HỘI ĐỒNG KHOA HỌCVIỆN TRƯỞNGCÁC VIỆN PHÓTrung tâm thông tin tư liệu, đào tạo và tư vấn phát triểnTrung tâm nghiên cứu kinh tế miền NamBan nghiên cứu phát triển hạ tầngBan nghiên cứu phát triển vùng:Ban nông nghiệp và nông thônBan công nghiệp, thương mại và dịch vụBan vùng và lãnh thổ
Ban phân tích và
dự báo kinh tế vĩ mô
Ban tổng hợpCÁC BAN NGHIÊN CỨUChiến lược PTKTXHQuy hoạch
Kế
hoạch hàng năm
Kế hoạch 5 nămChương trình dự ánDự ánThị trường
LỜI MỞ ĐẦU
Công cuộc đổi mới do Đảng Cộng Sản Việt Nam phát động từ
giữa thập kỷ 80 của thế kỷ trước đến nay đã thu được kết quả to lớn và
toàn diện. Nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những bước tiến vững
chắc, nhịp độ tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước, đời sống nhân
dân được cải thiện rõ rệt, an ninh xã hội được đảm bảo, tỉ lệ đói nghèo
cũng đã giảm rõ rệt,... Việt Nam đã được thế giới thừa nhận là một
trong những nước đang phát triển và thực hiện xoá đói giảm nghèo có
hiệu quả nhất. Quy mô giáo dục cũng tăng khá nhanh, năm 2000 cả
nước đã hoàn thành xoá mù chữ, phổ cập giáo dục Tiểu học và đang
phấn đấu thực hiện mục tiêu phổ cập giáo dục Trung học cơ sở vào năm
2010.
Tuy nhiên, trong quá trình đạt được những thành tựu trên thì
chúng ta còn phải đối mặt với những vấn đề xã hội như: khắc phục sự
phát triển không đều giữa các vùng, giảm dần khoảng cách giữa giàu và
nghèo, giảm tỷ lệ thất nghiệp, chống các tệ nạn xã hội, tăng cường bảo
vệ môi trường sinh thái,... Vì vậy Chất lượng giáo dục- đào tạo, chất
lượng nguồn nhân lực luôn là đề tài muôn thuở của dư luận xã hội cũng
như các phương tiện thông tin đại chúng. Vì: “hiền tài là nguyên khí
quốc gia”, bất kỳ quốc gia nào muốn phát triển, muốn trở thành cường
quốc đều phải có nguồn nhân lực được đào tạo và đáp ứng được yêu cầu
trong môi trường cạnh tranh khốc liệt. Có thể nói, đầu tư phát triển
ngành giáo dục đào tạo là nhiêm vụ của toàn xã hội. Trong những năm
gần đây, Việt Nam dần hội nhập vào đời sống kinh tế toàn cầu, nhu cầu
Tên tổ chức: VIỆN CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN
THUỘC BỘ KẾ HOẠCH ĐẦU TƯ
Tên tiếng Anh: DEVELOPMENT STRATEGY INSTITUTE
OF MINISTRY OF PLANNING AND INVESTMENT
Tên viết tắt: DSJ
Trụ sở: Viện chiến lược phát triển tầng 5 và 6 toà nhà Bộ Kế
hoạch và Đầu tư 65 Văn Miếu, Đống Đa, Hà Nội.
Tel: 04.844.8431848
Fax: 844-8452209
1.2. Lịch sử hình thành
Viện chiến lược phát triển ngày nay được thành lập trên cơ sở tiền
thân hai Vụ của Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước (nay là Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
đó là Vụ Tổng hợp kế hoạch Kinh tế Quốc dân dài hạn và Vụ kế hoạch phân
vùng kinh tế. Hai Vụ này được thành lập theo Quyết định số 47- CP ngày
09/03/1964 của Hội đồng chính phủ. Quá trình hình thành và phát triển hai
Vụ nêu trên thành Viện chiến lược phát triển thể hiện như sau:
- Năm 1974: Thành lập Viện phân vùng và quy hoạch.
- Năm 1983: Thành lập Viện nghiên cứu kế hoạch dài hạn
- Năm 1986: Đổi tên Viện phân vùng và quy hoạch thành Viện Phân bố
lực lượng sản xuất.
- Năm 1988: Sáp nhập Viện nghiên cứu kế hoạch dài hạn và Viện phân
bố lực lượng sản xuất thành Viện Kế hoạch dài hạn và Phân bố lực
lượng sản xuất thuộc Uỷ ban kế hoạch Nhà nước.
- Năm 1994: Đổi tên Viện Kế hoạch dài hạn và Phân bố lực lượng sản
xuất thành Viện chiến lược phát triển (có vị trí tương đương tổng cục
loại I).
2. Chức năng nhiệm vụ của Viện chiến lược phát triển.
Trải qua quá trình hình thành và phát triển, dưới sự chỉ đạo trực tiếp
của Chủ nhiệm Uỷ ban kế hoạch Nhà nước, Chủ nhiệm Uỷ ban phân vùng
kinh tế Trung ương trước đây và của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư hiện
- Tham gia soạn thảo Văn kiện các Đại hội của Đảng và một số hội
nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng.
- Nghiên cứu xây dựng các chiến lược phát triển kinh tế- xã hội và
tham gia triển khai thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu chiến lược này.
- Chủ trì phối hợp cùng các đơn vị trong Bộ Kế hoạch và Đầu tư và
với các nghành Trung ương triển khai lập dự án quy hoạch tổng thể phát
triển kinh tế- xã hội đến năm 2010 cho 8 vùng kinh tế lớn, 3 vùng kinh tế
trọng điểm, quy hoạch kinh tế biển. Chủ trì xây dựng quy hoạch phát triển
công nghiệp và kết cấu hạ tầng thời kỳ 1996- 2010, quy hoạch các khu công
nghiệp, đã trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Hợp tác quốc tế trong lĩnh
vực nghiên cứu chiến lược, chính sách. quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội.
- Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nghiên cứu chiến lược, chính sách ,
quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội. Chủ trì tổ chức nghiên cứu chiến lược
phát triển kinh tế- xã hội của Lào và Campuchia thời kỳ 1991-2000. Giúp
Uỷ ban kế hoạch Nhà nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào xây dựng quy
hoạch tỉnh Khăm Muội, quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội cả nước Lào
đên năm 2020, và xây dựng chiến lược hợp tác giữa hai nước Việt Nam- Lào
đến năm 2010. Để đáp ứng các nhiệm vụ được giao trong giai đoạn phát
triển mới và nhằm học tập kinh nghiệm của các nước về nghiên cứu chiến
lược và quy hoạch phát triển, Viện chiến lược phát triển đã mở rộng quan hệ
hợp tác quốc tế với nhiều cơ quan và Viện nghiên cứu của các nước ASEAN,
Đông Bắc Á, châu Âu, Bắc Mỹ, Liên Hợp Quốc và nhiều tổ chức quốc tế
khác. Viện đã chủ trì tổ chức thực hiện 14 dự án nghiên cứu do nước ngoài
tài trợ.
6
3. Cơ cấu tổ chức của Viện Chiến lược phát triển.
Bảng 1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của viện chiến lược phát triểnB
Tæ chøc, tiÒm lùc
Viện có hội đồng khoa học và 10 ban nghiên cứu: Văn phòng viện; tổng hợp; dự báo; ban nghiên cứu và phát
bảo thực hiện chiến lược, quy hoạch phát triển con người, nguồn nhân lực và các vấn đề xã hội. Đầu mối tổng hợp,
tham mưu các vấn đề liên quan về quản lý Nhà nước đối với công tác quy hoạch phát triển con người, nguồn nhân
lực và các vấn đề xã hội.
Ban nghiên cứu phát triển vùng:
Nghiên cứu, tổng hợp các kết quả nghiên cứu và xây dựng các đề án chiến lược, quy hoạch tổng thể phát
triển kinh tế- xã hội, quy hoạch sử dụng đất các vùng lãnh thổ (trong đó có các vùng kinh tế- xã hội, các vùng kinh
tế trọng điểm, các vùng khó khăn, vùng ven biển và hải đảo). Đầu mối tổng hợp, tham mưu các vấn đề liên quan về
quản lý Nhà nước đối với công tác quy hoạch vùng, lãnh thổ, tỉnh.
Ban nghiên cứu phát triển hạ tầng:
Nghiên cứu, tổng hợp các kết quả nghiên cứu và xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển hạ tầng của cả
nước và trên các vùng lãnh thổ. Đầu mối tham mưu các vấn đề quản lý Nhà nước liên quan đến lĩnh vực hạ tầng.
Tham gia thẩm định quy hoạch các ngành liên quan.
Trung tâm nghiên cứu kinh tế miền Nam:
Đầu mối nghiên cứu và đề xuất về chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội vùng ở Nam Bộ;
tổ chức hoạt động tư vấn về lĩnh vực chiến lược và quy hoạch phát triển cho các tỉnh ở Nam Bộ. Theo dõi việc thực
hiện quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội các tỉnh và vùng ở Nam Bộ.
Trung tâm thông tin tư liệu, đào tạo và tư vấn phát triển:
Thu thập, phân tích, xử lý, lưu trữ thông tin, kết quả nghiên cứu của các ban nghiên cứu của Viện, và các kết
quả nghiên cứu khoa học có liên quan của các tổ chức bên ngoài. Tổ chức đào tạo cán bộ nghiên cứu chiến lược và
quy hoạch, tư vấn trong công tác lập chiến lược và quy hoạch trong chương trình hợp tác quốc tế với Lào và
Campuchia.
II. NHỮNG KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CHÍNH CỦA VIỆN CHIẾN LƯỢC TRONG THỜI GIAN
QUA
1.Các thành tựu đạt được
1.1.Giai đoạn 1964- 1988
a)Về mặt nghiên cứu phân vùng kinh tế, phân bố lực lượng sản xuất.
- 1964- 1975: Trong tình hình đất nước bị chia cắt, có chiến tranh, nhiệm vụ kinh tế lớn lúc này là tiến hành
cải tạo xã hội chủ nghĩa, xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất mới, từng bước xây dựng cơ sở vật chất của chủ
nghĩa xã hội ở miền Bắc, làm hậu phương lớn chi viện kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở miền Nam. Viện cùng
với các nghành, các Viện và một số trường đại học, được chuyên gia Liên Xô hướng dẫn triển khai giới thiệu về
- Năm 1964: Ngay sau khi thành lập Vụ tổng hợp kế hoạch kinh tế quốc dân dài hạn, đã triển khai mạnh mẽ
công tác điều tra cơ bản, dự báo dân số và nguồn lao động, xây dựng cơ bản trọng điểm. Triển khai hàng loạt
nghiên cứu về triển vọng dài hạn và khôi phục và phát triển kinh tế sau chiến tranh.
- Năm 1976- 1982: Trên cơ sở tiến hành các điều tra cơ bản, dự báo các nguồn lực và nghiên cứu quy hoạch
phát triển các nghành, vùng kinh tế, đã chủ trì tổ chức xây dựng kế hoạch 5 năm 1976- 1980, phục vụ quá trình
khôi phục và phát triển đất nước trong điều kiện cả nước thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội, đã được Chính phủ
trình lên đại hội lần thứ IV của Đảng. Tiếp theo đó chủ trì xây dựng kế hoach 5 năm 1981- 1985, được trình lên Đại
hội lần thứ V của Đảng.
- Năm 1983- 1988: Viện nghiên cứu kế hoạch dài hạn đã triển khai hàng loạt các nghiên cứu đánh giá các
nguồn lực phát triển.
1.2. Giai đoạn 1988 đến nay.
Do yêu cầu cải tiến bộ máy của Chính phủ và thực tế đòi hỏi kết hợp việc nghiên cứu kế hoạch dài hạn với
nghiên cứu phân bố lực lượng sản xuất nên hai nhiệm vụ này đã được thu về một mối do một Viện đảm nhận- đó là
Viện Kế hoạch dài hạn và Phân bố lực lượng sản xuất thuộc Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, nay là Viện Chiến lược
phát triển thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Trong thời gian này, tập trung nghiên cứu để đáp ứng việc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội dài hạn
trong điều kiện nền kinh tế chuyển đổi từ kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trường có sự quản lý điều tiết của
Nhà nước. Đồng thời Viện cũng tổ chức nghiên cứu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 1991- 2000. Viện
đã có những đóng góp tích cực đối với việc xây dựng chiến luợc và cũng nhận được nhiều bài học bổ ích: Quan
niệm về chiến lược, nội dung và phương pháp xây dựng chiến lược phát triển kinh tế xã hội. Viện cũng tham gia
soạn thảo các văn kiện của các Đại hội Đảng lần thứ VI, VII, VIII và một số Hội nghị Ban chấp hành Trung ương
Đảng.
Triển khai nghiên cứu quy hoạch phát triển kinh tế xã hội cả theo chiều rộng và chiều sâu trên phạm vi cả
nước, công tác quy hoạch được tiến hành tương đối bài bản.
- Đối với nông nghiệp: Viện đã tham gia cùng Bộ chuyên ngành nghiên cứu: Chiến lược phát triển nông
nghiệp đến năm 2000; “Định hướng và quy hoạch chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghịêp, nông thôn Việt Nam
đến năm 2000”, trên cơ sở chiến lược nông nghiệp, đã nghiên cứu quy hoạch về một số chuyên ngành lớn như
Tổng quan về sản xuất lương thực, thực phẩm, cao su, chè, cà phê, dâu tằm, mía đường, cây ăn quả và chăn nuôi...
và phục vụ việc xây dựng kế hoạch 5 năm (1996-2000).
- Đối với lâm nghiệp : Viện tham gia xây dựng báo cáo tổng quan phát triển lâm nghiệp và chương trình
hội.
Các cấp của quy hoạch: quy hoạch vùng là cấp cao nhất, tiếp đến là quy hoạch phát triển nghành và cuối
cùng là quy hoạch sử dụng không gian
(Gồm cả quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch đô thị).
Ta có sơ đồ các loại hình kế hoạch sau:
Sơ đồ2: Mối quan hệ giữa các loại hình kế hoạch.
Viện chiến lược phát triển là cơ quan trực thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Nhiệm vụ chủ yếu của Viện là
nghiên cứu khoa học và tổng hợp, tổ chức xây dựng và tham mưu về lĩnh vực chiến lược và quy hoạch phát triển
kinh tế- xã hội cả nước và các vùng lãnh thổ. Trong hoạt động quản lý đầu tư của Nhà nước ở tầm vĩ mô, công tác
lập chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động kế hoạch hoá hoạt
động đầu tư. Nó đi trước một bước, làm tiền đề để công tác kế hoạch hoá hoạt động đầu tư có định hướng, mục tiêu
rõ ràng, phù hợp với chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội đã được duyệt. Đồng thời cũng hỗ trợ cho
việc đề xuất các giải pháp tốt nhất để đạt được mục tiêu đó với hiệu quả cao nhất. Là công cụ đắc lực để Nhà nước
quản lý hoạt động đầu tư ở tầm vĩ mô.
Đối với nền kinh tế cũng như hoạt động đầu tư, công tác kế hoạch hoá là hết sức cần thiết. Lập kế hoạch là
quyết định trước xem trong tương lai phải làm gì và làm như thế nào, làm bằng công cụ gì, khi nào làm và ai làm?
Mặc dù chúng ta ít khi tiên đoán chính xác được tương lai và những yếu tố nằm ngoài sự kiểm soát có thể phá vỡ
những kế hoạch tốt nhất. Nhưng nếu như không có kế hoạch, các sự kiện sẽ diễn ra một các ngẫu nhiên và chúng ta
sẽ mất đi khả năng hành động một cách chủ động.
Viện có nhiệm vụ nghiên cứu, xây dựng, đề xuất, phối hợp cùng các ban nghành khác trong lập chiến lược,
quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội,tham gia góp ý kiến trong xây dựng kế hoạch 5 năm để trình Quốc hội và Thủ
tướng Chính phủ thông qua. Đây là cơ sở để xây dựng các chương trình dự án lớn, có ý nghĩa quyết định đối với
phát triển kinh tế- xã hội của cả nước. Bên cạnh đó, các dự án lớn phải được hình thành từ kế hoạch 5 năm, các dự
án nhỏ được hình thành từ chương trình dự án. Tất cả các dự án được xây dựng phải dựa vào quy hoạch, không
được trái với quy hoạch. Kế hoạch hàng năm hình thành từ kế hoạch 5 năm và nó có nhiệm vụ phân bổ nguồn lực
cho các chương trình và cho các dự án.
Những đóng góp trong nghiên cứu của Viện đối với hoạt động đầu tư từ năm 1988 đến nay:
Viện đã gặt hái được một số thành công nhất định trong nghiên cứu xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế- xã
hội trong điều kiện nền kinh tế chuyển đổi từ kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý và
số hạn chế cần được quan tâm đó là:
- Chất lượng công tác quy hoạch chưa cao, phản ánh rõ nét là sự mất cân đối giữa nhu cầu phát triển và khả
năng phát triển.
- Tình trạng quy hoạch treo còn diễn ra tương đối phổ biến, dẫn đến ra quyết định đầu tư sai lầm hay đầu tư
dàn trải, gây lãng phí nguồn lực xã hội. Công tác quy hoạch đôi khi chưa đi trước một bước để làm cơ sở cho hoạt
động đầu tư, dẫn tới đầu tư không mang lại hiệu quả, gây thất thoát, lãng phí vốn đầu tư.
- Vấn đề thị trường chưa được nghiên cứu đầy đủ trong công tác quy hoạch, các địa phương chưa được tiếp
cận đầy đủ, thống nhất phương pháp và cách tính các chỉ tiêu.
- Cơ sở vật chất, hạ tầng của Viện vẫn còn nhiều hạn chế, gây trở ngại trong công tác nghiên cứu và dự báo.
Đặc biệt, chất lượng của công tác dự báo chưa cao, chưa có sự độc lập trong công tác dự báo với các cơ quan khác.
4. Hướng hoạt động chính.
Trong thời gian tới Viện chiến lược tiếp tục duy trì và tập trung vào những hoạt động sau:
- Duy trì các mối quan hệ đã được thiết lập trong thời gian qua.
- Mở rộng các mối liên kết với các Viện chiến lược phát triển có cùng chức năng trong nước cũng như trên
thế giới
- Tăng cường trao đổi hợp tác giữa các bộ phận, Ban trong Viện với nhau.
- Hợp tác quốc tế để trao đổi kinh nghiệm thông qua các dự án, trao đổi các bộ, hỗ trợ đào tạo.
- Tăng cường tổ chức các buổi hội thảo giữa các Bộ, Ngành trong cả nước để đưa ra các biện pháp giải quyết
các vấn đề có tính chất tổng hợp.
- Xây dựng hệ thống dữ liệu được cập nhật thường xuyên phục vụ cho công tác dự báo.
- Đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại trong tất cả các quá trình xử lý, phân tích thông tin.
III. KHÁI QUÁT VỀ BAN NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH DỊCH VỤ
1.Chức năng nhiệm vụ
- Nghiên cứu tổng hợp các kết quả nghiên cứu và xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển các ngành dịch
vụ của cả nước và trên các vùng lãnh thổ.
- Làm đầu mối tổng hợp, tham mưu các vấn đề liên quan về quản lý Nhà nước đối với công tác quy hoạch
các ngành dịch vụ trên cả nước. Tham gia thẩm định các dự án quy hoạch các ngành dịch vụ.
- Tham gia đóng góp ý kiến xây dựng kế hoạch 5 năm và kế hoạch hàng năm của các ngành dịch vụ.
- Nghiên cứu lý luận, phương pháp luận và phương pháp xây dựng chiến lược và quy hoạch phát triển các
ngành dịch vụ.
thống các trường dân tộc nội trú với điều kiện tương đối tốt để đào tạo con em các dân tộc ít người. Hệ thống các
trường ngoài công lập được hình thành đã góp phần đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng cao của nhân dân.
Tính đến 12/2006 cả nước đã có 36 tỉnh, thành phố đạt phổ cập giáo dục tiểu học, 32 tỉnh thành phố đạt phổ
cập giáo dục THCS, số giáo viên bình quân tính trên một lớp đảm bảo đủ theo quy định (Đến năm 2006, đội ngũ
nhà giáo Việt Nam gồm nhà giáo trực tiếp giảng dạy và nhà giáo làm công tác quản lý giáo dục đã lên đến gần
980.000 người, trong đó GV phổ thông: 770.000 người, GV mầm non: 160.000 người, Giảng viên ĐH có gần: