc chuyên môn hoá sản xuất những mặt hàng
có lợi thế so sánh đối với phần còn lại của thế giới.
Đối với Việt Nam, hoạt động ĐTTTNN trong những năm đầu (ngoài dầu
khí) tập trung nhiều vào lĩnh vực kinh doanh bất động sản (khách sạn, văn
phòng cho thuê...), nhưng trong thời kỳ 1996-2002 tập trung chủ yếu vào lĩnh
vực sản xuất vật chất với cơ cấu ngành nghề hợp lý hơn, hướng vào sản xuất,
chế biến xuất khẩu, xây dựng kết cấu hạ tầng; trong đó, ĐTTTNN trong các
ngành công nghiệp và xây dựng chiếm 56% vốn đăng ký và 73% vốn thực hiện
(so với tỷ lệ tương ứng là 52,7% và 56% thời kỳ 1991-1995). Cơ cấu ĐTNN
trong lĩnh vực dịch vụ chuyển dịch mạnh, trong thời kỳ 1996-2002, các dự án
kinh doanh bất động sản giảm 52%, trong khi các dự án xây dựng hạ tầng kỹ 12
thuật (viễn thông, dịch vụ kỹ thuật) tăng 1,4 lần 8 năm trước (Nguồn: Vụ Đàu tư
nước ngoài - Bộ KH & ĐT).
- Thứ tư, hoạt động ĐTTTNN giúp tạo ra nhiều công ăn việc làm và phát
triển nguồn nhân ở các nước chậm và đang phát triển.
Thông qua việc đầu tư mới, hoặc mở rộng quy mô của các đơn vị kinh tế,
ĐTTTNN đã tạo ra phần lớn công ăn việc làm cho người lao động, qua đó làm
tăng thu nhập của người dân. Chẳng hạn, ở Xingapo, Braxin, Mêxcô, tỷ lệ lao
động trong các doanh nghiệp có vốn ĐTTTNN trong tổng số lao động lần lượt
là: 54%, 23%, 21% (Theo: Giáo trình sau đại học môn: Kinh tế quốc tế), đây là
những tỷ lệ tương đối cao và có ý nghĩa lớn trong việc giảm thất nghiệp ở các
Nhìn chung trang thiết bị đồng bộ, có trình độ cao hơn hoặc bằng các thiết bị
tiên tiến đã có trong nước và thuộc loại phổ cập ở các nước trong khu vực. Vấn
đề bảo vệ môi trường cũng được các doanh nghiệp ĐTTTNN rất quan tâm. Bên
cạnh đó, các dự án ĐTTTNN sử dụng nhiều lao động được khuyến khích đầu tư,
nhất là trong lĩnh vực gia công, chế biến, sản xuất hàng xuất khẩu như dệt may,
giày dép, đầu tư vào KCN, KCX,....
-Thứ sáu, ĐTTTNN góp phần mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, chủ
động hội nhập kinh tế khu vực và Thế giới.
Đối với những nước chậm và đang phát triển, việc thoát khỏi thế cô lập và
mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại là một chiến lược hợp lý trong xu thế toàn
cầu hoá nền kinh tế Thế giới. Thông qua hoạt động ĐTTTNN, các nước này có
cơ hội tiếp cận với các nước phát triển, các công ty xuyên quốc gia (TNCs), qua
đó cũng đưa được hình ảnh của mình ra Thế giới. Với vai trò này của ĐTTTNN,
có thể lấy Việt Nam làm một ví dụ điển hình. Cho đến hết năm 2002, đã có trên
70 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án ĐTTTNN ở Việt Nam, và trên 80 TNCs
nằm trong danh sách 500 TNCs hàng đầu trên Thế giới đầu tư ở Việt Nam. Bên
cạnh đó, ĐTTTNN đã góp phần phá thế bao vây cấm vận, mở rộng quan hệ kinh
tế đối ngoại tạo thuận lợi cho Việt Nam gia nhập ASEAN, ký Hiệp định khung
với EU, bình thường hoá quan hệ và ký Hiệp định thương mại song phương với
Mỹ; tăng cường thế và lực của nước ta trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế).
Chính những đổi mới của nền kinh tế nói chung, về môi trường kinh doanh
trong lĩnh vực ĐTNN nói riêng những năm qua cũng góp phần quan trọng trong
việc khôi phục và gia tăng nguồn vốn ODA cho Việt Nam từ năm 1993 đến nay
(Nguồn: Vụ Đầu tư nước ngoài - Bộ KH & ĐT).
-Thứ bảy, ĐTTTNN giúp các nước chậm và đang phát triển từng bươc
thực hiện việc đầu tư ra nươc ngoài để mở rộng thị trường.
Đây chính là một đặc điểm mới của hoạt động ĐTTTNN hiện nay (như đã
trình bày trong phần I, 2). Tình hình phổ biến trên thế giới hiện nay là các nước
phát triển không chỉ đầu tư ra nước ngoài mà còn là nước tiếp nhận ĐTTTNN
Nghị định 12/CP, Nghị định 10/1998/NĐ-CP, Nghị định 24/2000/NĐ-CP, Chỉ
thị số 11/1998/CT-TTg và Quyết định số 53/1999/QĐ-TTg của Thủ tướng
Chính phủ) nhằm cải thiện môi trường đầu tư. Những chính sách tập trung vào
tháo gỡ khó khăn do tác động của khủng hoảng kinh tế cho các doanh nghiệp
ĐTNN (như miễn giảm thuế, tiền thuê đất, cho dãn, hoãn, tiến độ hoặc thay đổi 15
mục tiêu dự án, giảm chi phí đầu tư); đơn giản hoá thủ tục đầu tư, mở rộng
quyền tự chủ của các doanh nghiệp ĐTTTNN, khuyến khích ĐTTTNN vào
những ngành, lĩnh vực, địa bàn cần thu hút vốn ĐTTTNN..., được các nhà đầu
tư đánh giá cao.
Mặc dầu ĐTTTNN đem lại những lợi ích lớn cho các nước chậm và đang
phát triển nhưng những lợi ích đó luôn đi kèm với những tác động tiêu cực. Mặt
trái của hoạt động ĐTTTNN thể hiện ở những khía cạnh sau:
- Một là, ĐTTTNN dẫn đến tình trạng đầu tư tràn lan, huỷ hoại tài nguyên
môi trường nếu như công tác quy hoạch ở nước sở tại kém hiệu quả. Chính phủ
của các nước chậm và đang phát triển có vai trò quyết định trong việc điều tiết
cơ cấu đầu tư theo ngành, vùng... có lợi cho việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế. Tuy
nhiên, việc làm trên đôi khi lại đi trái với lợi ích của các chủ đầu tư ngoại quốc,
vì các dự án ĐTTTNN thường chỉ quan tâm đến lợi nhuận hơn là những lợi ích
cho xã hội. Do vậy, các nước chậm và đang phát triển phải luôn thận trọng trong
quá trình quy hoạch đầu tư, thẩm định và quản trị các dự án ĐTTTNN.
- Hai là, cơ cấu đầu tư nước ngoài ở các nước chậm và đang phát triển
thường bất hợp lý. Nếu nước sở tại không chủ động điều chỉnh được cơ cấu đầu
tư theo ngành, vùng... theo ý muốn đây sẽ là nguy cơ của sự phát triển không
đều giữa các ngành các ngành, vùng kinh tế.
- Ba là, công nghệ chuyển giao trong ĐTTTNN thường là công nghệ lạc
hậu, cũ kỹ, giá cao, gây ô nhiễm môi trường và được chuyển giao một cách nhỏ
giọt, khiến cho các nước sở tại luôn phải chạy theo công nghệ của nước ngoài,
-Hình thức đầu tư theo phương thức BOT, BT, BTO.
Mỗi hình thức có những đặc trưng riêng, cụ thể từng hình thức như sau:
1. Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng
Hình thức hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hay còn gọi là hợp
đồng hợp tác kinh doanh là hình thức mà các bên đối tác (bên nước ngoài và bên
nước sở tại) sẽ hợp tác kinh doanh với nhau theo một hợp đồng kinh doanh.
Hình thức này không hình thành nên một pháp nhân ở nước sở tại, mà nhà
đầu tư nước ngoài được phép thành lập văn phòng đại diện của mình. Các hoạt
động sản xuất kinh doanh của các bên được tiến hành theo nội dung và các điều
lệ của hợp đồng.
Theo Luật đầu tư nước ngoài ở Việt Nam, Hợp đồng hợp tác kinh doanh
là hình thức đầu tư trong đó bên Việt Nam và bên nước ngoài cùng nhau thực
hiện hợp đồng được ký kết giữa hai bên về việc cùng phối hợp với nhau trong
sản xuất hoặc tiêu thụ một loại sản phẩm hay dịch vụ nào đó với sự quy định rõ
trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của mỗi bên trong hoạt động sản xuất kinh 17
doanh. Thông thường, hình thức này chiếm tỷ trọng khiêm tốn trong tổng số vốn
ĐTTTNN. Do hình thức này khó thực hiện trên thực tế và hiệu quả đem lại
thường không cao.
2. Doanh nghiệp liên doanh
Doanh nghiệp liên doanh (DNLD) là một tổ chức kinh doanh quốc tế của
các bên tham gia có quốc tịch khác nhau trên cơ ở cùng góp vốn, cùng kinh
doanh, cùng quản lý, và cùng phân phối kết quả kinh doanh nhằm thực hiện các
cam kết trong hợp đồng liên doanh và điều lệ DNLD phù hợp với khuôn khổ
luật pháp nước sở tại.
Khác với hình thức Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng, hình thức
DNLD có một số đặc trưng cơ bản sau:
đối tác, và có thể trở thành nguyên nhân dẫn đến đổ vỡ DNLD.
Ưu điểm của hình thức này là giúp cho nước sở tại tránh được những sự
kiểm soát của nước ngoài, đồng thời giúp bên đối tác nước ngoài hạn chế được
rủi ro của môi trường kinh doanh và có thể dựa vào liên doanh để xâm nhập thị
trường nước tiếp nhận vốn. Tuy nhiên, nhược điểm của hình thức này là thường
xảy ra những bất đồng, mâu thuẫn giữa cac bên trong liên doanh (bên nước sở
tại và bên nước đầu tư) do sự chênh lệch về trình độ, kinh nghiệm và khoảng
cách về văn hóa, ngôn ngữ,… Do đó, hình thức DNLD thích hợp với quá trình
ĐTTTNN ở thời kỳ đầu. Những đặc điểm này hoàn toàn khác biệt với hình thức
doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.
3. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (DN 100% VNN) là một thực thể
kinh doanh quốc tế, có tư cách pháp nhân trong đó các nhà đầu tư nước ngoài
góp 100% vốn pháp định, tự quản lý doanh nghiệp và tự chịu hoàn toàn trách
nhiệm về kết kinh doanh của doanh nghiệp.
So với DNLD, DN 100% VNN có một số đặc trưng khác biệt sau:
- Đặc trưng về pháp lý:
+ DN 100% VNN cũng là pháp nhân của nước sở tại, nhưng toàn
bộ doanh nghiệp lại thuộc sở hữu của người nước ngoài.
+ Hình thức hợp pháp của DN 100% VNN là do nhà đầu tư nước
ngoài lựa chọn trong khuôn khổ luật pháp nước sở tại. Ví dụ, ở Việt Nam, hình
thức hợp pháp của DN 100% VNN là công ty TNHH.
+ Quyền quản lý doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài hoàn toàn
chịu trách nhiệm. 19
- Đặc trưng về kinh tế - tổ chức:
+ Mô hình tổ chức của DN 100% VNN là do nhà đầu tư nước ngoài
lựa chọn trong khuôn khổ pháp luật nước sở tại
20
trách nhiệm tiến hành xây dựng, kinh doanh công trình trong một tời gian đủ để
thu hồi vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lý. Sau khi dự án kết thúc, toàn bộ công
trình sẽ được chuyển giao cho nước sở tại mà không thu bất cứ khoản tiền nào.
Đối với hình thức BTO, sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công
trình cho nước sở tại. Chính phủ nước sở tại giành cho nhà đầu tư quyền kinh
doanh công trình đó trong một thời gian nhất định để thu hồi vốn đầu tư và có
lợi nhuận hợp lý. Đối với hình thức BT, sau khi xây dựng xong, chủ đầu tư
chuyển giao công trình đó cho nước sở tại, nước sở tại sẽ tạo điều kiện cho nhà
đầu tư nước ngoài để thực hiện các dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và có lợi
nhuận hợp lý.
Cả ba dạng đầu tư trên đều đem lại lợi ích lâu dài cho nước tiếp nhận đầu
tư, thông qua những dự án phát triển cơ sở hạ tầng vật chất - kỹ thuật. Đây là
những dự án đòi hỏi vốn lớn và thời gian tu hồi vốn khá dài. Do đó, nó thường
chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số vốn ĐTTTNN. Bên cạnh đó, do hình thực BOT
có lợi cho nhà đầu tư hơn nên các nhà đầu tư thường chọn hình thức này hơn là
các hình thức BTO hay BT. Cũng vì lý do này mà từ đây, các dạng đầu tư trên
gọi chung là hình thức hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (hay hình
thức BOT).
Dù hoạt động dưới bất cứ hình thức nào, quá trình ĐTTTNN cũng phải
chịu những tác động, ảnh hưởng to lớn từ môi trường đầu tư ở nước sở tại và ở
các môi trường khác.
IV. NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI
Những yếu tố tác động đến hoạt động ĐTTTNN có thể là những yếu tố
nằm ngay bên trong nước sở tại (yếu tố chủ quan), cũng có thể là những yếu tố
từ bên ngoài (yếu tố khách quan)
1. Những yếu tố chủ quan
Thực chất những yếu tố chủ quan chính là những yếu tố thuộc về môi
chứng tỏ được lợi thế về thị trường, và do đó trở thành những trung tâm hút vốn
lớn trên thế giới.
- Thứ ba là những yếu tố thuộc môi trường luật pháp - chính sách. Những
yếu tố này ảnh hưởng đến phương thức thâm nhập thị trường của nhà đầu tư
(xuất khẩu hay ĐTTTNN); ảnh hưởng đến việc lựa chọn lĩnh vực đầu tư; ảnh
hưởng đến sự hoạt động an toàn của nhà đầu tư ở nước sở tại… Nguồn luật quan
trọng nhất tác động lên hoạt động ĐTTTNN là luật đầu tư nước ngoài. Các
chính sách liên quan đến lĩnh vực ĐTTTNN, như chính sách thuế, đát đai, tài
chính… cũng có tác động rất lớn đến lĩnh vực này. Vì vậy, các quốc gia không
ngừng hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách, đặc biệt là luật đầu tư nước 22
ngoài theo hướng có lợi cho nhà đầu tư để tăng sức hấp dẫn của môi trường đầu
tư.
- Thứ tư là các thủ tục hành chính nhà đầu tư sẽ phải trải qua khi thực
hiện hoạt động ĐTTTNN ở nước sở tại. Đó là những thủ tục về cấp giấy phép
đầu tư, thủ tục thẩm định dự án đầu tư, thủ tục cho thuê đất, nhượng quyền sử
dụng đất, thủ tục đăng ký tư cách pháp nhân, chế độ kế toán, đăng ký dịch vụ
Bưu chính viễn thông, đăng ký tài khoản ở ngân hàng, thủ tục đăng ký sử dụng
lao động nước ngoài,...Nói chung mong muốn của nhà đầu tư nước ngoài là các
thủ tục hành chính phải hết sức đơn giản, để có thể nhanh chóng đưa một dự án
ĐTTTNN đi vào triển khai, vận hành. Vì vậy, nếu thủ tục hành chính quá rườm
rà, phức tạp, nhiều cửa sẽ là một yếu tố cản trở dòng vốn ĐTTTNN.
- Thứ năm là cơ sở hạ tầng vật chất - kỹ thuật ở nước sở tại. Yếu tố này
tạo ra khả năng thực hiện các giao dịch và đưa sản phẩm, dịch vụ tới thị trường,
giúp cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và lưu thông hàng hoá được thực hiện
một cách nhanh chóng. Nó bao gồm hệ thống giao thông (đường xá, cầu cống,
sân bay, bến cảng), hệ thống điện, hệ thống cấp thoát nước, mạng lưới Bưu
chính viễn thông, thông tin liên lạc, dịch vụ bảo hiểm, kế toán, kiểm toán, dịch
luôn hướng đến chính sách tự do hoá một cách toàn diện, hội nhập vào nền kinh
tế thế giới một cách sâu, rộng như là một chiến lược tăng sức hút với vốn
ĐTTTNN.
- Thứ chín là sức mạnh và sự ổn định của đồng nội tệ. Nếu nhà đầu tư đi
đầu tư bằng Đô la Mỹ sau đó định giá bằng đồng nội tệ bị mất giá trị thì sẽ dẫn
đến giảm giá trị vốn đầu tư cũng như lợi nhuận khi chuyển về nước. Vì vậy, nếu
đồng tiền của nước sở tại bất ổn định và dao động nhiều thì sẽ gây rủi ro lớn cho
nhà đầu tư và hạn chế dòng vốn ĐTTTNN. Ví dụ như cuộc khủng hoảng tài
chính - tiền tệ Châu Á năm 1997 đã làm cho đồng tiền của các nước Châu Á bị
mất giá so với đồng Đô la Mỹ, và lập tức các nhà đầu tư liên tiếp rút vốn khỏi
các thị trường này, khiến cho vốn ĐTTTNN ở Châu Á giảm liên tục trong
những năm 1996, 1997, 1998.
- Cuối cùng là những yếu tố thuộc môi trường văn hoá. Những yếu tố này
bao gồm các phong tục tập quán, thuần phong mỹ tục, thị hiếu, thẩm mỹ, nghệ
thuật, tôn giáo, ngôn ngữ, lối sống,…Chúng tác động gián tiếp lên hoạt động
ĐTTTNN thông qua thị hiếu, nhu cầu tiêu dùng, phong cách làm việc của con người.
Bên cạnh những yếu tố chủ quan trên là những yếu tố thuộc môi trường
bên ngoài nước sở tại hay là những yếu tố khách quan.
2. Yếu tố khách quan
Những yếu tố khách quan tác động lên hoạt động ĐTTTNN được xem
xét dưới góc độ của nước sở tại, và bao gồm những điểm sau: 24
- Một là khả năng của nhà đầu tư. Trong giai đoạn suy thoái của nền kinh
tế thế giới, dòng vốn ĐTTTNN đều giảm sút, do hầu hết các nước chủ nhà thay
nhau rút vốn đầu tư về nước vì lý do yếu kém về mặt tài chính. Ngược lại, khi có
nền tài chính vững mạnh thì các chủ đầu tư lại chuyển vốn ra nước ngoài để đầu
tư thu lợi nhuận.
- Hai là sự biến động của tình hình kinh tế khu vực và thế giới. Chẳng hạn
hoạch định chính sách về thu hút vốn ĐTTTNN của mỗi quốc gia. Sau đây là
một số xu hướng nổi bật.
1. Xu hướng tự do hoá trong đầu tư trực tiếp nước ngoài
Tự do hoá đầu tư là một xu hướng, trong đó hoạt động ĐTTTNN được
tạo những điều kiện ngày càng thuật lợi cả về mặt pháp lý cũng như mặt hành
chính và về các điều kiện cần thiết khác cho quá trình đầu tư trực tiếp được triển
khai. Nội dung của xu hướng tự do hoá đầu tư là việc Chính phủ áp dụng các
biện pháp cần thiết nhằm hoàn thiện các môi trường pháp lý, ổn định môi trường
kinh tế vĩ mô, cải cách các thủ tục hành chính cũng như áp dụng các đòn bẩy
kinh tế... để khuyến khích hoạt động ĐTTTNN vào một quốc gia nhất định.
Xu hướng tự do hoá ĐTTTNN được thể hiện ở 3 bình diện: quốc gia, khu
vực và quốc tế. Trên bình diện quốc gia là việc giảm dần những hạn chế về hình
thức đầu tư, lĩnh vực đầu tư, về những quy định trong việc góp vốn, về quyền
thuê mướn nhân công, quy định về chuyển giao công nghệ, tỷ hàng hoá xuất
khẩu, tỷ lệ nội địa hoá,... Bên cạnh đó, các quốc gia cũng đưa ra các khuyến
khích khác như tăng cường đào tạo nguồn nhân lực, các ưu đãi tài chính và
thuế... để kích thích các nhà đầu tư nước ngoài. Trên bình diện khu vực và bình
diện quốc tế, tự do hoá đầu tư là việc hình thành lên những khu vực đầu tư tự do,
ký kết các hiệp định thương mại - đầu tư song phương, và đa phương trong từng
khu vực cũng như trong tổ chức quốc tế nhằm tạo thuận lợi hơn cho hoạt động
ĐTTTNN phát triển.
2. Vai trò ngày càng quan trọng của các tập đoàn xuyên quốc gia
trong việc đầu tư trực tiếp nước ngoài
Các tập đoàn xuyên quốc gia là nguồn cung cấp vốn, công nghệ và kinh
nghiệm quản lý chính trong ĐTQT. Nếu như năm 1990 có khoảng 37.000 tập
đoàn loại này với khoảng 170.000 chi nhánh và cơ sở ở nước ngoài thì đến năm
1995 đã có khảng 39.000 tập đoàn với khoảng 270.000 chi nhánh là cơ sở ở nước
ngoài, nắm giữ 2700 tỷ USD, tương ứng với 10% GDP trên Thế giới (Nguồn:
Giáo trình sau đại học, Môn: Kinh tế quốc tế). Sự thống trị của các tập đoàn này
đã đưa vai trò của chúng lên cao trong nền kinh tế của các nước tiếp nhận vốn đầu