Ảnh hưởng của phật giáo đối với lối sống của người Việt Nam hiện nay - pdf 18

Download miễn phí Đề tài Ảnh hưởng của phật giáo đối với lối sống của người Việt Nam hiện nay



Một số nhà chùa ở các thành phố lớn hiện nay thường tổ chức nấu cơm chay vào ngày rằm và mùng một hàng tháng để phục vụ các phật tử và khách thập phương đến lễ chùa. Việc làm này không chỉ được các phật tử ủng hộ mà còn được khá đông người dân tham gia. Theo khảo sát của chúng tôi, có một số lượng khá đông quần chúng mặc dù không tự nhận mình là tín đồ Phật giáo nhưng vẫn thường xuyên đi lễ chùa và rất thích tham gia các bữa cơm chay do nhà chùa tổ chức. Họ quan niệm rằng, việc ăn chay một vài bữa trong tháng là thực hiện tinh thần không sát sinh của nhà Phật sẽ giúp cho bản thân họ được thanh lọc cả tinh thần và thể xác, nhiều người trong họ cho rằng, ăn cơm chay giúp cho họ cảm giác gần Phật hơn, hướng thiện hơn.



Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí

Tóm tắt nội dung tài liệu:

n sâu, bén rễ vào trong đời sống của người dân Việt, trở thành một phần không thể thiếu trong sinh hoạt văn hoá dân gian và có ảnh hưởng khá đậm nét tới phong tục, tập quán của người Việt Nam.
Với tâm thức đa thần, người Việt Nam có tục thờ cúng rất nhiều các vị thần khác nhau. Phong tục này đã được Phật giáo nuôi dưỡng, chuyển tải qua các thế hệ và nó còn tồn tại khá phổ biến trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay.
Ngay từ những thế kỷ đầu công nguyên, khi mới du nhập vào Việt Nam, Phật giáo đã hòa đồng với hệ thống tín ngưỡng dân gian bản địa để hình thành nên dòng Phật giáo mang đậm chất Việt Nam, dòng Phật giáo dân gian. Giai đoạn đầu Phật giáo có mặt trên đất Việt, triết lý Mẹ sinh của dân tộc đã hòa mình vào trong nó để làm hình thành nên hiện tượng thờ Tứ pháp ở trung tâm Luy Lâu - trung tâm Phật giáo đầu tiên của dân tộc Việt Nam. Như vậy, Phật giáo Ấn Độ đã nhanh chóng bị Việt hóa để mang trong mình nó các yếu tố văn hóa bản địa Việt Nam. Đó là hệ thống tín ngưỡng nguyên thủy của cư dân nông nghiệp thờ các hiện tượng tự nhiên như mây, mưa, sấm, chớp. Bên cạnh đó, với tâm thức của cư dân nông nghiệp lúa nước, tôn thờ trời, đất mong cho “mưa nắng phải thì”, nên Thần Công, Thổ Địa cũng có một chỗ đứng trong ngôi chùa Phật. Ngoài ra còn phải kể đến sự có mặt của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc, tín ngưỡng thờ Thành Hoàng hay sự có mặt của Nho giáo, Lão giáo đã qua lăng kính của người Việt cũng được chuyển tải vào trong Phật giáo…
Chính vì đi vào dân gian, Phật giáo đã tự tạo cho mình một sức sống lâu bền trong cộng đồng dân tộc. Trong quá trình tồn tại thích nghi, Phật giáo đã biến mình thành một thành tố trong nền văn hóa dân tộc. Nó đã góp phần không nhỏ trong việc củng cố, duy trì các phong tục, tập quán của người Việt Nam.
Có thể thấy, trong khắp các làng quê của người Việt hiện nay, ở đâu có làng, ở đó có chùa. Chùa Phật giáo ở Việt Nam không còn là chùa thuần Phật như trên quê hương đã sinh ra nó mà là một phức thể tôn giáo, tín ngưỡng của người Việt. Chùa và những sinh hoạt Phật giáo đã và đang chứa đựng trong nó không ít những phong tục, tập quán văn hóa của người Việt Nam. Ngược lại những sinh hoạt văn hóa, tinh thần thường nhật của người dân Việt Nam hiện nay cũng chịu sự chi phối không nhỏ bởi những ảnh hưởng của Phật giáo.
Trong tâm thức của người dân Việt Nam từ xa xưa cho đến hiện nay, chùa không chỉ là nơi thờ Phật mà còn là nơi thờ Mẫu, thờ Thần, thờ tổ tiên và thờ các anh hùng dân tộc. Trong hầu hết các ngôi chùa ở vùng đồng bằng Bắc Bộ hiện nay đều có Ban thờ Mẫu, thờ Thần. Chùa thường được bài trí theo hướng tiền thần, hậu Phật hay tiền Phật hậu thần. Một số chùa còn khắc bia thờ các anh hùng liệt sĩ đã xả thân trong hai cuộc kháng chiến của dân tộc trong thời hiện. Chính vì vậy, người dân trong khu vực đến chùa không phải chỉ để lễ Phật mà còn lễ Mẫu, lễ Thần, tưởng nhớ tổ tiên, dòng tộc và tưởng nhớ các anh hùng dân tộc.
Các gia đình người Việt mỗi khi có công to, việc lớn thường sắm lễ đến chùa để cầu mong thần, Phật phù hộ cho công việc được hanh thông. Đối với đại đa số người dân quê vùng đồng bằng Bắc Bộ, họ không tự nhận mình là người có tôn giáo nhưng vẫn thường xuyên đến chùa. Họ không hiểu thấu đáo “Tứ diệu đế” hay “Bát chính đạo” của nhà Phật, họ không biết cặn kẽ thuyết luân hồi, nhưng họ có thể tin nó dưới góc độ luân lý, đạo đức. Họ đến chùa người nhiều thì có thể thuộc một vài bài kinh, còn lại đa số chỉ biết mấy câu niệm “Nam mô A Di Đà Phật”, “Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát”. Với họ, có lẽ như vậy cũng là đủ. Họ đến chùa không phải với mong muốn hiểu thấu đáo giáo lý nhà Phật mà với mong muốn cầu mong Thần, Phật đem lại cho gia đình họ nhiều may mắn, tai qua nạn khỏi và trợ giúp cho họ cùng con cháu lúc ốm đau, bệnh tật. Cố giáo sư Trần Quốc Vượng đã hoàn toàn có lý khi cho rằng: “Nếu đặc điểm tôn giáo Việt Nam là sự thờ thần (Tha lực siêu nhiên) mà con người cúng và cầu để nhờ vả “Phù hộ độ trì” thì Phật hay Quan Âm cũng trở thành một loại thần, Phật điện cũng trở thành một thứ Thần Điện; tính tâm linh Ấn Độ nhường bước cho tính tình cảm Việt Nam (hơn đâu hết, tôn giáo Việt Nam nặng về tính tình cảm hơn là giáo lý, giới luật, đoàn thể tôn giáo), sự suy tưởng nội tâm (Thiền định) nhường bước cho sự “van vái, co kéo” Thần, Phật xuống gần “cõi người ta” để “cứu khổ, cứu nạn” cho đời [89, 140].
Đúng như cố giáo sư Trần Quốc Vượng đã nói, ông Phật từ Ấn Độ sang Việt Nam đã được hiểu theo một ý nghĩa khác trong dân gian. Phật điện đã được biến thành Thần điện. Người dân Việt đến chùa không phải đến với riêng ông Phật mà là đến với Thần. Đôi khi, người dân Việt đến lễ chùa nhưng trong tâm thức của họ, các thần lại có vị trí quan trọng hơn là Phật. Và ông Phật, theo cách hiểu của dân gian Việt cũng có sực mạnh siêu phàm như các vị Thần của họ vậy. Do vậy, họ đến chùa là để lễ Thần và lễ Phật mong Thần, Phật cứu khổ, cứu nạn cho đời. Như vậy, có thể thấy, Phật giáo đã và đang góp phần rất lớn vào việc củng cố, duy trì phong tục thờ thần – một giá trị văn hóa truyền thống lâu đời của dân tộc Việt Nam. Hay nói cách khác, Phật giáo đã và đang góp phần vào việc duy trì, chuyển tải đạo lý uống nước nhớ nguồn của dân tộc Việt. Bởi đa phần các vị thần trong tâm thức dân gian Việt Nam đều là những người có công với làng xã, đất nước được cộng đồng tôn vinh.
Đối với đại đa số người dân Việt, chùa Phật còn là không gian thiêng để người ta gửi gắm niềm tin. Họ tin vào niềm tin linh thiêng nhân quả của nhà Phật, tin vào sự chứng giám anh minh, ở hiền gặp lành của một Phật bà nghìn mắt, nghìn tay thấu mọi khổ ải của chúng sinh, tin vào sự trợ giúp của các Thần. Có thể nói, lẽ thiêng liêng nhân, quả nhà Phật đã chi phối đời sống tâm linh của người dân trên khắp các làng quê Việt Nam cả trong lẽ sống và lẽ chết. Lẽ sống ấy là tiếng chuông chùa ngân vang, treo cao trong không khí thanh bình của các làng quê mỗi buổi chiều thu không, giúp xua tan đi bao nỗi lo toan thường nhật và làm vơi đi những đau khổ trần gian. Lẽ sống ấy là Phật anh linh ngồi đó chứng giám cho họ niềm tin thiêng liêng ở hiền gặp lành, cứu người phúc đẳng hà sa… Chính vì niềm tin ấy, ngày mùng một, ngày rằm âm lịch hàng tháng (hay còn gọi là ngày sóc, vọng) rất đông người dân từ thành thị đến thôn quê thường có thói quen đến chùa lễ Phật, cầu phúc, cầu tài, cầu lộc, mong bình an hạnh phúc cho bản thân và gia đình.
Đối với Phật giáo, ngày sóc, vọng là ngày “Trưởng tịnh”, tức là ngày trong sạch nhất. Ngày này, những người xuất gia ở chùa thường làm lễ Bố tát, tức là lễ kiểm điểm lại hành vi của mình và đọc tụng giới luật. Đối với những tín đồ của Phật, những người không xuất gia tu hành thì ngày này được làm l...
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status