Lời nói đầu
Rừng là vàng là nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá nhất của thế giới
nói chung và của Việt Nam nói riêng. Đất nớc ta với 3/4 diện tích đất đồi là núi gắn
liền trên đó là thảm thực vật rừng và tập đoàn các loài động vật rừng khá đa dạng.
Nơi đây cũng là địa bàn c trú lâu đời của hàng triệu ngời thuộc rất nhiều các dân tộc
trong cộng đồng ngời Việt. Tài nguyên rừng là một tài sản lớn và vô cùng quí giá
của đất nớc không chỉ ở giá trị kinh tế của nguồn lâm sản, mà đặc biệt là ở giá trị
bảo tồn môi trờng sinh thái tự nhiên của nó. Chính rừng là nơi sản xuất ra khí oxy
nuôi sống con ngời vừa là nơi thu lọc và giữ lại khí CO
2
và các chất độc hại khác, nó
chính là lá phổi của mọi sinh vật trên trái đất. Đồng thời rừng còn là hồ chứa nớc
thiên nhiên khổng lồ nhất, quan trọng nhất cung cấp nớc cho phát triển nông lâm
ng nghiệp phục vụ đời sống sinh hoạt của con ngời và các sinh vật khác.
Trong cuộc kháng chiến cứu nớc diện tích rừng của nớc ta đã bị tàn phá do
chiến tranh và chất độc hoá học, nhng trong những thập kỷ qua diện tích rừng ngày
càng suy giảm, tình trạng khai thác gỗ một cách bừa bãi. Việc chặt phá rừng lấy đất
làm nơng rẫy đã làm giảm tỷ lệ che phủ của thảm thực vật rừng từ 43% năm 1943
xuống còn 27,2 % năm 1990. Đó chính là nguyên nhân gây nên sự huỷ hoại tàn phá
môi sinh môi trờng mà chúng ta phải gánh chịu, nh dịch đại hạn hán năm
1997-1998. Các trân lũ lụt từ năm 1996 đến năm 2001 đã gây nên những tổn thất rất
to lớn về tài sản và tài nguyên thiên nhiên coi nh là một quốc nạn trên đất nớc ta.
Ví dụ điển hình nhất là trận lũ lụt, lũ ống, lũ quét khủng khiếp năm 1992 ở
Sơn La, và trận lũ năm 2000 ở Lai Châu là bài học cảnh tỉnh để chúng ta phải nhìn
nhận và đánh giá một cách đầy đủ hơn vấn đề đầu t vào phát triển lâm nghiệp trong
đó việc đầu t phát triển lâm nghiệp vùng Tây Bắc-Việt Nam giữ vị trí trọng yếu.
Tây Bắc là vùng núi biên giới phía bắc ngoài việc giữ vị trí vô cùng quan
trọng về an ninh quốc phòng, thì Tây Bắc là nơi có nhiều dân tộc thiểu số, có trình
độ phát triển kinh tế thấp, đời sống khó khăn sống, nguồn sống chủ yếu dựa vào
rừng nh thu lợm măng lâm đặc sản kiếm gỗ củi. Do ý thức và trình độ dân trí thấp
cho nên tình trạng phá rừng, đốt nơng làm rãy, khai thác gỗ và các lâm đặc sản
I. Cơ sở Lý luận chung về đầu t phát triển
1. Khái niệm về đầu t và đầu t phát triển.
Đầu t là một hoạt động cơ bản, tồn tại tất yếu và có vai trò quan trọng trong
bất kỳ nền kinh tế xã hội nào. Thuật ngữ Đầu t (Investment) có thể đợc hiểu
đồng nghĩa với Sự bỏ ra, Sự hy sinh từ đó có thể coi Đầu t là sự bỏ ra, sự hy
sinh những cái gì ở hiện tại (tiền, sức lao động, của cải vật chất, trí tuệ ) nhằm đạt
đợc những kết quả có lợi cho ngời đầu t trong tơng lai. Trên thực tế có rất nhiều
cách tiếp cận khái niệm đầu t khác nhau, nhng thờng đề cập đến một số khái niệm
cơ bản sau:
- Đầu t là quá trình sử dụng vốn đầu t nhằm tái sản xuất giản đơn và tái
sản xuất mở rộng các cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế nói chung, các địa ph-
ơng, các ngành và của các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ nói riêng.
- Đầu t là hoạt động kinh tế nhằm phát triển trong tơng lai, đó là hoạt động
sử dụng tiền vốn và các nguồn lực khác trong một khoảng thời gian tơng đối dài
nhằm thu đợc lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế xã hội.
- Đầu t là việc bỏ tiền ra nhằm tạo những năng lực mới để từ đó dự kiến
khai thác đợc khoản tiền lớn hơn số tiền đã bỏ ra.
- Hoạt động đầu t là quá trình huy động và sử dụng mọi nguồn vốn phục vụ
sản xuất kinh doanh nhằm sản xuất sản phẩm hay cung cấp dịch vụ đáp ứng nhu
cầu của cá nhân và xã hội.
Nh vậy đầu t trên giác độ nền kinh tế là sự hy sinh giá trị hiện tại gắn với
việc tạo ra các tài sản mới cho nền kinh tế. Các hoạt động mua bán, phân phối lại,
chuyển giao tài sản hiện có giữa cá nhân, các tổ chức không phải là đầu t đối với
nền kinh tế. Vốn đầu t đợc hình thành từ tiền tích luỹ của xã hội, từ các cơ sở sản
xuất kinh doanh dịch vụ, từ tiền tiết kiệm của dân và vốn huy động khác đợc đa
vào sử dụng trong quá trình sản xuất xã hội nhằm duy trì tiềm lực sẵn có và tao
tiềm lực mới cho nền sản xuất xã hội.
Đầu t phát triển (đầu t tài sản vật chất và sức lao động ) là loại hình đầu t
trong đó ngời có tiền bỏ tiền ra để tiến hành các hoạt động nhằm tạo ra tài sản mới
cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động xã hội
(C+V+M)
II
> (V+M)
I
+ (V+M)
II
Có nghĩa là t liệu tiêu dùng cho khu vực II tạo ra không chỉ bù đắp t liệu tiêu
dùng ở cả hai khu vực mà còn d thừa để đảm bảo thoả mãn nhu cầu t liệu tiêu dùng
tăng thêm do quy mô sản xuất của nền sản xuất xã hội đợc mở rộng.
Để có d thừa về t liệu sản xuất, một mặt phải tăng cờng sản xuất t liệu sản
xuất ở khu vực I, mặt khác phải sử dụng tiết kiệm t liệu sản xuất ở cả hai khu vực.
Để có d thừa về t liệu tiêu dùng, một mặt phải tăng cờng sản xuất t liệu tiêu dùng ở
khu vực II mặt khác phải tăng cờng thực hành tiết kiệm tiêu dùng trong sinh hoạt ở
cả hai khu vực.
Ngoài ra Mác còn phân tích về các yếu tố kinh tế kỹ thuật. Mục đích nhà t
bản là tăng giá trị thặng d và họ dựa vào chủ yếu là cải tiến kỹ thuật. Ông cho rằng
cải tiến kỹ thuật làm tăng số lợng máy móc, d thừa lao động, nghĩa là cấu tạo hữu
cơ C/V Có xu hớng ngày càng tăng. Do đó các nhà t bản cần nhiều tiền vốn hơn để
khai thác tiến bộ kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động của công nhân. Cách duy
nhất để gia tăng vốn là tiết kiệm, các nhà t bản không đợc dùng hết giá trị thặng d.
Họ phải chia giá trị thặng d thành hai phần: một phần để tiêu dùng, một phần để
tích luỹ phát triển sản xuất.
Từ đó có thể tìm ra con đờng cơ bản, quan trọng và lâu dài để tái sản xuất
mở rộng là phải phát triển sản xuất và thực hành tiết kiệm ở cả trong sản xuất và
trong tiêu dùng.
3. Vai trò của đầu t trong nền kinh tế quốc dân
3.1.Đầu t vừa tác động đến tổng cung tổng cầu
- 4 -
Về mặt cầu: Đầu t là một yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu của toàn
bộ nền kinh tế. Theo số liệu thống kê của ngân hàng Thế giới, đầu t thờng chiếm
ICOR của mỗi nớc
Từ đó suy ra
- 5 -
ICOR =
Vốn đầu tư
Mức tăng GDP
Mức tăng GDP =
Vốn đầu tư
ICOR
Nếu ICOR không đổi, mức tăng GDP hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đầu t. ở
các nớc phát triển ICOR thờng lớn do thừa vốn thiếu lao động, vốn đợc sử dụng để
thay thế công nghệ hiện đại có giá cao. Còn các nớc chậm phát triển ICOR thấp do
thiếu vốn, thừa lao động nên có thể và cần phải sử dụng lao động để thay thế cho
vốn, do sử dụng công nghệ kém hiện đại, giá rẻ.
Kinh nghiệm cho thấy ICOR trong công nghiệp cao hơn ICOR trong nông
nghiệp. Do đó ở các nớc phát triển, tỷ lệ đầu t thấp thờng dẫn đến tốc độ tăng trởng
thấp, còn đối với nớc đang phát triển, phát triển về bản chất đợc coi là vấn đề đảm
bảo các nguồn vốn đầu t đủ để đạt đợc một tỷ lệ tăng thêm sản phẩm quốc dân dự
kiến.
3.4. Đầu t và sự chuyển dịch cơ cấu.
Kinh ngiệm của một số nớc trên thề giới cho thấy con đờng tất yếu có thể tăng tr-
ởng nhanh tốc độ mong muốn (từ 9 đến 10%) là tăng cờng đầu t nhằm tạo ra sự
phát triển nhanh ở khu vực dịch vụ và công ngiệp. Đối với các ngành nông lâm ng
ngiệp do những hạn chế về đất đai và khả năng sinh học, để đạt đợc tốc độ tăng tr-
ởng từ 5 đến 6% là rất khó khăn. Nh vậy chính sách đầu t quyết định quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các quốc gia nhằm đạt đợc tốc độ tăng trởng nhanh
của toàn bộ nền kinh tế .
Về cơ cấu lãnh thổ, đầu t đầu t có tác dụng giải quyết những mất cân đối về phát
triển giữa các vùng lãnh thổ, đa những vùng kém phát triển thoát khỏi đói nghèo,
phát huy tối đa những lợi thế về tài nguyên, địa thế kinh tế, chính trị, của những
xã hội đặc biệt là nơi dự trữ và điều tiết nguồn nớc thiên nhiên vô tận cho mọi sinh
vật.
Theo quyết định 1171/QĐ ngày 30/11/1986 của Bộ trởng Bộ Lâm nghiệp
Ban hành quy chế quản lý ba loại rừng, rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc
dụng. Bản quy chế này đã làm rõ khái niệm phân loại các loại rừng, và chi tiết
phân loại cho từng loại rừng nh sau:
Rừng đặc dụng: Rừng đặc dụng đợc xác định nhằm bảo tồn thiên nhiên,
mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng của quốc gia, nguồn gen thực vật và động vật rừng, là
nơi nghiên cứu khoa học, bảo vệ di tích lịch sử văn hoá, bảo vệ các danh lam thắng
cảnh, phục vụ nghỉ ngơi, du lịch;
Vờn quốc gia là vùng đất tự nhiên đợc thành lập để bảo vệ lâu dài một hay
nhiều hệ sinh, bảo đảm các yêu cầu cơ bản để bảo tồn nguồn tài nguyên thiên
nhiên.
Khu bảo tồn thiên nhiên cũng là vùng đất tự nhiên đợc thành lập nhằm đảm
bảo diễn biến tự nhiên một khu vực nhất định. Nó chia thành hai loại sau: khu dự
trữ thiên nhiên và khu bảo tồn tự nhiên.
Khu rừng văn hoá- lịch sử-môi trờng (khu bảo vệ cảnh quan) là khu bao
gồm một hay nhiều cảnh quan có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu hoậc có giá trị văn hoá
lịch sử nhằm phục vụ cho các hoạt động văn hoá du lịch hoặc để nghiên cứu tham
gia học tập hoặc nghỉ ngơi.
Rừng phòng hộ: Rừng phòng hộ đợc xác định chủ yếu để xây dựng và phát
triển rừng cho mục đích bảo vệ và điều tiết nguồn nớc, bảo vệ đất, chống xói mòn,
hạn chế thiên tai, điều hoà khí hậu, bảo đảm cân bằng sinh thái và an ninh môi tr-
ờng.
Rừng phòng hộ đầu nguồn nhằm điều tiết nguồn nớc cho các dòng chảy, tạo
nguồn nớc cho các hồ chứa để hạn chế lũ lụt, giảm xói mòn, bảo vệ đất, hạn chế
- 7 -
quá trình bồi lấp các lòng sông, lòng hồ, ao thậm chí hạn chế khả năng bồi lấp các
vùng đất nông nghiệp và công trình hạ tầng.
Rừng phòng hộ chống gió hại, chắn cát bay, phòng hộ bảo vệ sản xuất nông
*Đất nông nghiệp
*Đất lâm nghiệp
*Đất khu dân c nông thôn
*Đất đô thị
*Đất chuyên dùng
*Đất cha sử dụng
Trong đó theo nghị định số:163/1999/NĐ-CP quy định về đất lâm nghiệp:
1.Đất lâm nghiệp có rừng tự nhiên, đất đang có rừng trồng.
- 8 -
2.Đất cha có rừng, nhng đợc quy hoạch để sử sụng vào mục đích lâm nghiệp
nh trồng rừng, khoanh nuôi, bảo vệ để phục hồi tự nhiên, nghiên cứu thí nghiệm
lâm nghiệp.
Qui hoạch sử dụng đất là một quá trình xác định phơng án sử dụng đất và
giao đất có sự tham gia của ngời dân. Có thể chia quá trình qui hoạch đất và giao
đất giao rừng thành hai quá trình nh sau:
Qui hoạch sử dụng đất là một quá trình xác định phơng án sử dụng đất hợp
lý nhất cơ cấu cây rừng, năng suất sản phẩm và việc quản lý sử dụng bền vững cho
một đối tợng sử dụng đất nào đó trên một đơn vị diện tích nhất định. Việc qui
hoạch sử dụng đất có thể tiến hành ở cấp quốc gia, tỉnh, đầu nguồn, cho đến xã,
bản. Sẽ không có một qui hoạch sử dụng đất nào hoàn hảo tuyệt đối cả vì sử dụng
đất thay đổi liên tục do những biến động về mặt kinh tế xã hội và chính sách cũng
nh chính bản thân việc sử dụng đất cũng tự nó thay đổi co các điều kiện tự nhiên và
khí hậu thay đổi.
Giao đất giao rừng là một thủ tục cần thiết để xác định chủ thực sự của
mảnh đất đó. Mục tiêu của việc này là xác định quyền sử dụng đất để giải quyết
các tranh chấp đất đai, đảm bảo sử dụng đất phù hợp, khuyến khích đầu t t nhân
trong việc cải tiến sử dụng đất và thúc đẩy sản xuất cũng nh tạo cơ sở cho việc thu
thuế. Quyền và nghĩa vụ của ngời nhận đất đợc xác định rõ trong Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất hay còn gọi là Sổ đỏ.
Tổng quỹ đất lâm nghiệp hiện nay (năm 2001) vào khoảng 19 triệu ha, bao
bột giấy, thậm chí đơn giản hơn là các thiết bị cần thiết để khai thác và vận chuyển
gỗ đến nơi buôn bán, cũng cần phải có những khoản vốn đầu t đáng kể. Ngoài ra,
đối với vốn đầu t để khai thác và chế biến lâm sản, còn có một đặc trng mang tính
đặc thù riêng, đó là tỷ lệ cao giữa lợng vốn tích luỹ (sự tích luỹ để phát triển rừng
trong cả một giai đoạn của chu kỳ) với khối lợng sản xuất hàng hoá hàng năm. Giá
trị tiềm tàng của lợng vốn đợc tích luỹ này là một dạng vốn có tính chi phí cơ hội
cao, và phải đợc tính đến trong khi quyết định về đầu t vào rừng và đa ra quyết
định quản lý tài nguyên rừng. Để thu hút vốn trong ngành lâm nghiệp, các ngành
công nghiệp rừng phải có khả năng sinh lãi đủ để trang trải mọi chi phí và phải có
lợi nhuận tơng đối khá. Chỉ có nh vậy, giá trị của gỗ và rừng mới có thể tăng lên
đợc.
Sự khan hiếm của vốn- chi phí thời gian của đầu t
Hầu hết vốn ở các nớc đều khan hiếm đặc biệt là nớc đang phát triển. Điều
này đòi hỏi về vốn của các dự án có khả năng thực thi về mặt kỹ thuật thờng vợt
quá khả năng cung cấp vốn có sẵn của các tổ chức. Do đó, những nhà ra quyết
định cần phải lựa chọn giữa các dự án khác nhau có tính cạnh tranh để phân bổ các
nguồn quỹ có hạn này cho các dự án. Các dự án đầu t này phải có tính khả thi về
mặt kinh tế, ngơi ra quyết định phải có đủ các căn cứ và có đủ thông tin tin cậy để
so sánh và phân hạng các dự án theo lợi nhuận thực đợc dự tính trớc. Do đó, để tối
đa hóa lợi nhuận, nhất thiết phải so sánh tất cả các khả năng của dự án và việc đầu
t, và phân hạng chúng theo phần đóng góp tơng ứng của các dự án và việc đầu t.
Xác định tính khả thi của dự án đầu t.
Việc xác định tính khả thi là một trong những nhiệm vụ cơ bản của các nhà
kinh tế lâm nghiệp là xác định giá trị các dự án đầu t của ngành lâm nghiệp và
định rõ các lựa chon, giải pháp về quản lý rừng. Mục tiêu cơ bản của xác định giá
trị kinh tế là, xác định xem liệu lợi nhuận có nhiều hơn chi phí hay không để có thể
đa ra một quyết định thực thi một cách chắc chắn, có căn cứ. Nh đã chỉ rõ, khi
các chi phí và lợi nhuận không đồng thời xảy ra, thì ứng dụgn các phép phân tích
thống kê cha đủ để đánh giá dự án. Lợi nhuận tích luỹ đợc ở giai đoạn cuối của
một dự án đầu t trồng rừng phải đợc so sánh với các chi phí trồng rừng đã đợc chi
xuất thì điều đầu tiên là cần phải dự tính đợc chất lợng gỗ
Ta có công thức:
- 11 -
n
n
i
n
i
n
i
n
i
r
rCrB
NPV
)1(
)1()1(
0 0
11
+
++
=
= =
Trong đó: Bt = Tổng thu nhập ở cuối năm t
Ct = Chi phí phải chi trả vào thời điểm đầu năm thứ t
n = Số chu trình quay vòng, tính bằng năm.
t = số năm tính từ khi bắt đầu đầu t (i=0 đến năm thứ n)
r = Tỷ lệ lãi suất hàng năm
nhiên xã hội mà còn khả năng sinh lời của vốn đầu t rất thấp. Bởi rừng trồng ở
những nơi có đất xấu khô cằn, vị trí địa lý, địa hình phức tạp, giao thông kém phát
- 12 -
triển. Nơi có điều kiện kinh tế kém phát triển, ngời dân sống chủ yếu dựa vào rừng,
sản xuất theo kiểu tự cung tự cấp. Do đó vốn rừng trồng không những không đợc
đầu t mà còn bị khai thác bừa bãi đến khi đến tuổi khai thác thì sản lợng gỗ thấp
giá trị kinh tế không cao nh trồng Keo, Bạch Đàn trong ba năm chi phí khoảng
3,8-5 triệu/ha sau 8-10 năm mới cho thu hoạch đợc từ 80-100 m
3
/ha khai thác. Nếu
đơn giá gỗ nguyên liệu bán ở cửa rừng (tra khai thác và vận chuyển ra cửa rừng ng-
ời khai thác phải chịu) thì cũng chỉ bán đợc 150-180.000đ/m
3
nh thế tổng số chỉ
đạt: 15-20 triệu/ha trừ chi phí trồng và chăm sóc và công khai thác mất khoảng 6-8
triệu thì ngời trồng rừng đợc lời 600.000-800.000đ/ha/năm là quá thấp mà thời
gian thu hồi vốn là quá lâu. Đó là cha tính đến những rủi ro nh cháy rừng, sâu
bệnh, bão lụt, hạn hán tàn phá.
Do thời gian trồng rừng lâu nên thiếu vốn. Do định kiến mà ngân hàng cho
vay vốn để trồng rừng cũng chỉ là vay trung hạn ít đợc vay dài hạn. Lãi suất vay
trồng rừng hiện vẫn áp dụng là 0,6 %/tháng, nghĩa là sau 10 năm ngời vay trồng
rừng phải trả gấp đôi cả vốn và lãi, hiệu quả lại thấp nh nói ở trên nên hiện nay
không ai dám vay để trồng rừng. Ngời ta đánh giá rất thấp nghề trồng rừng, mà họ
thờng đổ xô đi vào trồng cao su, cà phê, tiêu và các cây ăn quả, tạo ra một sự mất
cân đối nghiêm trọng giữa nông nghiệp với sản xuất lâm nghiệp.
Hơn nữa các nhà đầu t thờng nhìn nhận và đánh giá vai trò cũng nh sắp xếp
vị trí của các ngành theo tiền thuế doanh thu hay GO của ngành đó đối với nền
kinh tế, do vậy mà ngành Lâm nghiệp bị xếp vào hàng kém, bị coi nhẹ và rất khó
đợc các công ty nớc ngoài- công ty liên doanh tham gia góp vốn đầu t.
Một điển hình cho một liên doanh trồng rừng ở Việt Nam bị thất bại là liên
nâng cao vai trò của rừng nhng tiến độ việc khôi phục rừng còn chậm, hiệu quả của
phát triển kinh tế rừng cha cao, trong khi đó chất lợng rừng tự nhiên tiếp tục bị suy
thoái nghiêm trọng.
Nạn phá rừng bừa bãi đã gây nhiều hậu quả xấu không chỉ làm giảm suất
khả năng cung cấp của rừng, mà còn gây ra hoặc làm trầm trọng thêm tai hoạ cho
đời sốngcon ngời nh lũ lụt, hạn hán, xói mòn dẫn đến suy kiệt đất đai, làm thái hoá
đất và quá trình sa mạc hoá đang diễn ra, nó đang phá huỷ các công trình thuỷ lợi,
thuỷ điện, giao thông, các công trình hạ tầng và đang gây ô nhiễm môi trờng sống,
ô nhiễm bầu không khí, ô nhiễm và làm cạn kiệt các nguồn nớc .
Trớc tình hình đó Nhà nớc chủ trơng tăng cờng công tác quản lý đối với tài
nguyên rừng và đòi hỏi phải đợc thực hiện tốt trên cả bốn mặt: quản lý - bảo vệ
rừng - phát triển rừng và sử dụng có hiệu quả. Để thực hiện các khâu công tác trên,
trớc hết cần phải có thông tin và số liệu điều tra đảm bảo độ tin cây để làm căn cứ
khoa học cho việc xây dựng các chiến lợc hoặc kế hoạch đầu t phát triển tài
nguyên rừng và nghề rừng trong phạm vi toàn quốc cũng nh các địa phơng.
3.1.Bảo vệ môi trờng sinh thái:
a. Rừng đối với môi sinh:
Từ xa xa, rừng đã đợc coi là một trong những yếu tố trụ cột của môi trờng
sống. Ngời nguyên thuỷ đã biết dựa vào rừng để thu hái hoa quả, cung cấp nguyên
liệu cho sởi ấm, làm vũ khí để săn bắn, làm lều lán, nhà cửa, hàng rào, bờ dậu,
củng cố nơi ăn trốn ở. Trong quá trình tồn tại và phát triển dựa vào rừng, con ngời
ngày càng thấy đợc những giá trị nhiều mặt của rừng trên các phơng diện đặc biệt
là môi trờng sống.
b. Rừng đối với nớc và thuỷ lợi.
*Rừmg góp phần giảm lũ, tăng lu lợng kiệt của sông suối.
Do rừng giữ lại một phần nớc ma qua các tán lá, thân và rễ cây nên đã giảm
đợc các đỉnh lũ, điều đó có lợi cho việc phòng trống lũ của các hệ thống đê và các
công trình thuỷ lợi. Việc điều tiết nớc của rừng cũng đóng góp phần quan trọng
trong việc tăng lu lợng kiệt về mùa cạn, tăng năng lực tới nớc của các công trình
- 14 -
phát điện ở miền núi đều cho thấy lu lợng kiệt đều giảm trên dới 50% kiến cho
năng lực tới của công trình giảm, có công trình hầu nh bị huỷ diệt mất tác dụng
chính, vì vậy mặc dù nhiều tỉnh miền núi có phong trào làm thuỷ lợi rất mạnh nhng
không sao bù đắp đợc diện bị giảm sút ở các công trình thuỷ lợi nhỏ và nhiều công
trình thuỷ điện nhỏ đã bị hủy diệt không đủ lu lợng để phát điện.
*Rừng góp phần làm giảm đợc bồi lắng, tăng ổn định cho các dòng chảy.
Do rừng không cho nớc ma rơi trực tiếp xuống đất nên giảm đợc động năng
gây xói của dòng chảy mặt nhờ đó giảm đợc lợng phù xa bùn, cát, đá bồi lắng
trong các hồ chứa nớc, trớc các cửa cống lấy nớc và trên các kênh mơng.
Hiện nay tình hình lợng phù xa bùn, cát dòng chảy có xu hớng tăng nhất là
hiện tợng tăng nhiều của các trận lũ đầu mùa, chứng tỏ do mất rừng, tác dụng của
rừng đã bị giảm sút: Đất lâm nghiệp và đất nông nghiệp bị xói mòn nhiều hơn trớc,
tình hình đó làm cho nhiều hồ chứa nớc và cửa cống lấy nớc chóng bị bồi lắng và
hàng năm phải dùng một đội tàu hút bùn để nạo vét hàng trục vạn mét khối bùn cát
bồi lấp ở 10 cửa cống trọng điểm ven Sông Hồng.
- 15 -
Do xói mòn tăng khiến cho dòng chảy lũ của nhiều sông suối mang nhiều
thành phần rắn (cát, sỏi, đá ) đã gây phá vỡ cân bằng tự nhiên giữa sức tải của
sông ngòi và các thành phần rắn làm cho một số sông ngòi không ổn định làm cho
bề rộng mặt sông có thể tăng lên làm chuyển dịch các bãi cát di động gây bồi lấp
nhiều cửa lấy nớc dọc theo các bờ sông và cản trở đến giao thông thuỷ. Dòng chảy
rắn lắng đọng làm cho đáy sông cao dần, mực nớc mặt và nớc ngầm cũng cao
thêm, nguy cơ ngập lụt tăng lên, nên luôn luôn phải củng cố đê kè.
*Rừng góp phần giảm phá hoại của sóng biển, cát lắng, bảo vệ cho đê
biển.
Đối với dải đất dọc bờ biển nớc ta đã hình thành các loại cây chịu hạn mọc
trên đất phèn, cát khô nh Phi Lao, các loài cây sống ở vùng nớc lợ mặn nh: Đớc,
Sú, Vẹt, Dừa nớc hoặc có loại mọc trên đất chua phen ở Đồng bằng Sông Cửu
Long nh Tràm. Các cây rừng này có một số đợc phát triển tự nhiên và đợc trồng đã
góp phần tác dụng chống sóng cho đê biển, chống cát lấn và tham gia giữ đất bồi ở
/ha.
Quá trình đó tạo ra 14-18 tấn chất hữu cơ.
ở rừng ma nhiệt đới thờng xanh mức hấp thụ khí CO
2
/ năm lên đến gần 150
tấn/ha và thải ra gần 110 tấn khí oxy/ha, tạo ra gần 40 tấn/ha chất hữu cơ.
Thảm thực vật rừng và đất rừng còn là Nơi tích tụ cacbon
Sinh khối của thảm thực vật rừng là một Bể chứa các bon lớn trên trái đất.
- 16 -
Sinh khối, theo định nghĩa là khối vật chất hữu cơ đợc sản sinh ra trong một
cơ thể sống, một quần thể sinh vật. Sinh khối tập hợp các sinh vật có trong hệ sinh
thái ở thời điểm quan sát. Sinh khối có thể đợc biểu thị bằng cá thể, trọng lợng,
đơn vị năng lợng: Trong phạm vi nghiên cứu vai trò dự trữ các bon của rừng ngời
ta chỉ tính đến sinh khối của thực vật. Đó là khối lợng chất hữu cơ (cùng với các
chất vô cơ chứa trong cây) của thân, vỏ, cành, lá, gốc, rễ cây. Khối lợng của sinh
khối thực vật đợc biểu thị bằng trọng lợng vật chất ở trạng thái khô, hoặc tính
bằng khối lợng CO
2
hay cac bon. Sinh khối thực vật của rừng nhiệt đới chiếm 75%
toàn bộ sinh khối rừng trên trái đất.
Khi rừng bị cạo mất thảm thực vật thì tác hại xảy ra ở 2 phía: Mất bể hấp thụ
CO
2
đồng thời đất rừng cùng với thực vật còn lại sẽ là nguồn phát thải CO
2
quan
trọng. Vì lý do nạn phá rừng có ảnh hởng lớn tới tình trạng gia tăng hiệu ứng nhà
kính trong bầu khí quyển trái đất. Mặt khác, việc khôi phục rừng, bảo vệ rừng,
trồng rừng mới đợc coi là một trong những biện pháp hữu hiệu giảm hiệu ứng nhà
kính.
phản ánh đầy đủ mối liên quan giữa ngành lâm nghiệp với các ngành kinh tế khác
nh nông nghiệp, thuỷ lợi, xây dựng, năng lợng. Tuy nhiên, một điều hiển nhiên là
ngành lâm nghiệp đang giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế
quốc dân.
Rừng có vai trò cực kỳ quan trọng đối với kinh tế và đời sống; rừng cung
cấp những nguyên liệu lâm sản cần thiết cho những ngành công nghiệp, xây dựng,
giao thông vận tải; cung cấp những sản phẩm tiêu dùng trong đời sống nhân dân.
Trong rừng nớc ta có nhiều loại gỗ quý, những đặc sản nổi tiếng, những chim thú
hiếm, những loại cây thuốc có giá trị và còn biết bao nhiêu loài cây mà cho đến
nay chúng ta cha biết hết tính năng, tác dụng cũng nh ý nghĩa khoa học và giá trị
kinh tế của nó.
Ngoài sản phẩm chính từ gỗ rừng để sản xuất, chế biến hay tham gia vào
quá trình sản xuất của các ngành khác nh ngành than, giấy (gỗ trụ mỏ, nguyên
liệu giấy ) còn lại các sản phẩm phi lâm nghiệp đ ợc hình thành từ cây rừng là yếu
tố quan trọng trong việc tạo công ăn việc làm, cung cấp lơng thực cho ngời và thức
ăn cho gia súc, tăng thêm thu nhập, cung cấp hàng hoá đáng kể cho dân c và dùng
cả cho xuất khẩu, nh là tinh dầu từ nhựa thông, nhựa Tùng và còn để làm cây
thuốc. Việc xuất khẩu sản phẩm này từ 1996-1999 là 40 triệu USD.
Lợi ích xã hội của rừng trồng bao gồm tạo ra nhiều công ăn việc làm để
trồng, chăm sóc bảo vệ, còn xây dựng các cơ sở hạ tầng (đờng sá, nhà cửa, thông
tin). Chính phủ đã khuyến khích trồng rừng để đáp ứng những nhu cầu xã hội, kinh
tế và phát triển nông thôn. Rừng trồng còn tạo ra nhiều công ăn việc làm ổn định
và thờng xuyên cho nông dân (xây dựng, quản lý, khai thác và chế biến) trong suốt
thời kỳ kinh doanh và có thể tiếp tục trồng trong nhiều chu kỳ. Thu nhập từ rừng
trồng và cây trồng là một phần ngày càng đáng kể của nông dân cùng với những
lợi ích môi trờng. Đến nay theo thống kê cha đầy đủ thì thu hoạch từ lợi ích trồng
rừng mới chiếm khoảng 5 10% tổng thu nhập trong các hộ gia đình ở trung du
miền núi. Còn ở một số nơi ở Đồng bằng sông Cửu Long thu nhập từ trồng rừng
Tràm có thâm canh thì thu nhập từ 80-120 triệu đồng/ha sau 8-10 năm.
Rừng là loại tài nguyên sinh vật có khả năng tái sinh và phát triển không
Tây Bắc là vùng tập trung nhiều dân tộc ít ngời, đồng bào các dân tộc dân trí
còn thấp. Nguồn lao động dồi dào nhng lao động kỹ thuật ít, trình độ kỹ thuật hạn
chế, phơng thức canh tác lạc hậu. Một bộ phận còn du canh du c hoặc đã định c
nhng còn du canh, đã ảnh hởng không nhỏ đến việc xây dựng và phát triển rừng
trên địa bàn.
Xuất phát điểm của kinh tế Tây Bắc còn quá thấp, cơ sở hạ tầng vùng nông
thôn miền núi còn yếu kém, đặc biệt là giao thông đờng bộ, cha đáp ứng đợc yêu
cầu phát triển kinh tế xã hội trong đó có phát triển lâm nghiệp.
Tỷ lệ tăng dân số còn cao trong khi diện tích canh tác ruộng nớc ít. Sự gia
tăng dân số, nhu cầu về lơng thực, gỗ và lâm sản của đồng bào vùng cao đang là
sức ép lớn đối với rừng trên địa bàn.
Đứng trớc nhu cầu bức thiết đó trong những năm vừa qua nhà nớc đã có sự quan
tâm đầu t, nhng cha thu đợc kết quả thích đáng cùng với đó là sự đầu t cha đồng
bộ giữa nhà nớc với các thành phần kinh tế. Do đó ngành lâm nghiệp đặc biệt là
lâm nghiệp vùng Tây Bắc cha có bớc phát triển nhảy vọt, mà đòi hỏi phải có sự đầu
t hơn nữa cả về chiều sâu lẫn chiều rộng của tất cả các thành phần kinh tế.
2. Sự cần thiết phải đầu t vào lâm nghiệp vùng Tây Bắc:
- 19 -
Tây Bắc có vị trí chiến lợc quan trọng, là cửa ngõ phía Tây Bắc của tổ quốc,
nơi tập trung ba sông lớn: sông Đà, sông Mã, sông Nậm Rốm. Rừng Tây Bắc có
vai trò quan trọng trong việc phòng hộ đầu nguồn, duy trì nguồn nớc cho hồ thuỷ
điện Hoà Bình, hồ thuỷ điện Sơn La, Lai Châu (sắp xây dựng). Đây là những công
trình thủy lợi lớn nhất Việt Nam và Đông Nam á, với vai trò điều tiết và cung cấp
nớc cho đồng bằng Bắc Bộ, cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trên địa bàn,
cho việc phát triển kinh tế xã hội và an ninh quốc phòng ở vùng biên giới phía Tây
của tổ quốc. Vì vậy, rừng Tây Bắc có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với đồng bằng Bắc
Bộ nói riêng và toàn quốc nói chung. Song, tỷ lệ che phủ của rừng ở trên địa bàn
này hiện nay mới chỉ đạt 20 %, cha đáp ứng đợc yêu cầu về phòng hộ, môi trờng,
phát triển kinh tế xã hội và an ninh quốc phòng. Mặt khác, Tây Bắc là vùng có
nhiều dân tộc thiểu số với thu nhập bình quân thấp nhất nớc ta, do vậy mà cần có
riêng biệt, độ cao bình quân toàn vùng từ 800- 1000 m, độ dốc bình quân từ 30
0
.
Đây là một trong những trở ngại lớn trong việc phát triển kinh tế xã hội trong đó có
lâm nghiệp trên địa bàn. Nhng có hai cao nguyên tơng đối bằng phẳng và rộng lớn
đó là Mộc Châu và Nà Sản. Các cao nguyên này tơng đối thuận lợi cho việc phát
triển cây công nghiêp, cây ăn quả, cây lâm nghiệp và phát triển đàn gia súc.
Khí hậu:
Vùng Tây Bắc nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, một năm có hai mùa rõ
rệt. Mùa hè nóng ẩm, ma nhiều, từ tháng 4 đến tháng 9, mùa đông lạnh, khô hanh,
ma ít, từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau.
Tây Bắc có mùa đông lạnh, khô có gió Tây khô nóng và sơng muối (ở các
thung lũng), mùa hè đến sớm hơn các vùng khác, nóng ẩm, ma nhiều. Lợng ma
dao động từ 1108 (Yên Châu) đến 3000 mm/năm (Mờng Tè).
Nhìn chung khí hậu vùng này thích hợp để phát triển một tập đoàn cây
trồng, vật nuôi phong phú, nhất là phát triển cây công nghiệp, cây ăn quả, cây lâm
nghiệp. Tuy nhiên hoạt động sản xuất Lâm nghiệp cần phải bố trí sản xuất cho phù
hợp để tránh các yếu tố bất lợi của khí hậu thời tiết gây ra đối với cây trông; đồng
thời phải coi trọng công tác phòng chống cháy rừng trong mùa khô, nhất là cuối
mùa khô và đầu mùa gió Lào.
Tài nguyên thiên nhiên:
Tài nguyên nớc:
Tây Bắc có ba hệ thống sông lớn chính chảy qua: sông Đà, sông Mã, sông
Nậm Rốm. Sông suối Tây Bắc có độ dốc lớn, trắc diện hẹp nên tiềm năng thuỷ
điện rất lớn. Trên địa bàn vùng có gần 200 điểm xây dựng đợc thuỷ điện vừa và
nhỏ với tổng công suất 134.000kw, trong đó có 21 công trình có công suất trên
1000kw. Đặc biệt trên sông Đà trong tơng lai sẽ hình thành công trình thuỷ điện
Sơn La với công suất 3.600 Mw. Trong tơng lai trên địa bàn sẽ hình thành công
trình thuỷ điện Nâm Hằng - Nậm Bum với công suất 300-1000Mw. Bên cạnh đó
còn có rất nhiều hồ chứa (cha kể hồ thuỷ điện Hoà Bình), và tài nguyên nớc ngầm
dùng
Đất ở
Đất cha
sử dụng
và sông
suối
núi đá
1 Toàn quốc
32924061 9345346 11575429 1532843 443178 10027265
2
Tây Bắc
3563700 407400 1037000 58500 15500 2045258
3 Lai Châu
1691924 150544 511565 8849 3923 1017043
4 Hoà Bình
466253 66759 194308 27364 5807 172015
5 Sơn La
1405500 190100 331100 22300 5800 856200
Từ bảng số liệu cho thấy đất cha sử dụng và sông suối chiếm 55.4% tổng
diện tích đất tự nhiên, đất lâm nghiệp chiếm 32,2% đất tự nhiên, thực trạng sử
dụng đất đó là do hiện nay đất của các hộ nông dân đang chiếm dụng là hợp pháp
hay không hợp pháp. Ngành địa chính hiện nay cũng bất cập trớc yêu cầu này, tỷ lệ
đất đồi núi đợc giao cấp giấy chứng nhận còn thấp; đất hoang hóa mênh mông
không làm gì, nhng sờ vào đâu cũng có chủ, cũng có ngời hiện giữ lại: nào là đất
của ông tôi để lại, nào là tôi sẽ làm (trong hoàn cảnh nơng rẫy). Tình trạng nơng
- 22 -
rẫy cũ, sản xuất manh mún xen kẽ cũng phổ biến. Nh vậy đất của một hộ mà
luôn luôn họ muốn giữ lại đó bao nhiêu không ai biết. Sự chiếm hữu không hợp
pháp hay hợp pháp đó cũng cha bao giờ đợc giải quyết. Trong 9 triệu ha (cả nớc)
đất trống đồi núi trọc hiện nay nếu phân chia theo sự chiếm hữu này thì từng loại
Vùng cao là nơi c trú của cácdân tộc Hmông, Dao, Lô lô
Những năm gần đây thực hiện đờng lối đổi mới, sản xuất nông nghiệp
chuyển biến theo hớng sản xuất hàng hoá, đồng bào các dân tộc đã nhận thức rõ
hơn về vị trí, vai trò của rừng đối với sản xuất và đời sống. Nhiều dân tộc đã
chuyển từ phá rừng làm nơng trớc đây sang nhận đất để trồng rừng, làm trang trại,
trồng cây ăn quả, cây công nghiệp và chăn nuôi gia súc, đời sống từng bớc đợc cải
thiện. Tuy nhiên, hiện vẫn còn một bộ phận đồng bào các dân tộc vùng cao còn
sống du canh du c nh dân tộc: HMông, Dao, La Hủ
Trên vùng cao có nhiều dân tộc anh em trong cộng đồng các dân tộc Việt
Nam cùng sinh sống. Mỗi dân tộc có một quá trình lịch sử hình thành và tích luỹ ý
- 23 -
thức hệ riêng nên đã hình thành những phong tục, lễ nghi, lối sống riêng khá đặc
trng. Bên cạnh những nét đẹp truyền thống trong sinh hoạt văn hoá cộng đồng làng
bản, lễ hội, ca hát cần tiếp tục đợc phát huy, vẫn còn nhiều tập tục lạc hậu trong
hiếu hỷ ma chay, cới xin, kiêng kỵ gây lãng phí lớn cả tiền của và sức lao động do
vậy nó phải nhanh chóng đợc cải tiến và đổi mới cho phù hợp với sự phát triển xã
hội và nếp sống văn minh tiến bộ.
Dân số:
Dân số trung bình phân theo địa phơng từ 1995-2000
Năm
1995 1996 1997 1998 1999 2000
Tây Bắc
2065,7 2112,9 2159,4 2205,5 2239,8 2287,7
Lai Châu
535,5 549,5 562,8 576,7 593,6 613,3
Sơn La
811,7 833,4 855,0 877,0 886,5 906,8
Hoà Bình
718,5 730,0 741,6 751,8 759,7 767,6
Tổng số dân tộc miền Tây Bắc 2287,7 nghìn ngời, chiếm 3% dân số cả nớc.
thấp, trong khi đó đất lâm nghiệp có rừng và đất trống đồi núi trọc chiếm gần 80%
diện tích toàn vùng. Tuy vậy sản xuất nông nghiệp lại vẫn là nguồn thu nhập chủ
yếu của các hộ gia đình ở đây (>90%). Do điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật của
ngành nông nghiệp quá nghèo nàn, lạc hậu, trình độ dân trí có hạn, năng suất lao
động thấp nên thu nhập và mức sống của ngời dân vùng cao rất khó khăn.
Đời sống của hộ gia đình
Hơn 90% thu nhập của hộ gia đình là thu nhập từ trồng trọt, nếu tính ra đô
la. Mỹ thì mức cao nhất cũng mới chỉ đạt 100 USD/ngời/năm, nh ở xã Mờng Giòn;
Mờng Lựm (Sơn La) cá biệt còn những xã mức thu nhập bình quân 1 nhân
khẩu/năm chỉ đạt 40 USD, nghĩa là có 3- 4 USD/tháng/ngời. Mức thu nhập bình
quân chung của 29 xã khảo sát là 743.9 ngàn đồng/khẩu/năm, nghĩa là chỉ khoảng
62 ngàn đồng/khẩu/tháng, thấp hơn cả mức đói nghèo tính chung cho cả nớc. Đây
thực sự là vấn đề rất đáng quan tâm, nó cũng chính là hệ quả của tập quán du canh
du c- một cái vòng luẩn quẩn vẫn cha tháo gỡ đợc của vùng Tây Bắc hiện nay.
Cùng với phát triển sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đời sống của
đồng bào các dân tộc đã giảm nhiều khó khăn, bộ mặt nông thôn miền núi có
nhiều khởi sắc, số hộ đói giảm, số hộ khá giàu tăng, Bình quân thu nhập năm sau
cao hơn năm trớc. Bởi vậy đòi hỏi ở cấp tỉnh và trung ơng có những biện pháp để
khuyến khích đầu t phát triển lâm nghiệp đồng thời gián tiếp nâng cao đời sống
của ngời dân nhờ hiệu quả thu về từ rừng.
Trình độ văn hoá:
Theo kết quả điều tra khảo sát cho thấy trình độ học vấn của nhân dân các
xã ở vùng này còn rất thấp và tỷ lệ ngời mù chữ quá cao. Đặc biệt là dân tộc
HMông có đến 83,8% số chủ hộ đang ở lứa tuổi 35- 40 hiện cha biết đọc biết viết.
T
T
Chỉ tiêu Đơn
vị tính
Bình
quân