Thực hiện pháp luật về quyền chính trị đối với phụ nữ ở việt nam hiện nay - Pdf 49

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ THU HÀ

THùC HIÖN PH¸P LUËT
VÒ QUYÒN CHÝNH TRÞ §èI VíI PHô N÷
ë VIÖT NAM HIÖN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật

HÀ NỘI - 2018


HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ THU HÀ

THùC HIÖN PH¸P LUËT
VÒ QUYÒN CHÝNH TRÞ §èI VíI PHô N÷
ë VIÖT NAM HIÖN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số: 62 38 01 01

Người hướng dẫn khoa học:

1. PGS.TS. NGUYỄN THỊ BÁO
2. TS. LÊ ĐINH MÙI


6
26

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ
QUYỀN CHÍNH TRỊ ĐỐI VỚI PHỤ NỮ Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY

2.1. Khái niệm quyền chính trị, pháp luật về quyền chính trị của phụ
nữ, thực hiện pháp luật vể quyền chính trị đối với phụ nữ
2.2. Chủ thể, nội dung, hình thức, vai trò và các yếu tố đảm bảo thực
hiện pháp luật về quyền chính trị đối với phụ nữ
2.3. Thực hiện pháp luật về quyền chính trị đối với phụ nữ ở một số
nước trên thế giới và những giá trị tham khảo đối với Việt Nam

29
29
44
67

Chương 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VỂ QUYỀN CHÍNH TRỊ ĐỐI VỚI PHỤ NỮ Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY

3.1. Thực trạng pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ ở Việt Nam
hiện nay
3.2. Thực trạng thực hiện pháp luật về quyền chính trị đối với phụ nữ
ở Việt Nam hiện nay

79
79

CNH, HĐH :

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

CNXH

:

Chủ nghĩa xã hội

HĐND

:

Hội đồng nhân dân

HTCT

:

Hệ thống chính trị

LHPN

:

Liên hiệp phụ nữ

LHQ


:

Xã hội chủ nghĩa


DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Trang
Bảng 3.1:

Đại biểu Quốc hội theo chức vụ

103

Bảng 3.2:

Cơ cấu lãnh đạo chủ chốt trong cơ quan của Quốc hội

104

Bảng 3.3:

Tỷ lệ nữ đại biểu tham gia các Ủy ban Quốc hội

105

Bảng 3.4:

Phụ nữ tham gia Ban Chấp hành Trung ương


1. Tính cấp thiết của đề tài
Ở Việt Nam, quan tâm đến công tác nữ là quan điểm nhất quán của Đảng và
Nhà nước ta trong suốt quá trình cách mạng. Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh
vĩ đại đã viết:
Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, phụ nữ đảm đang ta đã góp phần
xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất. Đảng và Chính phủ cần
phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày
thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản
thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên. Đó là một cuộc cách mạng đưa
đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ [89, tr.30].
Đặc biệt, trong thời kỳ đổi mới, chủ trương của Ðảng về bình đẳng giới và
trao quyền cho phụ nữ được thể hiện xuyên suốt trong các Nghị quyết Ðại hội
Ðảng, các nghị quyết và chỉ thị của Trung ương Ðảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về
công tác quần chúng, công tác vận động phụ nữ, công tác cán bộ nữ. Từ chủ trương
của Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách, pháp luật cụ thể nhằm tạo điều
kiện để phụ nữ phát triển và thúc đẩy bình đẳng giới, trong đó quan trọng nhất là
bảo đảm và tạo điều kiện để phụ nữ Việt Nam thực hiện quyền chính trị.
Quyền bình đẳng nam nữ đã được xác định ngay từ Hiến pháp đầu tiên năm
1946 của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Vấn đề này tiếp tục được kế thừa
trong các bản Hiến pháp 1959, 1980, 1992, 2013 và cụ thể hóa trong các văn bản
luật và dưới luật. Hàng loạt các văn bản pháp luật của Nhà nước đã được ban hành
nhằm nâng cao vị thế của phụ nữ trong xã hội và thực hiện bình đẳng giới như Bộ
luật Dân sự, Bộ luật Lao động, Luật Hôn nhân và Gia đình, Pháp lệnh Dân số, Luật
Bình đẳng giới, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình... Có thể thấy hệ thống luật
pháp, chính sách về phụ nữ ngày càng được hoàn thiện, đặc biệt, với việc ban hành
Hiến pháp 2013, quyền con người trong đó có quyền của phụ nữ được khẳng định là
động lực quan trọng để phát triển xã hội. Cùng với việc ban hành pháp luật, Việt
Nam đã phê chuẩn và gia nhập Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948
và hầu hết các điều ước quốc tế cơ bản về quyền con người, trong đó có các công
ước liên quan đến các quyền của phụ nữ như: Công ước quốc tế về các quyền dân

về quyền chính trị của phụ nữ vẫn còn diễn ra ở một số nơi là cản trở quá trình phát huy
dân chủ, tăng cường pháp chế, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN),
đi ngược lại bản chất tốt đẹp của xã hội chúng ta đang xây dựng.
Những tồn tại, hạn chế nêu trên là do các nguyên nhân như: Hệ thống pháp
luật về quyền chính trị của phụ nữ còn thiếu đồng bộ và tính khả thi chưa cao; nhận
thức về chính sách pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ của các chủ thể còn
chưa đầy đủ; năng lực THPL của các chủ thể còn hạn chế; công tác chỉ đạo, kiểm
tra, giám sát việc THPL còn chậm, thiếu kiên quyết trong xử lý dẫn đến việc thực
hiện không đúng, đủ.


3
Vấn đề đặt ra là tại sao Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia
có hệ thống pháp luật tốt nhìn từ góc độ bình đẳng giới, nhưng tỉ lệ phụ nữ tham
chính có chiều hướng giảm, sự hẫng hụt về nguồn cán bộ nữ tham gia cấp ủy nhiệm
kỳ 2015-2020, kể cả nhiệm kỳ 2020-2025 đang là thực tế ở tất cả các cấp; tiếng nói
của phụ nữ trong các lĩnh vực quan trọng của đất nước chưa được chú trọng... Điều
này đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu để tìm ra những kết quả, hạn chế và nguyên
nhân kết quả, hạn chế trong THPL để kiến nghị giải pháp đảm bảo THPL về quyền
chính trị của phụ nữ ở Việt Nam hiện nay là cần thiết.
Vì vậy, nghiên cứu sinh chọn đề tài: "Thực hiện pháp luật về quyền chính
trị đối với phụ nữ ở Việt Nam hiện nay" để nghiên cứu trong phạm vi luận án tiến
sĩ luật học, chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Từ việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn việc THPL về quyền chính trị đối với
phụ nữ ở Việt Nam hiện nay, luận án luận giải, xác định các quan điểm và giải pháp
đảm bảo THPL về quyền chính trị đối với phụ nữ ở Việt Nam hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nêu trên, luận án thực hiện các nhiệm vụ sau:

luật, phát huy nhân tố con người; bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong đó có
quyền chính trị của phụ nữ trong xu thế hội nhập và phát triển hiện nay; lý luận về thực hiện
pháp luật nói chung và lý luận về thực hiện pháp luật về quyền con người, quyền của phụ nữ
nói riêng.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong Chương 1, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu tư liệu thứ cấp, phân
tích và tổng hợp được sử dụng để thu thập thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến
đề tài nghiên cứu THPL về quyền chính trị đối với phụ nữ ở nước ta hiện nay.
Trong Chương 2, tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích, đánh giá để
xây dựng các khái niệm; phương pháp phân tích, tổng hợp dùng để nghiên cứu chủ thể,
nội dung, hình thức và các yếu tố bảo đảm THPL về quyền chính trị đối với phụ nữ ở
nước ta hiện nay; phương pháp luật học so sánh được sử dụng để tham chiếu giữa các
chuẩn mực quốc tế và kinh nghiệm về THPL về quyền chính trị của đối với phụ nữ ở
một số nước trên thế giới và những giá trị có thể tham khảo đối với Việt Nam.
Trong Chương 3, tác giả sử dụng phương pháp thống kê, nhằm đánh giá việc
THPL về quyền chính trị đối với phụ nữ ở nước ta hiện nay, đồng thời đánh giá,
phân tích những kết quả, hạn chế, nguyên nhân của những kết quả, hạn chế, từ đó
tác giả làm sáng tỏ nội dung của Luận án.
Trong Chương 4, tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp
để đưa ra các quan điểm, giải pháp có căn cứ khoa học góp phần bảo đảm THPL về
quyền chính trị đối với phụ nữ ở nước ta hiện nay.


5
5. Những điểm mới của luận án
5.1. Về phương diện lý luận
Luận án là công trình nghiên cứu đầu tiên một cách toàn diện về THPL về
quyền chính trị đối với phụ nữ ở Việt Nam hiện nay nên có những đóng góp mới về
mặt lý luận sau:
- Luận án đã xây dựng được khái niệm, làm rõ chủ thể, nội dung, hình thức,

NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU
1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1.1. Khái lược tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
1.1.1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
* Một số công trình khoa học nghiên cứu về quyền chính trị, pháp luật về
quyền chính trị và thực hiện pháp luật về quyền chính trị
Thứ nhất, các công trình khoa học nghiên cứu về quyền chính trị và pháp
luật về quyền chính trị
Đề tài khoa học cấp Bộ:
"Sự phát triển quyền dân sự và chính trị trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam
(1986 - 2001)" của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh [61]. Đề tài chia các
nhóm vấn đề để nghiên cứu như: Vị trí, đặc điểm quyền dân sự và chính trị trong
Công ước quốc tế về quyền con người; nội dung cơ bản của quyền dân sự và chính
trị trong Công ước quốc tế về quyền con người; quá trình phát triển của quyền dân
sự và chính trị ở nước ta trong một số lĩnh vực, đối tượng cụ thể.
Sách:
- "Một số vấn đề về quyền dân sự và chính trị" của Hoàng Văn Hảo, Chu
Hồng Thanh [56] đã nêu lên một số nội dung cơ bản về quyền dân sự và chính trị:
Một số vấn đề về lịch sử và lý luận, quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư
tưởng Hồ Chí Minh về quyền dân sự chính trị, vị trí của quyền dân sự và chính trị
trong hệ thống nhân quyền. Quyền dân sự chính trị ở Việt Nam hiện nay.
- "Những vấn đề lý luận và thực tiễn của nhóm quyền dân sự và chính trị"
của Võ Khánh Vinh [157] đã trình bày những vấn đề liên quan đến quyền dân sự và
quyền chính trị, quyền con người, quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền bí mật
đời tư... ở Việt Nam;
- "ABC về các quyền dân sự, chính trị cơ bản" của tác giả Vũ Công Giao, Lã
Khánh Tùng [51], cuốn sách chứa đựng những thông tin cơ bản về các chuẩn mực
quốc tế và pháp luật Việt Nam về các quyền tự do biểu đạt, thông tin, hội họp, hiệp
hội, biểu tình và dân chủ trực tiếp. Cuốn sách được cấu trúc theo hình thức các câu

Các công trình nêu trên cho cái nhìn khái quát nhưng toàn diện các nội dung
liên quan đến quyền con người nói chung và quyền chính trị nói riêng như: Đặc
điểm, nội dung, các quy định của pháp luật liên quan đến quyền con người trong đó
có quyền chính trị của phụ nữ trong các lĩnh vực cụ thể của xã hội.


8
Thứ hai, các công trình khoa học nghiên cứu về THPL và THPL về quyền
chính trị gồm có:
Đề tài khoa học cấp Bộ:
- "Điều tra việc thực hiện pháp luật" của Viện Khoa học xã hội [150] nhằm đạt
được những mục tiêu trước mắt và lâu dài. Trước mắt, đề tài làm rõ mức độ vi phạm
pháp luật, tình hình THPL ở các địa phương, các ngành, phát hiện ra những vi phạm
pháp luật ở các cấp độ khác nhau, tìm ra những kẽ hở, sự chồng chéo trong pháp luật
dẫn tới việc vi phạm pháp luật. Mục tiêu lâu dài của đề tài là trên cơ sở những thông tin
thu thập được, qua phân tích, xử lý thông tin sẽ đưa ra những kiến nghị có cơ sở khoa
học về xây dựng và áp dụng pháp luật về phòng ngừa các vi phạm pháp luật kiến nghị
về hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu quả pháp luật để thực hiện nguyên tắc
Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật để Nhà nước thật sự là Nhà nước của dân, do
dân, vì dân, xây dựng đất nước giàu mạnh, công bằng, văn minh.
Nhìn chung, THPL được nghiên cứu dựa trên nền tảng lý luận Mác - Lê nin
về Nhà nước và pháp luật; kế thừa, phát triển thành tựu của lý luận về Nhà nước và
pháp luật; lý luận về THPL từ khoa học pháp lý Liên Xô và các nước XHCN Đông
Âu trước đây.
- Trong 02 công trình khoa học: "Những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật"
của Đào Trí Úc [141]; "Nhà nước và pháp luật của chúng ta trong sự nghiệp đổi
mới" của Đào Trí Úc [142] đã nêu rõ lý luận về THPL và đặt nó trong quan hệ với
các yếu tố cấu thành của điều chỉnh pháp luật; với xây dựng, bảo vệ pháp luật và
thực thi quyền lực nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu của Đổi mới. Trong bối cảnh
đó, đòi hỏi phải có cách tiếp cận mới cả về nhận thức lý luận và hoàn thiện hệ thống

huy và tăng cường sự tham gia của phụ nữ Việt Nam trong lãnh đạo, quản lý công hiện
nay. Đề tài cung cấp và phát triển các ý tưởng nghiên cứu chuyên sâu lý luận về sự
tham gia lãnh đạo, quản lý của phụ nữ trong bối cảnh hội nhập và phát triển ở Việt
Nam. Việc vận dụng cách tiếp cận lý thuyết xã hội học trong phân tích thực trạng, các
yếu tố tác động và hàm ý các chính sách tăng cường vai trò phụ nữ trong lãnh đạo,
quản lý công thể hiện sự phù hợp và kết nối được giữa lý luận và thực tiễn của chủ đề
nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu của đề tài có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo cho việc
hoàn hiện hệ thống khung pháp lý đảm bảo thực hiện quyền phụ nữ trong lãnh đạo,
quản lý và chính sách cán bộ nữ trong bối cảnh hội nhập; đồng thời là tài liệu tham
khảo hữu ích cho học viên, nghiên cứu sinh chuyên ngành xã hội học, sử học, văn hóa
học... và những tác giả quan tâm đến lĩnh vực phụ nữ, giới trong quản lý.
Sách:
- "Phụ nữ tham gia lãnh đạo quản lý" của Trung tâm Nghiên cứu Khoa học
về lao động nữ [131], cuốn sách có chủ đề phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý nhưng
mới phân tích và bàn luận sơ lược về địa vị của phụ nữ Việt Nam trong bộ máy
chính trị hiện tại.
- "Vai trò của nữ cán bộ quản lý nhà nước trong quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa" của Võ Thị Mai [85] đã phần nào làm rõ thực trạng và xu hướng biến
đổi vai trò nữ cán bộ quản lý nhà nước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa (CNH, HĐH) đất nước, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao vai
trò, vị thế của phụ nữ tham gia quản lý nhà nước trong giai đoạn hiện nay. Tuy
nhiên, ở góc độ tiếp cận xã hội học, cuốn sách là kết quả nghiên cứu về giới trong
phạm vi khảo sát, điều tra tại tỉnh Quảng Ngãi thuộc vùng Duyên hải miền Trung.
- Cuốn sách: "Công ước của Liên Hợp quốc và pháp luật Việt Nam về xóa bỏ
phân biệt đối xử với phụ nữ" của Dương Thanh Mai [84], đây là sách chuyên khảo


12
gồm 412 trang có nội dung gồm những bình luận khoa học đối với từng điều (16
điều) của CEDAW, gắn với việc đánh giá thực trạng pháp luật và thực thi pháp luật



13
quan phát triển quốc tế Canada (CIDA) [110], sách gồm 30 bài viết, báo cáo chuyên
đề của các chuyên gia, các nhà khoa học, các nhà quản lý trong các lĩnh vực đánh
giá thực hiện CEDAW của Việt Nam trong 25 năm qua.
- "Năng lực cán bộ lãnh đạo quản lý cấp cơ sở trong việc thực hiện quyền
phụ nữ - Thực trạng và giải pháp" của tác giả Nguyễn Đình Tấn, Lê Tiêu La và
Trần Thị Bích Hằng [114], sách được dựa trên kết quả của dự án điều tra về năng
lực thực hiện quyền phụ nữ của cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở được thực hiện
từ năm 2005 đến 2009. Đây là một dự án huy động được nhiều nhà khoa học cũng
như thu hút được một đội ngũ khá đông đảo cán bộ trong và ngoài Viện Xã hội học,
của Trung ương và địa phương làm công tác chuyên môn và thực tiễn xã hội tham
gia điều tra, nghiên cứu, phân tích, đánh giá. Thông qua việc mô tả và phân tích
thực trạng năng lực cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở trong việc thực hiện quyền
phụ nữ, cuốn sách giúp bạn đọc tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến thực trạng năng
lực của họ trong việc thực hiện quyền phụ nữ. Trên cơ sở đó, các tác giả đề xuất
một số kiến nghị và giải pháp cơ bản nhằm tăng cường năng lực cán bộ lãnh đạo,
quản lý cấp cơ sở trong việc thực hiện quyền phụ nữ phù hợp với giai đoạn phát
triển tiếp theo của đất nước.
- "Bảo đảm quyền của phụ nữ ở Việt Nam hiện nay" của Nguyễn Thị Báo
[12], nội dung cuốn sách góp phần luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn về bảo đảm
quyền của phụ nữ, từ đó kiến nghị các biện pháp đồng bộ và có tính khả thi giúp
phụ nữ vượt qua rào cản và thách thức để tiếp cận và thụ hưởng quyền.
Tạp chí:
- "Sự tham gia của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị - thể hiện qua bầu cử tại
Việt Nam" của tác giả Nguyễn Thúy Anh [3], tác giả đã trình bày một số nội dung
cơ bản như: khuôn khổ pháp lý về bình đẳng giới trong bầu cử, ứng cử (thể hiện qua
hệ thống các văn bản như Hiến pháp, các điều ước quốc tế, luật và các văn bản
hướng dẫn); sự tham gia của phụ nữ trong Nghị viện trên thế giới và ở Việt Nam.

gia bình đẳng vào các vị trí lãnh đạo, quản lý ở các cấp. Tuy nhiên, những luận giải
về tác động của định kiến giới đối với phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam
chưa đủ sức thuyết phục về các vấn đề liên quan của luận án nghiên cứu.
- "Một số yếu tố tác động đến tỷ lệ nữ trúng cử đại biểu Quốc hội khóa XII"
của Nguyễn Thị Phương [103] đã phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nữ
trúng cử đại biểu Quốc hội khóa XII và chỉ ra những yếu tố khách quan có sự tác
động đến kết quả tăng tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội như sự lãnh đạo, chỉ đạo của các
cấp ủy Đảng, công tác quy hoạch tạo nguồn cán bộ nữ, việc sắp xếp danh sách bầu
cử, công tác tuyên truyền và việc nâng cao nhận thức giới của cử tri. Bên cạnh đó,
bài viết còn cho rằng, các yếu tố khách quan như học vấn, nghề nghiệp, lĩnh vực, vị


15
trí công tác và uy tín của bản thân các nữ ứng cử viên cũng là những điều kiện quan
trọng quyết định sự thành công của họ trong quá trình bầu cử.
- "Những trở ngại đối với sự phấn đấu của nữ lãnh đạo" của tác giả Trần Thị
Vân Anh [4], tác giả đã trình bày những bằng chứng khá thuyết phục về những trở
ngại chính đối với sự phấn đấu của cán bộ nữ lãnh đạo. Đó là: ảnh hưởng, tác động
của những người có trách nhiệm, việc tạo nguồn và kiểm tra, đánh giá công tác cán
bộ nữ; trở ngại từ các quy định chính sách; sự ảnh hưởng của định kiến và chuẩn
mực cũ ở gia đình, cộng đồng và cơ quan. Chẳng hạn như chuẩn mực, sự mặc định
về năng lực của nam giới cao hơn so với nữ giới: "Nếu một người phụ nữ về năng
lực làm việc như một người nam giới thì chắc chắn người ta bỏ phiếu cho nam giới.
Không phải chỉ người nam bỏ phiếu cho người nam đâu mà tâm lý chung là nữ giới
cũng bỏ cho người nam giới. Có thể nhiều người không thích bị một người phụ nữ
lãnh đạo, đặc biệt là nam. Có thể họ cũng nghĩ là phụ nữ ít có thời gian dành cho
công việc hơn, vì phụ nữ còn có công việc gia đình" (Nữ, lãnh đạo sở, thành phố).
"Người ta không nói ra nhưng lúc nào người ta cũng nghĩ là nam giới làm tốt hơn".
Người có trách nhiệm thường mong muốn ở nam và nữ lãnh đạo các phẩm chất
khác nhau, đây là những kỳ vọng về "tiêu chuẩn" một cách không chính thức, nằm

- "Vấn đề sử dụng nhân tài là cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống
chính trị" của Võ Thị Mai [86], tác giả đã bàn về vấn đề sử dụng nhân tài là giới nữ
vào các vị trí lãnh đạo, quản lý trong HTCT. Đặc biệt, luận giải đến việc khắc phục
các rào cản đối với cán bộ nữ khi tham gia vào các vị trí lãnh đạo cấp cao và đề xuất
một số giải pháp về vấn đề này, tác giả nhấn mạnh: các nhà lãnh đạo là cán bộ nữ
ngoài những phẩm chất của một nhân tài, họ còn có những phẩm chất mang đặc thù
giới nữ nói riêng. Bởi vậy, các nhà hoạch định chính sách và lãnh đạo, quản lý cần
quan tâm phát hiện, đào tạo, trọng dụng và tôn vinh nhân tài nữ, tạo cho họ có môi
trường tốt hơn để làm việc và cống hiến.
- "Tăng cường tham gia của phụ nữ vào lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện
nay" của tác giả Đỗ Thị Thạch [115], tác giả đã đưa ra minh chứng phân tích về vai
trò, sự đóng góp, điểm mạnh và điểm yếu của phụ nữ trong lĩnh vực lãnh đạo, quản
lý, đồng thời chỉ ra một số những nguyên nhân hạn chế sự tham gia lãnh đạo, quản
lý của phụ nữ ở các cấp như: định kiến về năng lực lãnh đạo, quản lý của phụ nữ
vẫn còn khá nặng nề; rào cản về quy định tuổi nghỉ hưu; ảnh hưởng của công việc
gia đình. Bài viết nhấn mạnh:"Tình trạng phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý còn
thấp về số lượng và chất lượng ảnh hưởng lớn tới nguồn nhân lực chất lượng cao
của đất nước, đồng thời ảnh hưởng tới việc thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ mà
Chính phủ Việt Nam đã cam kết với các tổ chức quốc tế". Theo tác giả, trong bối
cảnh hiện nay, để tăng tỷ lệ nữ trong lĩnh vực lãnh đạo, quản lý cần thiết phải: (1)


17
Nâng cao nhận thức cho cán bộ và nhân dân về sự cần thiết của việc phụ nữ tham
gia lãnh đạo, quản lý, nhất là hiệu quả của tỷ lệ công bằng về giới trong các vị trí ra
quyết sách ở các cấp; (2) Tăng cường tuyên truyền làm thay đổi định kiến giới trong
gia đình và xã hội; (3) Xem xét và điều chỉnh tuổi nghỉ hưu của phụ nữ; (4) Thực
hiện nghiêm túc và hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về lao
động nữ nói chung, lao động nữ trong lĩnh vực lãnh đạo, quản lý nói riêng; (5) Phụ
nữ cần có tinh thần vượt qua những rào cản về giới tính để phấn đấu vươn lên trong

thống pháp luật, thực tiễn thi hành pháp luật về bình đẳng nam, nữ/bình đẳng giới ở
mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể. Tuy nhiên chỉ từ những năm gần đây, số liệu thống kê
tình hình thực tiễn mới có tương đối đầy đủ để có điều kiện đánh giá thống nhất.
Luận án đưa ra những quan điểm và đề xuất những giải pháp nhằm từng bước khắc
phục những tồn tại, hạn chế để bảo đảm THPL về bình đẳng giới ở Việt Nam đáp
ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới và xu thế hội nhập khu vực và quốc tế.
- "Phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị ở vùng Đồng
bằng sông Hồng thời kỳ đổi mới" của Nguyễn Thị Tuyết [140], tác giả đã khảo sát
về thực trạng phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong HTCT ở vùng ĐBSH, kết quả cho
thấy, các địa phương đã đạt nhiều thành tựu như: so với mức bình quân chung của
cả nước hay của vùng đồng bằng sông Cửu Long, thực trạng phụ nữ lãnh đạo, quản
lý trong cấp ủy, HĐND, Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp có nhiều biểu hiện khả
quan. Tuy nhiên, phụ nữ lãnh đạo, quản lý ở các vị trí ủy viên Ban Chấp hành
(BCH), đại biểu HĐND các cấp khu vực ĐBSH đều không đạt các chỉ tiêu mà Nghị
quyết 11 đưa ra; trong HTCT, tỷ lệ phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan lãnh
đạo (Đảng), quản lý (chính quyền) còn thấp. Thực trạng trên có nhiều nguyên nhân,
trong đó nguyên nhân quan trọng nhất là định kiến giới trong xã hội còn phổ biến.
1.1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Ở phần này, tác giả luận án tìm hiểu, sưu tầm và nghiên cứu các công trình
khoa học của nước ngoài hoặc bối cảnh ở nước ngoài có đề cập đến quyền con
người, quyền chính trị và THPL về quyền chính trị đối với phụ nữ. Cụ thể:
* Một số công trình khoa học nghiên cứu về quyền chính trị, pháp luật về
quyền chính trị và thực hiện pháp luật về quyền chính trị
- "Human Rights Law" (Luật về quyền con người) của Alston, Philip [160],
tác giả cuốn sách đã cho rằng nguồn gốc lý thuyết triết học của con người với tư
cách là phương thức để bảo đảm sự tôn trọng quyền con người trên thực tế. Các bài
viết trong cuốn sách này chủ yếu mang tính triết lý về quyền con người, các lý
thuyết chủ đạo về QCN và đưa ra các quan điểm khác nhau về việc áp dụng quyền
con người trên thực tế.
- "The International Convernant on Civil and Political Rights: Cases,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status