Đầu tư phát triển ngành giáo dục – đào tạo Việt Nam, thực trạng và giải pháp - Pdf 13

LỜI MỞ ĐẦU
Hệ thống giáo dục của nước ta đang trong giai đoạn phát triển về chất và lượng,
quy mô đào tạo tăng nhanh. Trong năm 2000 cả nước đã hoàn thành xóa mù chữ, phổ
cập giáo dục tiểu học và đang phấn đấu thực hiện mục tiêu phổ cập giáo dục trung học
cơ sở vào năm 2010, từng bước đáp ứng nhu cầu học tập và đào tạo của xã hội.
Mặc dù thế bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì chúng ta còn phải đối mặt
với những vấn đề xã hội: khắc phục sự phát triển không đồng đều giữa các vùng, các
miền; giảm dần khoảng cách giàu nghèo, giảm tỷ lệ thất nghiệp…
Chính vì thế chất lượng giáo dục đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực luôn là đề
tài thu hút được nhiều sự quan tâm của xã hội. Việt Nam dần hội nhập vào kinh tế toàn
cầu, nên nhu cầu về nguồn nhân lực có chất lượng cao là rất cấp thiết.
Chính vì vậy, tôi quyết định chọn đề tài: “Đầu tư phát triển ngành giáo dục –
đào tạo Việt Nam, thực trạng và giải pháp”. Nhằm mục tiêu nghiên cứu về thực
trạng, hiệu quả đầu tư phát triển ngành giáo dục Việt Nam. Từ đó có thể đưa ra những
giải pháp để nâng cao chất lượng và hiệu quả đầu tư đồng thời có những biện pháp huy
động vốn tích cực cho ngành giáo dục và đào tạo.
Chuyên đề thực tập gồm 2 phần:
Chương 1: Thực trạng đầu tư phát triển ngành giáo dục – đào tạo Việt
Nam
Chương 2: Giải pháp tăng cường đầu tư phát triển ngành giáo dục – đào
tạo Việt Nam.
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng chuyên đề của tôi cũng không tránh được những
thiếu sót rất mong sự chỉ bảo của cô giáo cùng ban lãnh đạo của Viện chiến lược phát
triển. Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của Th.s. Phan Thị Thu Hiền và
ban lãnh đạo Viện chiến lược đã giúp tôi hoàn thành chuyên đề thực tập này.
Nguyễn Thị Yến Thảo Lớp: Kinh tế đầu tư 47A
Chương 1: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN NGÀNH GIÁO DỤC –
ĐÀO TẠO VIỆT NAM
1.1. TỔNG QUAN VỀ NGÀNH GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO VIỆT NAM
Hệ thống giáo dục của nước ta đang trong giai đoạn phát triển về chất và lượng,
quy mô đào tạo tăng nhanh, từng bước đáp ứng nhu cầu học tập và đào tạo của xã hội.

vấn cho bản thân.
Trải qua nhiều thăng trầm với nhiều khó khăn, mạng lưới giáo dục - đào tạo được
duy trì và tiếp tục phát triển trên toàn quốc. Số trường học tăng rất nhanh ở các bậc học,
cụ thể là: ở giáo dục mầm non số trường học tăng từ 9975 vào năm 2003 lên đến 11.696
trường vào năm 2008; giáo dục phổ thông thì số trường học tăng từ 26.352 trường vào
năm 2003 lên đến 27.898 vào năm 2008. Hiện nay cả nước đã có khoảng 345 trường
ĐH và CĐ, trong đó có 288 trường công lập và 57 trường ngoài công lập. Sự phát triển
về quy mô đào tạo ở các trường học trong những năm qua đã góp phần đáp ứng nhu cầu
học tập của nhân dân và cung ứng nhân lực cho nền kinh tế, góp phần nâng cao tỷ lệ lao
động được qua đào tạo xấp xỉ 30% vào năm 2007.
Việc mở rộng quy mô, đa dạng hóa loại hình nhà trường (bán công, dân lập, tư
thục) và phát triển các hình thức giáo dục không chính quy đã tạo thêm cơ hội học tập
cho nhân dân, trước hết là thanh thiếu niên, góp phần thúc đẩy sự phát triển hệ thống
giáo dục quốc dân và bước đầu hình thành xã hội học tập
Giáo dục ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa phát triển mạnh
và có tiến bộ rõ rệt. Mạng lưới trường, lớp về cơ bản đã bảo đảm cho con em các dân
tộc được học tập ngay tại xã, thôn, bản. Việc củng cố, phát triển các trường phổ thông
dân tộc nội trú và tăng chỉ tiêu cử tuyển đã tạo thêm điều kiện cho con em các dân tộc
thiểu số ở địa bàn kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được đào tạo ở ĐH, CĐ, tạo nguồn
cán bộ cho các vùng này. Đã thí điểm và chuẩn bị ban hành chính sách học nghề nội trú
cho thanh niên, thiếu niên con em đồng bào dân tộc. Tiếng nói và chữ viết của 8 dân tộc
thiểu số đã được đưa vào giảng dạy ở trường tiểu học; trong đó tiếng Hoa và tiếng
Khơmer được dạy cả ở trường THCS.
Tuy nhiên thực tế phát triển quy mô của bậc học này lại không theo chủ quan của
quy hoạch đào tạo. Hiện nay các cơ quan quản lý vẫn đang loay hoay tìm ra hướng khắc
Nguyễn Thị Yến Thảo Lớp: Kinh tế đầu tư 47A
phục những bất hợp lý về quy mô học sinh, đó là việc phân bố ngành học, các nhà
trường không đồng đều, phần lớn các trường tập trung ở vùng Đồng bằng sông Hồng
(31%) và miền Đông nam bộ (24%), là những vùng kinh tế - xã hội phát triển. Trong khi
đó các vùng như Tây Bắc chỉ chiếm (3%), Tây Nguyên (4%), Nam Trung bộ (5%) - đây

mưu, hành động của các thế lực thù địch đối với nước ta thời gian vừa qua.
1.1.1.3. Nguyên nhân đạt được những thành tựu đó:
- Truyền thống hiếu học của dân tộc đã tiếp tục được phát huy mạnh mẽ, thể hiện
trong từng gia đình, từng dòng họ, từng cộng đồng dân cư. Nhân dân đã không tiếc công
sức, tiền của đầu tư và khuyến khích động viên con em vượt khó khăn, chăm chỉ học
tập; hỗ trợ và tạo điều kiện cho các nhà trường thực hiện dạy tốt, học tốt.
- Sự lãnh đạo của Đảng, của Quốc hội, sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ và
chính quyền các cấp; sự quan tâm, tham gia đóng góp của các tổ chức, đoàn thể và toàn
xã hội đối với giáo dục. Trong khoảng 10 năm, BCH Trung ương đã dành 3 hội nghị
chuyên đề bàn về giáo dục. Quốc hội đã thông qua Luật Giáo dục và quyết định nhiều
chủ trương lớn về phát triển giáo dục. Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã ban hành
các chính sách và trực tiếp chỉ đạo ngành giáo dục triển khai thực hiện các chủ trương
của Đảng và Quốc hội. Các địa phương đã quan tâm chỉ đạo và đầu tư để tăng cường cơ
sở vật chất và giải quyết chế độ cho giáo viên. Toàn xã hội không chỉ đóng góp tiền của,
công sức, mà cả về trí tuệ cho việc xây dựng và phát triển giáo dục, tham gia trực tiếp
vào các hoạt động giáo dục.
- Lòng yêu nước, yêu người, yêu nghề và những nỗ lực của đội ngũ nhà giáo. Đội
ngũ này không chỉ truyền đạt các kiến thức chuyên môn, mà còn thực hiện nhiệm vụ
giáo dục đạo đức, lý tưởng cho học sinh, sinh viên; giải thích các chủ trương, đường lối
của Đảng và Nhà nước trong nhân dân, trong xã hội. Những giáo viên công tác ở các
vùng núi, vùng sâu, vùng xa đã vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đóng góp to lớn vào
sự nghiệp trồng người.
1.1.2. Những tồn tại:
1.1.2.1. Về quy mô:
Cơ sở vật chất, dụng cụ dùng cho giảng dạy chưa đáp ứng nhu cầu học tập và
Nguyễn Thị Yến Thảo Lớp: Kinh tế đầu tư 47A
giảng dạy ngày càng cao của giáo viên và học sinh, sinh viên trong cả nước. Quy mô
giáo dục đại học, cao học và trung học chuyên nghiệp còn quá ít, chưa đáp ứng nhu cầu
học tập ngày càng cao của xã hội. Giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số, miền núi, vùng khó
khăn đang có dấu hiệu giảm sút cả về quy mô và chất lượng.

Bên cạnh đó ngành giáo dục còn có những hạn chế sau:
+ Cơ cấu giáo dục bất hợp lý.
+ Quảm lý giáo dục chậm chuyển biến, phân công, phân cấp trách nhiệm, quyền
hạn giữa các ngành các cấp chưa hợp lý.
+ Sử dụng và quản lý các nguồn đầu tư cho giáo dục kém hiệu quả, chưa thực sự
tập trung vào những hướng ưu tiên.
+ Cán bộ quản lý các cấp thiếu về số lượng và yếu về chất lượng, ít được đào tạo,
bồi dưỡng.
1.1.2.3. Nguyên nhân:
(*) Tư duy giáo dục chậm được đổi mới, chưa theo kịp yêu cầu phát triển của đất
nước cũng như đòi hỏi của sự chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế-xã hội và hội nhập
quốc tế.
- Các bộ, ngành, các cấp chính quyền địa phương chưa quán triệt sâu sắc các quan
điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về phát triển giáo dục, chưa cụ thể hóa kịp thời và
đầy đủ trong việc hoạch định một số chính sách và tổ chức thực hiện các hoạt động giáo
dục.
- Chưa nhận thức đầy đủ để có giải pháp đối với các vấn đề mới nảy sinh trong mối
quan hệ giữa kế hoạch phát triển giáo dục và thị trường lao động; giữa mở rộng quy mô
và nâng cao chất lượng, hiệu quả; giữa đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng cao của nhân
dân và khả năng hạn hẹp của nền kinh tế; giữa đầu tư của Nhà nước và đóng góp của
nhân dân; giữa tình trạng phân hóa giàu nghèo và yêu cầu bảo đảm công bằng xã hội
trong giáo dục.
- Chưa nhận thức đầy đủ về vai trò của công tác dự báo và nghiên cứu khoa học
giáo dục.
(*) Quản lý về giáo dục còn yếu kém và bất cập:
Nguyễn Thị Yến Thảo Lớp: Kinh tế đầu tư 47A
- Cơ chế quản lý giáo dục chưa tương thích với nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN và nhu cầu phát triển nguồn nhân lực của đất nước. Quản lý nhà nước về
giáo dục còn nặng tính quan liêu, chưa thoát khỏi tình trạng ôm đồm, sự vụ. Công tác
xây dựng quy hoạch, kế hoạch còn nhiều bất cập.

nữa giáo viên các trường ngoài công lập thường có độ tuổi cao hơn (không ít giáo viên
đã ở tuổi nghỉ chế độ) và có nhiều giáo viên hợp đồng từ các trường dạy học phổ thông
hoặc từ các trường cao đẳng, đại học. Độ tuổi trung bình của giáo viên vào khoảng xấp
xỉ 40 tuổi nên cũng hạn chế khả năng nâng cao trình độ của bản thân. Nhiều giáo viên
với khả năng sử dụng ngoại ngữ và máy tính phục vụ công tác chuyên môn còn yếu đã
cản trở việc cập nhật tri thức mới về chuyên môn và phương pháp giảng dạy. Cho dù về
cơ bản hiện nay những giáo viên này tham gia tích cực đảm bảo được việc dạy và học
trong hệ thống. Tuy nhiên kết quả đạt được ở đây cũng chưa tương xứng với mong
muốn. Những khiếm khuyết đã nêu đang ảnh hưởng lớn đến chất lượng đào tạo trong
các nhà trường.
(*) Bên cạnh các nguyên nhân chủ yếu đã nêu ở trên cần kể đến những tác động
khách quan làm tăng thêm các yếu kém, bất cập của giáo dục:
- Nhu cầu học tập của nhân dân ngày càng cao, trong khi khả năng đáp ứng của
ngành giáo dục và trình độ phát triển kinh tế của đất nước còn hạn chế. Mức đầu tư cho
giáo dục tính trung bình cho 1 người dân còn thấp so với yêu cầu bảo đảm chất lượng và
so với các nước: ở Trung Quốc là 105 USD, ở Thái Lan là 350 USD, ở Malaixia là 720
USD trong khi đó ở Việt Nam là 53 USD.
- Sức đón nhận của thị trường lao động còn hạn chế, chưa thỏa mãn nhu cầu việc
làm của người lao động đã qua đào tạo.
- Tâm lý khoa cử, bằng cấp vẫn chi phối nặng nề việc dạy, học và thi cử. Thái độ
chưa coi trọng các trường ngoài công lập làm hạn chế việc đẩy mạnh xã hội hóa giáo
dục.
1.2. THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN NGÀNH GIÁO DỤC – ĐÀO
Nguyễn Thị Yến Thảo Lớp: Kinh tế đầu tư 47A
TẠO VIỆT NAM.
1.2.1. Sự cần thiết phải đầu tư phát triển ngành giáo dục – đào tạo:
Ngành giáo dục – đào tạo muốn phát triển được và đáp ứng yêu cầu của thời kỳ
mới, nhất thiết phải được đầu tư cả về sức ngời lẫn sức của. Có thể hiểu đầu tư cho giáo
dục – đào tạo là hành động bỏ tiền ra để tiến hành hoạt động nhằm tạo tài sản mới cho
nền kinh tế nói chung và cho ngành giáo dục – đào tạo nói riêng. Giáo dục – đào tạo vừa

phẩm tri thức, có cầu và có cung đã và đang hình thành trên phạm vi toàn thế giới.
Ngành dich vụ giáo dục – đào tạo xét trên một phương diện nào đó, thì nó đang dần dần
vận hành theo cơ chế thị trường và ở đây đầu tư vào giáo dục có vai trò quyết định sức
cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ này.
1.2.2.2. Xu hướng dầu tư phát triển ngành giáo dục – đào tạo:
Xu hướng đầu tư phát triển ngành giáo dục – đào tạo ở Việt Nam đang đi dần vào
quỹ đạo chung của thế giới, bên cạnh đó dựa vào những điều kiện thực tiễn của Việt
Nam để có bước phát triển thích hợp.
Xu hướng đầu tư phát triển ngành giáo dục – đào tạo ở Việt Nam đang được triển
khai với các mục tiêu cụ thể sau:
- Nâng tỷ lệ lao động đã qua đào tạo ở các trình độ vào năm 2010 đạt 40%, trong
đó từ cao đẳng trở lên 6%, trung học chuyên nghiệp 8%, công nhân kỹ thuật 26%. Thực
hiện phổ cập trung học cơ sở trong cả nước:
+ Giáo dục mầm non: đến năm 2010 hầu hết trẻ em đều được chăm sóc, giáo dục bằng
những hình thức thích hợp. Tăng tỷ lệ trẻ dưới 3 tuổi đến nhà trẻ từ 12% năm 2000 lên
15% năm 2005 và 18% năm 2010. Đối với trẻ 3-5 tuổi tăng tỷ lệ đến trường, lớp mẫu
giáo từ 50% năm 2000 lên 58% vào năm 2005 và 67% vào năm 2010; riêng trẻ em 5
tuổi tăng tỷ lệ huy động đến mẫu giáo để chuẩn bị vào lớp 1 từ 81% năm 2000 lên 85%
vào năm 2005 và 95% vào năm 2010. Giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ trong các cơ sở
giáo dục mầm non xuống dưới 20% vào năm 2005, dưới 15% vào năm 2010.+ Giáo dục
phổ thông: thực hiện giáo dục toàn diện về đức, trí , thể, mỹ. Cung cấp học vấn phổ
thông cơ bản, hệ thống và có tính hướng nghiệp; tiếp cận trình độ các nước phát triển
trong khu vực. Tăng tỷ lệ huy động học sinh trong độ tuổi đến trường từ 95% năm 2000
Nguyễn Thị Yến Thảo Lớp: Kinh tế đầu tư 47A
lên 97% năm 2005 và 99% năm 2010.
+ Trung học cơ sở: Cung cấp cho học sinh học vấn phổ thông cơ sở và những hiểu
biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để thực hiện phân luồng sau trung học cơ sở ,
tạo điều kiện để học sinh tiếp tục học tập hoặc đi vào cuộc sống lao động. Đạt chuẩn
phổ cập trung học cơ sở ở các thành phố , đô thị, vùng kinh tế phát triển vào năm 2005,
trong cả nước 2010. Tăng tỷ lệ học sinh trung học cơ sở trong độ tuổi từ 74% năm 2000

1.2.3.1. Tình hình phát triển ngành giáo dục – đào tạo Việt Nam:
(*) Giáo dục mầm non:
Bước đầu khôi phục và phát triển giáo dục mầm non sau một thời gian dài gặp khó
khăn ở nhiều địa phương. Số xã “trắng” về cơ sở giáo dục mầm non giảm rõ rệt. Năm
học 2003-2004 đã có gần 2,6 triệu trẻ em theo học ở hơn 10.000 cơ sở giáo dục mầm
non, số trẻ 5 tuổi học mẫu giáo chiếm 90% số trẻ trong độ tuổi. Tuy vậy, tỷ lệ trẻ ra lớp
mẫu giáo ở các vùng khó khăn còn thấp, như ở đồng bằng sông Cửu Long mới đạt
42,7%.
Chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ trong các cơ sở giáo dục mầm non có tiến bộ,
song còn thấp và chưa đồng đều giữa các vùng. Một số nơi đã đưa việc dạy chữ vào lớp
mẫu giáo 5 tuổi là không phù hợp với khả năng tiếp thu của trẻ.
Quyết định 161/2002/QĐ-TTCP của Thủ tướng Chính phủ đã tạo điều kiện thuận
lợi cho việc thực hiện chế độ, chính sách hỗ trợ giáo viên và đầu tư xây dựng cơ sở vật
chất đối với giáo dục mầm non ở các vùng khó khăn. Trở ngại lớn nhất hiện nay là, đội
ngũ giáo viên mầm non còn thiếu so với định mức, nhiều giáo viên chưa đạt chuẩn;
phòng học và đồ dùng dạy học còn rất thiếu thốn.
(*) Giáo dục phổ thông:
Trong 5 năm qua, số lượng học sinh ở bậc trung học tiếp tục tăng, ở bậc tiểu học
giảm dần và đi vào ổn định. Tổng số học sinh phổ thông năm học 2003-2004 là 17,6
triệu. Đáng chú ý là tốc độ tăng số lượng học sinh ở miền núi, vùng sâu, vùng đồng bào
dân tộc thiểu số cao hơn các vùng khác, thể hiện những cố gắng khắc phục tình trạng
chênh lệch về phát triển giáo dục giữa các vùng, miền.
Số lượng trường phổ thông tăng mạnh ở tất cả các cấp, bậc học và ở hầu hết các
Nguyễn Thị Yến Thảo Lớp: Kinh tế đầu tư 47A
vùng, miền, ở các vùng khó khăn đang triển khai tích cực việc xóa phòng học tranh tre
và kiên cố hóa trường, lớp. Công tác hướng nghiệp, phân luồng học sinh sau THCS
chuyển biến còn chậm.
Khối lượng kiến thức cơ bản của học sinh phổ thông hiện nay lớn hơn và rộng
hơn so với trước đây, nhất là về các môn khoa học tự nhiên, toán, tin học, ngoại ngữ.
Chương trình ở một số môn học đã tiếp cận trình độ tiên tiến trong khu vực. Học sinh

lớp 1, 2, 3 và lớp 6, 7, 8 trên toàn quốc đúng mục tiêu và tiến độ đã đề ra. SGK mới đã
tiếp cận trình độ các nước tiên tiến trong khu vực, được đa số giáo viên và học sinh
chấp nhận, bước đầu góp phần thay đổi cách dạy, cách học, cách đánh giá trong nhà
trường.
Tuy nhiên, có những phần trong một số cuốn SGK mới ở tiểu học và THCS còn
nặng và khó, có chỗ còn sai sót. Bên cạnh đó, cần rút kinh nghiệm về quy trình tổ chức
và cách huy động các nhà giáo, nhà khoa học tham gia vào các khâu biên soạn, thẩm
định chương trình, SGK. Việc chuẩn bị điều kiện triển khai đại trà còn thiếu đồng bộ
giữa đổi mới chương trình, SGK, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và đặc biệt là bồi
dưỡng giáo viên. Ở THPT, việc thí điểm phân ban chỉ mới tiến hành được một năm,
song còn có ý kiến đề nghị xem xét lại cách tổ chức phân ban để bảo đảm mục đích và
hiệu quả.
(*) Giáo dục nghề nghiệp:
Dạy nghề đã được phục hồi sau nhiều năm suy giảm. Năm 2003 quy mô tuyển
sinh dạy nghề dài hạn và ngắn hạn đã tăng hơn 2 lần, tuyển sinh THCN tăng 1,67 lần so
với năm 1998, đưa tổng số học sinh học nghề và THCN lên 1,5 triệu. Dạy nghề ngắn
hạn và dạy nghề cho nông dân được mở rộng. Số trường dạy nghề và trường THCN
tăng.
Đến nay hầu hết các tỉnh đều có trường dạy nghề, bước đầu phát triển các trường
dạy nghề thuộc một số ngành kinh tế mũi nhọn. Mặc dù vậy, quy mô dạy nghề dài hạn
và THCN còn thấp so với yêu cầu của thị trường lao động. Cơ cấu ngành nghề đào tạo
còn mất cân đối. Mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp phân bố chưa hợp lý, còn tập
trung chủ yếu ở các thành phố lớn và các vùng kinh tế trọng điểm.
Nguyễn Thị Yến Thảo Lớp: Kinh tế đầu tư 47A
Kiến thức, kỹ năng của học sinh ở một số trường được đầu tư, trang bị tốt như
trường cao đẳng công nghiệp 4 và một số trường thuộc ngành dầu khí, bưu chính viễn
thông ... tương đương trình độ tiên tiến trong khu vực. Tuy nhiên, nhìn chung chất
lượng đại trà của giáo dục nghề nghiệp còn thấp, đặc biệt là về kỹ năng thực hành và tác
phong công nghiệp. Xã hội và các cấp, các ngành chưa thực sự coi trọng giáo dục nghề
nghiệp, nhiều học sinh chỉ coi trường dạy nghề, trường THCN là nơi trú chân để chờ thi

đã tiếp cận trình độ của các trường ĐH trong khu vực.
Tình trạng đáng lo ngại hiện nay là còn nhiều sinh viên thiếu trung thực trong
học tập và thi cử; một bộ phận chưa có hoài bão, lý tưởng; một số vi phạm nội quy, quy
chế, có biểu hiện của lối sống hưởng thụ, đua đòi. Tệ nạn xã hội, nhất là ma tuý, cờ bạc,
mê tín, vi phạm pháp luật trong sinh viên, tuy ít nhưng chưa ngăn chặn được, gây nhiều
lo lắng trong xã hội. Việc tuyển sinh chặt chẽ nhưng đánh giá quá trình học tập lại lỏng
lẻo, dẫn đến tình trạng nhiều sinh viên chưa chăm chỉ học tập. Sinh viên ít có điều kiện
tham gia nghiên cứu khoa học; năng lực tự học, tự nghiên cứu, thực hành, khả năng giao
tiếp và hợp tác trong công việc còn yếu. Trình độ ngoại ngữ của sinh viên tốt nghiệp
chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập. Chất lượng đào tạo sau đại học, đặc biệt là chất lượng
của một số luận án tiến sỹ còn thấp, chưa theo kịp trình độ phát triển khoa học, công
nghệ và chưa gắn với cuộc sống.
Việc xây dựng chương trình khung và công tác biên soạn chương trình, giáo trình
của các trường ĐH, CĐ chưa được quan tâm đúng mức. Giáo trình đại học còn thiếu,
nội dung còn lạc hậu; tài liệu tham khảo còn nghèo nàn. Chương trình chưa được thiết
kế liên thông giữa các cấp, bậc, trình độ đào tạo.
Với số lượng khoảng 40.000 giảng viên, so với quy mô trên 1 triệu sinh viên, học
viên cao học và nghiên cứu sinh, hầu hết các trường ĐH, CĐ đều thiếu giảng viên. Đội
ngũ giảng viên ĐH, CĐ mới có 45% đạt trình độ thạc sĩ trở lên. Phần đông giảng viên
nòng cốt, chuyên gia đầu ngành đã cao tuổi, sự hẫng hụt đội ngũ vẫn chưa khắc phục
được. Trong khi đó, chưa có chính sách thích hợp thu hút đội ngũ cán bộ khoa học của
các cơ quan nghiên cứu tham gia giảng dạy tại các trường ĐH. Hoạt động nghiên cứu
khoa học của các trường ĐH chưa được quan tâm đúng mức. Đa số giảng viên chỉ tập
Nguyễn Thị Yến Thảo Lớp: Kinh tế đầu tư 47A
trung vào giảng dạy, ít tham gia nghiên cứu khoa học.
Bằng nhiều nguồn vốn (đầu tư từ ngân sách, từ học phí và tranh thủ viện trợ) các
trường đã cố gắng nâng cấp thư viện, phòng thí nghiệm, cơ sở thực hành, mua sắm thiết
bị hiện đại và nối mạng Internet. Tuy vậy, tình trạng chung là cơ sở vật chất kỹ thuật
của các trường ĐH, CĐ còn thiếu và lạc hậu; diện tích sử dụng của các trường chỉ mới
đáp ứng khoảng 1/3 chuẩn quy định, đây là bất cập lớn của giáo dục ĐH nước ta. Tiến

số tiền này chỉ được dùng vào chi tiêu thường xuyên, tiền dành cho đầu tư hầu như
không đáng kể. Trong khi đó, tiền đầu tư ở đây được tính cho những việc như nâng cao
cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, trường lớp, đổi mới phương pháp dạy và học...
Tại hầu hết các nước có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới như Anh, Pháp, Mỹ và
ngay ở những quốc gia láng giềng như Trung Quốc, tỷ lệ chi thường xuyên chỉ chiếm
khoảng 40% trong tổng chi, 60% còn lại dành cho việc tái đầu tư.
Theo bảng tính cho giáo dục đào tạo bình quân cho một người đi học từ mầm non
đến ĐH trong 12 tháng (do không có số liệu thống kê chi cho học tập ở các bậc học
khác nhau nên Vụ Kế hoạch tài chính, Bộ GD-ĐT sử dụng thống kê chung cho chi phí
học tập bình quân cho người đi học từ mầm non đến ĐH):
Trong tổng số tiền phải chi trả thì học phí chỉ chiếm 27%, còn các khoản chi phí
như đóng góp cho trường lớp, học thêm và các chi phí khác chiếm tổng cộng tới là 45%.
Đến năm 2008, người đi học phải trả trung bình 1.142.000 VNĐ. Đặc biệt, số tiền
phải trả cho các khoản chi khác trong giáo dục đã tăng từ 90 nghìn lên tới 225 nghìn,
chiếm 21% tổng chi so với 14% năm 2002.
Số tiền dành chi cho phổ cập giáo dục tiểu học, duy trì kết quả phổ cập, thực hiện
phổ cập giáo dục THCS đã tăng gấp 10 lần từ 15 tỷ của năm 2002 lên thành 150 tỷ vào
năm 2006. Tuy nhiên kết quả đang phản ánh xu hướng ngược lại.
Số trẻ em từ 11 đến 14 tuổi là 6,810 triệu em, số học sinh THCS là 6,152 triệu em,
chiếm tỷ lệ 90,3%, tức là có gần 10%, tương đương với hơn 600 nghìn trẻ em tốt nghiệp
tiểu học không học lên THCS và đã bỏ học.
Nguyễn Thị Yến Thảo Lớp: Kinh tế đầu tư 47A
Số học sinh bỏ học khi học hết THCS còn lên tới hơn 2 triệu học sinh. Năm 2006,
số người đi học từ 15 đến 17 tuổi là 5,540 triệu nhưng tổng số học sinh THPT chỉ là
3,075 triệu, chiếm tỷ lệ 55,5%.
Như vậy khoảng 44,5 % học sinh tốt nghiệp THCS nhưng không học tiếp lên
THPT.
Bảng 2: Tình hình thực hiện vốn đầu tư phát triển giáo dục – đào tạo giai đoạn
2003-2008:
Đơn vị: Tỷ đồng, %

3. Tỷ trọng VĐT giáo dục –
đào tạo/VĐT xã hội
17,25 20,9 21,3 19,6 19,3 18,94
(Nguồn: Ngân sách nhà nước)
Qua những số liệu trên cho chúng ta thấy, tổng VĐT toàn xã hội ngày càng tăng.
Đặc trong năm 2008 tăng lên một cách nhanh chóng, nếu như năm 2003 VĐT toàn xã
hội là 217.600 tỷ đồng thì đến năm 2008 đã tăng lên thành 521.700 tỷ đồng (tức gấp 2,4
lần so với năm 2003). Trên cơ sở đó, VĐT cho ngành giáo dục – đào tạo cũng tăng đáng
kể, từ 37.552 tỷ đồng năm 2003 đã lên đến 98.828 tỷ đồng trong năm 2008 (gấp hơn 2,6
lần so với năm 2003). Điều này chứng tỏ, chi phí đầu tư cho ngành giáo dục – đào tạo
rất được chú trọng. Và theo ước tính thì chi phí cho giáo dục – đào tạo trên GDP ở Việt
Nam vào năm 2005 là khoảng 8,3%, đây là con số đáng khích lệ. Tuy nhiên, dù đã được
tăng nhiều nhưng vẫn chưa thấm vào đâu so với đòi hỏi thực tế.
Trong điều kiện nền kinh tế đất nước đang có những bước chuyển biến mạnh mẽ,
nhanh chóng thì việc huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội là rất cần thiết. Một
mặt là giảm gánh nặng ngân sách nhà nước, mặt khác để đầu tư phát triển các ngành
kinh tế trong xã hội nói chung và ngành giáo dục - đào tạo nói riêng. Đây là một trong
những chính sách huy động vốn đầu tư phát triển ngành giáo dục - đào tạo Việt Nam.
Nguyễn Thị Yến Thảo Lớp: Kinh tế đầu tư 47A
Để hiểu sâu sắc hơn về tình hình sử dụng vốn đầu tư phát triển ngành giáo dục - đào tạo
ta có thể đi vào cụ thể các vấn đề sau:
(*) Theo cấp bậc học:
Theo đánh giá khách quan và đánh giá một cách tổng quát thì có thể thấy rằng
trong hệ thống giáo dục - đào tạo Việt Nam cũng như hệ thống giáo dục của các nước
trên thế giới thì giáo dục phổ thông đóng vai trò hết sức quan trọng. Bên cạnh đó, giáo
dục đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp lại giúp học viên rèn luyện được kỹ
năng nghề nghiệp cần thiết cho quá trình lao động sản xuất sau này. Ta có thể thấy vốn
đầu tư phát triển ngành giáo dục - đào tạo theo cấp bậc học được phân bố như sau:
Bảng 3: Vốn đầu tư phát triển giáo dục – đào tạo theo cấp bậc học trong giai
đoạn 2003-2008:

15,83
4. VĐT cho THCN
- Tốc độ tăng
450,6
-
704,9
56,4
1.034,5
46,8
1.171
13,1
1.298
10,9
1.458,5
12,4
5. VĐT cho CĐ – ĐH
- Tốc độ tăng
2.666,2
-
3.904,1
46,4
4.896,8
25,4
5.702
16,4
6.563
15,1
7.429,3
13,2
( Nguồn: Vụ kế hoạch – tái chính, Bộ GD – ĐT)

kinh phí dùng để tăng cường năng lực dạy nghề từ Chương trình mục tiêu quốc gia về
giáo dục và đào tạo từ 110 tỷ đồng năm 2002 lên đến 1000 tỷ đồng năm 2008. Và cho
dù hầu hết các cơ sở đào tạo TCCN đều tổ chức dạy nghề nhưng hầu như không nhận
được đầu tư từ chương trình mục tiêu Tăng cường năng lực dạy nghề. Cùng với mức
đầu tư thấp cho TCCN hiện nay đã ảnh hưởng đến việc mở rộng quy mô, chất lượng và
hiệu quả đào tạo TCCN.
Trong khi nguồn lực đầu tư còn hạn chế thì nhiều trường lại có sức ì quá lớn, còn
thụ động trong việc chủ động tìm nguồn lực bên ngoài bổ sung cho những thiếu hụt trên.
Nguyễn Thị Yến Thảo Lớp: Kinh tế đầu tư 47A
Chính sự thiếu chủ động và sức ì này cũng là một trong những nhân tố quan trọng ảnh
hưởng đến chất lượng đào tạo. Theo số liệu khảo sát của Bộ GD&ĐT trong tổng số 276
trường TCCN, một con số hết sức “khiêm tốn” biểu hiện hạn chế này là số lượng các
trường TCCN có hợp đồng đào tạo với doanh nghiệp trong 2 năm vừa qua chỉ có trên 20
trường. Chắc chắn trường nào cũng biết, hợp đồng đào tạo với các doanh nghiệp không
những đem lại nguồn thu cho nhà trường mà còn tạo điều kiện cho học sinh đến thực
hành tại các doanh nghiệp đó, điều này chắc chắn hạn chế được tình trạng học chay, học
với điều kiện thực hành lạc hậu đang diễn ra ở nhiều trường. Thế nhưng, số lượng hợp
đồng liên kết hết sức có lợi này lại quá khiêm tốn.
Cũng như vậy, không cứ gì trong các trường từ đại học, cao đẳng đến trung cấp
chuyên nghiệp, một trong những nhân tố quan trọng góp phần nâng cao trình độ giảng
viên và chất lượng đào tạo và cũng tạo thêm nguồn thu cho nhà trường chính là từ các
hoạt động nghiên cứu khoa học, gắn nghiên cứu với sản xuất. Nhưng một lần nữa, thực
tế hạn chế này lại lặp lại, hiện nay ở các trường TCCN các hoạt động này đang rất yếu,
nhiều trường gần như không có. Các nguồn thu từ nghiên cứu khoa học, sản xuất hoặc
các dịch vụ khác từ các trường TCCN là rất hạn chế, và đây chủ yếu do năng lực đội
ngũ và điều kiện cơ sở vật chất nghèo nàn. Chính sự thiếu hụt các hoạt động nghiên cứu
khoa học không những làm giảm nguồn thu cho các nhà trường mà còn ảnh hưởng đến
chất lượng giáo viên và chất lượng đào tạo của nhà trường đó.
(*) Theo vùng lãnh thổ:
Việt Nam được chia thành 8 vũng lãnh thổ, đó là: Đồng bằng sông Hồng, Đồng

quan điểm đó, thì mực vốn chi cho đầu tư giáo dục - đào tạo ở vùng núi cao - hải đảo
cao nhất, tiếp theo là vùng núi thấp - vùng sâu, tiếp theo là đồng bằng và cuối cùng là đô
thị. Đảng và Nhà nước ta ngày càng có nhiều chính sách để thu hẹp khoảng cách giữa
giáo dục nông thông và thành thị, giữa miền núi và đồng bằng, giữa vùng có điều kiện
kinh tế - xã hội khó khăn với vùng có điều kiện tốt để phát triển kinh tế - xã hội. Vấn đề
này thể hiện rõ trong công tác xoá mù chữ, phổ cập giáo dục. tuy nhiên, do đặc điểm về
điều kiện tự nhiên khác nhau đã quyết định sự khác nhau về đặc điểm kinh tế - xã hội
mà dẫn đến nhiều khó khăn trong việc vận chuyển xây dựng trường học do đường sá
còn gây trở ngại lớn. Chính điều này là cho việc kếm hiệu quả trong đầu tư phát triển
Nguyễn Thị Yến Thảo Lớp: Kinh tế đầu tư 47A
giáo dục, đặc biệt ở những vùng khó khăn, tức là đôi khi chi phí lên cao nhưng kết quả
đạt được lại rất hạn chế. Bên cạnh vốn đầu tư cho ngành giáo dục lấy từ ngân sách nhà
nước, thì việc huy động vốn đầu tư của xã hội để phát triển giáo dục - đào tạo là rất
quan trọng. Tuy nhiên thì việc huy động nguồn vốn nhàn rỗi xã hộiỉơ các vùng có điều
kiện kinh tế - xã hội khó khăn là rất ít và đây đang là vấn đề hết sức khó khăn và nan
giải. Vì vậy, đối với các vùng.
Nguyễn Thị Yến Thảo Lớp: Kinh tế đầu tư 47A

Trích đoạn ĐÁNH GIÁ VỀ THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN NGÀNH GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO VIỆT NAM. Nguyên nhân của những tồn tại trong quá trình đầu tư phát triển ngành giáo dục – đào tạo: Định hướng phát triển ngành giáo dục – đào tạo Việt Nam: Chiến lược phát triển ngành giáo dục – đào tạo Việt Nam giai đoạn 2008-2020:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status