PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ VỚI PHỤ NỮ Ở VIỆT NAM (CEDAW)
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – NĂM 2007
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. CAO ĐỨC THÁI
Viện nghiên cứu quyền con người,
Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
HÀ NỘI – NĂM 2007 MỤC LỤC
Ký hiệu viết tắt 1
Mở đầu 2
Chương 1: CEDAW và những vấn đề lý luận cơ bản về quyền con
người của phụ nữ trong lĩnh vực lao động 5
1.1. Những vấn đề lý luận cơ bản về quyền con người của phụ nữ trong
lĩnh vực lao động 5
1.1.1. Một số nét chính về quyền con người của phụ nữ 6
1.1.2.Vai trò của phụ nữ trong lao động và việc đảm bảo quyền con người
của phụ nữ 9
3.1. Pháp luật lao động Việt Nam trong việc đảm bảo quyền của phụ nữ -
một số vấn đề đặt ra 86
3.1.1. Một số quy định mang tính bình đẳng giới trong pháp luật lao động
của nước ta chưa được đảm bảo trên thực tế 86
3.1.2. Một số khuyến nghị của Uỷ ban CEDAW cần được nội luật hoá và
bảo đảm trên thực tế ở Việt Nam 89
3.2. Phương hướng giải quyết 96
3.2.1. Giải pháp chung 96
3.2.2. Giải pháp cụ thể 98
Kết luận 102
Phụ lục 104
Tài liệu tham khảo 107
1
KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Bộ LĐ-
TB&XH
Bộ Lao động – Thương binh & Xã hội
Bộ NNPTNT
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
CEDAW
Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ
Chiến lược
Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam
GDI
Chỉ số phát triển giới
HDI
2
MỞ ĐẦU
Lao động là lĩnh vực có ý nghĩa then chốt trong mọi nền kinh tế. Vì vậy, để
đánh giá địa vị của người phụ nữ người ta thường nhìn vào việc bảo đảm quyền
của phụ nữ trong lĩnh vực này. Số liệu thống kê cho thấy phụ nữ Việt Nam chiếm
50,8% dân số và 48% lực lượng lao động cả nước. Tỷ lệ nữ tham gia hoạt động
kinh tế ở nước ta duy trì ở mức cao, năm 2003, tỷ lệ này ở nữ là 68,5%, còn ở
nam là là 75,8%. Các số liệu này cho thấy, phụ nữ đã và đang có những đóng góp
hết sức to lớn trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước. Nhìn lại lịch sử dân
tộc, từ khi giành được độc lập, trong bối cảnh "vừa kháng chiến vừa kiến quốc”
phụ nữ Việt Nam đã có những đóng góp vô cùng to lớn sức người, sức của, kể cả
sinh mạng cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Những đóng góp quan
trọng của phụ nữ đã được Bác Hồ ghi nhận: “ Non sông gấm vóc Việt Nam, do
phụ nữ ta, trẻ cũng như già ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp rực rỡ” (Hồ Chí
Minh: đd, t.6, tr432).
Được ký kết vào cuối thập niên 70 của thế kỷ XX, CEDAW chính là kết
quả của cuộc đấu tranh lâu dài nhằm xoá bỏ tình trạng phân biệt đối xử với phụ
nữ đã tồn tại rất lâu đời ở tất cả các nước trên thế giới. Sự ra đời của CEDAW đã
đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh vì bình đẳng giới.
CEDAW là văn kiện pháp lý quốc tế cụ thể hoá Hiến chương Liên hợp quốc,
Tuyên ngôn thế giới về quyền con người và các Công ước quốc tế về quyền con
một số quyền của phụ nữ được đề cập trong CEDAW nhưng chưa được thể hiện
đầy đủ trong pháp luật lao động của nước ta. Đó là những vấn đề như: tuổi hưu
của lao động nữ, lao động nữ khu vực nông thôn chưa được thụ hưởng các chính
sách về bảo hiểm xã hội, điều kiện an toàn, vệ sinh lao động và phương tiện sản
xuất còn thấp kém, tỷ lệ mắc bệnh nghề nghiệp cao, cơ chế kiểm tra, giám sát
việc thực thi luật lao động tại các doanh nghiệp còn thiếu hiệu quả đặc biệt, khi
Việt Nam đã gia nhập WTO, những vấn đề nêu trên sẽ là trở ngại lớn của phụ nữ
khi tham gia quan hệ lao động, nhiều phụ nữ có nguy cơ bị sa thải do không đáp
ứng được yêu cầu của doanh nghiệp hoặc chính những quy định bảo vệ phụ nữ
trong lao động sẽ là rào cản khiến các doanh nghiệp từ chối tuyển dụng lao động
4
nữ do bản thân doanh nghiệp chưa thể đáp ứng được yêu cầu mà chính sách,
pháp luật của Nhà nước đề ra…
Vậy làm thế nào để các quy định của pháp luật về bảo đảm quyền của phụ
nữ trong lĩnh vực lao động được thực thi trên thực tế và các yêu cầu của CEDAW
trong lĩnh vực này được chuyển hoá vào pháp luật Việt Nam? Để trả lời câu hỏi
này, đồng thời cũng là để đánh giá việc thực hiện CEDAW trên bình diện pháp
luật và thực tiễn ở Việt Nam sau 25 năm thực hiện CEDAW và góp phần nâng
cao nhận thức và hiểu biết về quyền của phụ nữ trong lĩnh vực lao động, tác giả
đã chọn đề tài: “Quyền của phụ nữ trong lĩnh vực lao động dưới góc độ thực
hiện Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ ở Việt Nam”
làm luận văn tốt nghiệp cao học.
Để hoàn thành Luận văn, tác giả đã vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin thông
qua phương pháp tư duy của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật
lịch sử, đặc biệt là hệ Tư tưởng Hồ Chí Minh. Hệ thống các khái niệm về quyền
con người và luật quốc tế về quyền con người luôn được tác giả quán triệt trong
quá trình làm luận văn. Ngoài ra, tác giả cũng sử dụng hai phương pháp nghiên
lĩnh vực lao động:
Hồ Chí Minh đã từng nói "Phụ nữ là một lực lượng lao động rất quan
trọng", phụ nữ chiếm một nửa nhân loại. Vì vậy, theo Người "Nếu không giải
phóng phụ nữ là chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa". Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh
rằng: "Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội nhất định phải sản xuất cho thật nhiều.
Muốn sản xuất nhiều thì phải có nhiều sức lao động. Muốn nhiều sức lao động
thì giải phóng lao động của phụ nữ" (Hồ Chí Minh: đd, t.9,tr523; t.10, tr.225;
t11, tr194).
Chúng ta đều thừa nhận rằng quyền lao động là một trong những quyền
kinh tế - xã hội cơ bản của con người. Phụ nữ chiếm hơn 50% lực lượng lao
động. Do đó, nếu bảo đảm quyền của phụ nữ trong lĩnh vực lao động, đem lại cho
phụ nữ vị thế bình đẳng như nam giới trong lĩnh vực này cũng có nghĩa là đem lại
cuộc sống với chất lượng tốt hơn cho tất cả mọi người. Hầu hết các nước trên thế
6
giới đều đang ngày càng có sự đồng thuận cao ở mức độ quốc tế rằng nếu phân
biệt về giới được xoá bỏ thì điều này có lợi không chỉ đối với mỗi cá nhân mà còn
đem lại lợi ích cho toàn xã hội, giúp tăng trưởng kinh tế, bảo đảm ổn định chính
trị và công bằng xã hội. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn có hàng triệu người trên thế
giới đang không có việc làm hoặc không được tham gia vào môi trường lao động
chỉ vì lý do giới tính hay nói rõ hơn chỉ vì họ là phụ nữ. Sự phân biệt đối xử này
đã hạn chế người phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ nghèo và phụ nữ ở vùng dân tộc
thiểu số không có cơ hội thể hiện quan điểm của mình trong công việc, không
được tham gia một cách dân chủ, bình đẳng tại nơi làm việc và chịu thiệt thòi
trong việc hưởng thụ tiền lương và phúc lợi xã hội. Vì vậy, thực hiện xoá bỏ sự
phân biệt đối xử trên cơ sở giới tính và bảo đảm quyền của phụ nữ tại nơi làm
việc là thực sự cần thiết. Thực hiện tốt nội dung này sẽ giúp cho mọi cá nhân, đặc
biệt là phụ nữ có thể tự do lựa chọn nghề nghiệp cho riêng mình, từ đó giúp họ
Tuyên ngôn thế giới về quyền con người 1948 được coi là những văn kiện đánh
dấu bước ngoặt của vấn đề quyền con người trong lịch sử nhân loại, biến một vấn
đề của quốc gia trở thành một vấn đề cơ bản liên quan đến mỗi con người và các
quốc gia được điều chỉnh bởi pháp luật quốc tế. Một trong những nguyên tắc của
quyền con người là quyền bình đẳng giữa các thành viên, trong đó, phụ nữ cũng
như nam giới đều được đảm bảo các quyền con người như nhau trong pháp luật
quốc tế và quốc gia.
Cuộc đấu tranh cho quyền bình đẳng của phụ nữ đã diễn ra trong nhiều thời
kỳ lịch sử. Thông qua các cuộc đấu tranh lâu dài và bền bỉ của phụ nữ trên khắp
thế giới, quyền của phụ nữ dần được phát triển. Các cuộc đấu tranh này xuất hiện
trong những hoàn cảnh khác nhau và gắn với hiện thực kinh tế, chính trị, xã hội
đa dạng ở các thời kỳ khác nhau. Ở chế độ thực dân, để xác định vai trò của mình
trong xã hội, phụ nữ đấu tranh để đòi bảo đảm quyền lao động, quyền được trả
lương bình đẳng, quyền dân sự và tự do. Đến khi chiến tranh thế giới thứ hai kết
thúc, quyền của phụ nữ đã được ghi nhận, điều này đã được thể hiện rõ trong
Hiến chương Liên hợp quốc, đặc biệt là bản Tuyên ngôn thế giới về quyền con
người, năm 1948.
Vậy khái niệm quyền con người là gì? Quyền con người là quyền của tất cả
mọi người. Đó là nhân phẩm nhu cầu, lợi ích và năng lực vốn có của con người
được luật quốc tế và luật quốc gia ghi nhận. Quyền con người là một phạm trù
8
lịch sử, là kết quả của cuộc đấu tranh không ngừng của nhân loại vươn tới những
lý tưởng giải phóng hoàn toàn cho con người và xây dựng một xã hội công bằng,
dân chủ, nhân đạo. Quyền con người là những quyền không thể chuyển nhượng
hay nói cách khác là quyền gắn liền với mỗi con người. Quyền con người là sở
hữu vốn có của mỗi con người bất kể địa vị của họ trong nền văn hoá, hệ thống
luật pháp hoặc chính trị cụ thể nào và không bị hạn chế bởi bất cứ yếu tố nào về
thành khái niệm “chuẩn mực quốc tế về quyền con người của phụ nữ”. Khái niệm
này cụ thể hoá các điều khoản quy định về quyền tự do và bình đẳng của phụ nữ
với tư cách là tập hợp các quyền con người. Theo đó, các khía cạnh bình đẳng về
địa vị, cơ hội và mức độ thụ hưởng phúc lợi của phụ nữ được đề cập đầy đủ, các
hành vi phân biệt đối xử - trực tiếp và gián tiếp - được chỉ rõ cùng với các
phương thức bảo đảm cho phụ nữ được hưởng các quyền theo luật định. Cùng với
sự phát triển của nhận thức loài người, dưới ánh sáng của khoa học-công nghệ
mới, chuẩn mực quốc tế về quyền con người của phụ nữ ngày càng được bổ sung
đầy đủ hơn.
Kế thừa và tôn trọng những luận điểm trên, Việt Nam cũng đã, đang và sẽ
tiếp tục áp dụng các chuẩn mực quốc tế về quyền con người nói chung và quyền
con người của phụ nữ nói riêng ở Việt Nam. Các văn kiện của Đại hội Đảng toàn
quốc những năm gần đây luôn đề cập tới nội dung về bảo đảm quyền con người
của phụ nữ, tạo điều kiện cho phụ nữ thực hiện các quyền của mình. Các khái
niệm giới, bình đẳng giới mà quốc tế đưa ra nhằm thiết lập lại quyền con người
của phụ nữ cũng đã dần dần trở nên phổ cập ở nước ta. Việt Nam cũng đã tích
cực tham gia các công ước quốc tế liên quan đến quyền con người của phụ nữ và
của lao động nữ.
1.1.2. Vai trò của phụ nữ trong lĩnh vực lao động:
Quyền lao động là một trong các quyền kinh tế - xã hội cơ bản của con
người. Theo báo cáo của Liên hợp quốc, phụ nữ hiện đang ghánh vác gần 75%
thời gian lao động, bao gồm cả lao động xã hội lẫn lao động trong gia đình.
Nói về vai trò của người phụ nữ trong xã hội, S. Furier - người theo chủ
nghĩa xã hội học không tưởng của Pháp đã từng nhận định: "Mức độ giải phóng
phụ nữ là thước đo trình độ phát triển của xã hội". Danh ngôn cổ Trung quốc
cũng có câu: "Phụ nữ đỡ nửa bầu trời". Sự đúc kết đó đã nói lên vị trí, vai trò của
người phụ nữ trong xã hội. Cuộc đấu tranh nhằm phục hồi lại các quyền của phụ
11
Để rút ngắn khoảng cách giới và bảo đảm được quyền lợi của phụ nữ nói
chung và lao động nữ nói riêng, Liên hợp quốc và các nước đã áp dụng nhiều
biện pháp tích cực, tuy nhiên, trên thực tế cho đến nay vẫn chưa có nước nào
được công nhận là đã đạt được bình đẳng giới thực chất. Bên cạnh phương pháp
tiếp cận phát triển và tiếp cận giới, nhiều nước hiện nay đang quan tâm sử dụng
phương pháp tiếp cận quyền để bảo đảm cho phụ nữ được tôn trọng nhân phẩm
và phát triển bền vững. Phương pháp tiếp cận quyền cho phép chúng ta xem xét
vấn đề vai trò và sự tham gia của phụ nữ một cách tổng thể, không thiên kiến và
chủ yếu dựa trên các quy định mang tính pháp lý về quyền tự do, bình đẳng của
con người. Do vậy, nó hoàn toàn khác với quan điểm "ưu tiên" cho phụ nữ. Ngày
nay, phụ nữ đã ý thức cao hơn về quyền lợi của mình. Họ chủ động tham gia và
hoạt động tốt trên nhiều lĩnh vực.
1.2. Tổng quan các điều ƣớc quốc tế về quyền con ngƣời của phụ nữ trong
lĩnh vực lao động và Công ƣớc CEDAW:
1.2.1 Tổng quan các điều ước quốc tế về quyền con người của phụ nữ trong
lĩnh vực lao động:
Cùng với sự ra đời của Liên hợp quốc, Hiến chương Liên hợp quốc xác
định mục tiêu của Liên hợp quốc và các quốc gia thành viên là tôn trọng, khuyến
khích và thúc đẩy các quyền và tự do cơ bản cho con người, không phân biệt
chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ hoặc tôn giáo và coi đó là một trong những điều
kiện quan trọng của công cuộc gìn giữ hoà bình và tiến bộ trên toàn thế giới. Với
tư cách một tổ chức pháp lý lớn nhất trên thế giới có trên 190 quốc gia thành
viên, Liên hợp quốc thừa nhận và khuyến khích sự tham gia của phụ nữ trong hệ
thống của mình. Điều 8 của Hiến chương Liên hợp quốc nêu rõ: “Liên hợp quốc
không đưa ra bất kỳ mặt hạn chế nào về việc phụ nữ và nam giới được quyền
tham gia vào bất cứ công việc gì trên cương vị bình đẳng vào các cơ quan chính
và trực thuộc của Liên hợp quốc”. Trong thực tiễn hơn 50 năm hoạt động của
người. Điều 24 quy định quyền nghỉ ngơi và giải trí bao gồm được giới hạn
hợp lý số giờ làm việc và nghỉ phép định kỳ hưởng lương. Tuyên ngôn quy
định rõ quyền của tất cả mọi người - phụ nữ và nam giới được đối xử như mọi
thành viên trong xã hội, quyền được bảo trợ xã hội, được làm việc, được tham
gia vào đời sống văn hoá của cộng đồng, được tiếp cận các dịch vụ công
cộng… Như vậy, bên cạnh các quyền về dân sự - chính trị, Tuyên ngôn đề cập
13
đến các quyền tham gia vào các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hoá, trong đó có
quyền làm việc của con người. Tất cả những quyền này được đảm bảo cho cả
nam và nữ trên cơ sở sự thừa nhận chung là con người sinh ra tự do và bình
đẳng về phẩm giá và các quyền và rằng họ được phú cho lý trí, lương tri và
đạo đức, cho nên họ phải được thụ hưởng các quyền và tự do tất yếu, một cách
bình đẳng, không phân biệt giới tính.
Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR) được Đại hội
đồng Liên Hợp quốc thông qua năm 1966, có hiệu lực năm 1976 sau khi có 35
quốc gia cùng phê chuẩn. Việt Nam gia nhập ngày 24/9/1982. Đây là văn kiện
pháp lý quốc tế cơ bản quan trọng nhất về các quyền dân sự, chính trị của con
người. Công ước ghi nhận quyền của tất cả mọi người về dân sự, chính trị
(Điều 25) và quy định tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và
được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng (Điều 26).
Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hoá được Đại hội đồng
Liên hợp quốc thông qua năm 1966, có hiệu lực năm 1976 sau khi có 35 quốc
gia ký và phê chuẩn. Việt Nam gia nhập ngày 24/9/1982. Liên quan tới lĩnh
vực lao động-việc làm của phụ nữ, Công ước thừa nhận quyền làm việc,
quyền của mọi người có cơ hội kiếm sống bằng công việc do họ tự lựa chọn
hoặc chấp thuận và trách nhiệm của các quốc gia thành viên tạo công ăn việc
làm đầy đủ và hữu ích với điều kiện đảm bảo quyền tự do cơ bản về chính trị,
cầu thực tiễn này được đảm bảo, chúng sẽ tạo ra nền tảng vững chắc cho việc đáp
ứng các lợi ích chiến lược của phụ nữ, đó là việc nâng cao vị thế của họ trong gia
đình và ngoài xã hội. Năng lực làm việc của phụ nữ do đó ngày càng được nâng
cao hơn. Quy định không phân biệt đối xử nêu trong Điều 2 của Công ước này
yêu cầu các quốc gia tham gia Công ước phải rà soát luật pháp, chính sách và đề
ra các giải pháp để loại trừ mọi hình thức, biểu hiện phân biệt đối xử trên cơ sở
giới.
Nghiên cứu và phân tích các quy định liên quan đến phụ nữ trong văn kiện
của "Bộ luật quốc tế về quyền con người" cho thấy về mặt pháp lý phụ nữ có
quyền được hưởng đầy đủ các quyền tự do và bình đẳng trong mọi lĩnh vực của
đời sống xã hội ngang bằng với nam giới. Trong lĩnh vực lao động - việc làm, nhà
nước không chỉ có trách nhiệm bảo hộ các quyền của phụ nữ mà còn phải tạo ra
các điều kiện và cơ hội thuận lợi cho phụ nữ được phát triển bình đẳng như nam
15
giới, nhằm bù đắp một phần sức lực phụ nữ đã bỏ ra để tái sản xuất sức lao động
cho xã hội thông qua việc sinh đẻ.
Có thể nói, mặc dù trong điều kiện cộng đồng quốc tế hiện nay vẫn đang
tồn tại sự khác biệt về hệ tư tưởng, chế độ xã hội, truyền thống và bản sắc văn
hoá, Bộ luật quốc tế về quyền con người vẫn được xem như nền tảng tinh thần, cơ
sở đạo lý và pháp lý chung của cộng đồng quốc tế. Và kể từ khi ra đời đến nay,
các văn kiện trong "Bộ luật quốc tế về quyền con người" luôn được thừa nhận
như Hiến pháp của cộng đồng quốc tế trong lĩnh vực nhân quyền (Viện nghiên
cứu quyền con người, Luật quốc tế về quyền con người, tr73) và có ảnh hưởng
sâu sắc tới tất cả các văn kiện của Liên hợp quốc, trong đó có các văn kiện về
bình đẳng giới và tiến bộ của phụ nữ.
Tổ chức Lao động thế giới (ILO) và các điều ước liên quan đến lao động
nữ:
lý do không liên quan tới năng lực của người lao động (ví dụ như giới tính, tuổi
tác…). Công ước cũng chỉ ra những trường hợp không bị coi là phân biệt đối xử
bao gồm: sự phân biệt đối xử dựa trên các yêu cầu hợp lý của công việc (ví dụ:
giới tính- người phục vụ hay dọn nhà vệ sinh là nam hay nữ); các biện pháp bảo
vệ đặc biệt hoặc trợ giúp đặc biệt được quy định trong các công ước và khuyến
nghị của ILO (VD: bảo vệ lao động nữ đang mang thai không phải làm đêm –
C.Ư 171); những biện pháp đặc biệt – sau khi có ý kiến của các tổ chức đại diện
của người sử dụng lao động, người lao động- nhằm đáp ứng nhu cầu riêng của
những người mà việc bảo vệ họ hoặc sự trợ giúp đối với họ được thừa nhận là cần
thiết vì những lý do như giới tính, độ tuổi, gánh nặng gia đình
1.2.2. Sơ lƣợc lịch sử hình thành và vai trò của CEDAW:
Xuất phát từ những khó khăn trong việc đấu tranh đòi quyền con người cho
phụ nữ, Liên hợp quốc đã có nhiều nỗ lực để cải thiện tình hình. Trước hết phải
kể tới sự ra đời của bản Tuyên bố về xoá bỏ tất cả mọi hình thức phân biệt đối xử
với phụ nữ năm 1967. Có thể nói bản Tuyên bố là Dự thảo quan trọng của
CEDAW khi đưa ra một cách tiếp cận mới trong việc bảo đảm các quyền con
người của phụ nữ. Tuyên bố yêu cầu các quốc gia bảo đảm quyền bình đẳng của
phụ nữ với nam giới trước pháp luật. Tuy nhiên, Tuyên bố không phải là một văn
kiện pháp lý nên chưa đủ hiệu lực để ngăn ngừa tình trạng phân biệt đối xử với
17
phụ nữ đang diễn ra khá phổ biến và ngày càng có tính chất nghiêm trọng trên
toàn cầu. Nhận thấy cần phải xây dựng một luật đặc biệt nhằm thúc đẩy và bảo vệ
quyền của phụ nữ, ngày 18/12/1979, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã phê chuẩn
Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (Convention on
the Elimination of all Forms of Discrimination Against Women – CEDAW).
Công ước này đã cụ thể hoá các tiêu chuẩn nhân quyền thiếu nhạy cảm đối với
phụ nữ. Điểm khác biệt so với các công ước về quyền con người của phụ nữ
chiếm đa số trong diện những người nghèo khổ, mù chữ, thất học và có thu nhâp
thấp. Phụ nữ luôn bị hạnc hế trong việc tham gia các hoạt động xã hội và không
được đánh giá đúng công sức đóng góp của họ trong lao động gia đình. Tất cả
nhưng điều này đã phủ nhận một thực tế đã được khẳng định là sự phát triển bền
vững của một đất nước không thể thiếu vai trò dóng góp của phụ nữ. Cựu Tổng
thư ký Liên hợp quốc B.Gali đã từng nhận định: Phụ nữ chiếm hơn một nửa nhân
loại nhưng chưa có quốc gia nào trên thế giới đối xử với phụ nữ một cách xứng
đáng với địa vị của họ. Để khắc phục thực trạng trên, CEDAW đã ra đời với mục
đích cao cả là nhằm trả lại những giá trị đích thực cho những cống hiến của phụ
nữ vào sự phát triển của xã hội và cộng đồng quốc tế cũng như những đóng góp
của họ đối với gia đình và xã hội.
Kết cấu của CEDAW gồm lời nói đầu, 6 phần và 30 điều khoản. Ngay
trong phần mở đầu, Công ước đã xác nhận rằng: Sự phân biệt đối xử với phụ nữ
vẫn đang là một vấn đề nghiêm trọng trên thế giới và chính nó đã vi phạm các
nguyên tắc về quyền bình đẳng và tôn trọng phẩm giá con người, là một trở ngại
đối với việc phụ nữ tham gia vào đời sống chính trị, xã hội, kinh tế và văn hoá,
cản trở sự tăng trưởng của xã hội và gia đình, gây khó khăn cho sự phát triển đầy
đủ các khả năng tiềm tàng của phụ nữ trong việc phục vụ đất nước và loài người.
Xuất phát từ quan điểm này, các nhà soạn thảo Công ước đã xây dựng các
điều khoản pháp lý cụ thể, theo đó, quy định các nước thành viên tham gia công
ước có trách nhiệm áp dụng mọi biện pháp nhằm xoá bỏ các hình thức phân biệt
đối xử với phụ nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội như: dân sự, chính trị,
kinh tế, xã hội và văn hoá. Công ước đã đề cập tới nhiều lĩnh vực cụ thể như: giáo
dục, gia đình, phân công lao động, cơ hội, nghề nghiệp, lương bổng…Công ước
cũng đề cập đến một số quy chế và cơ chế để thực hiện Công ước này.
Nội dung cơ bản của CEDAW là hướng vào các cách thức, biện pháp nhằm
loại trừ mọi sự phân biệt đối xử với phụ nữ trong thụ hưởng các quyền con người
20
có hiệu lực từ ngày 22/12/2000. Đến tháng 9/2005, Nghị định thư này đã có 72
quốc gia tham gia (hiện Việt Nam chưa tham gia).
1.2.3. Nội dung các vấn đề pháp lý cơ bản của CEDAW trong lĩnh vực lao
động:
Đối với phụ nữ, quyền được tham gia bình đẳng như nam giới trong lĩnh
vực lao động là một quyền thiết yếu và quan trọng. Với mục tiêu loại trừ sự phân
biệt đối xử với phụ nữ trong lĩnh vực lao động, CEDAW dành riêng điều 11 để
quy định các nội dung này.
"1. Các nước tham gia Công ước phải áp dụng mọi biện pháp thích hợp để xóa
bỏ sự phân biệt đối xử với phụ nữ trong lĩnh vực việc làm nhằm đảm bảo
những quyền như nhau trên cơ sở bình đẳng nam nữ, đặc biệt là:
a. Quyền được làm việc, một quyền không thể chối bỏ của mọi con người;
b. Quyền hưởng các cơ hội có việc làm như nhau, kể cả việc áp dụng những tiêu
chuẩn như nhau khi tuyển dụng lao động;
c. Quyền tự do lựa chọn ngành nghề và việc làm, quyền được thăng chức, bảo
đảm việc làm, mọi phúc lợi và điều kiện làm việc và quyền được theo học những
chương trình đào tạo và bổ túc nghiệp vụ, kể cả các lớp dạy nghề, các lớp nghiệp
vụ cao cấp và lớp đào tạo định kỳ;
d. Quyền được hưởng thù lao như nhau, kể cả các phúc lợi, và được đối xử như
nhau khi làm những việc có giá trị ngang nhau, cũng như được đối xử như nhau
trong việc đánh giá chất lượng công việc;
e. Quyền được hưởng bảo hiểm xã hội, đặc biệt trong các trường hợp về hưu, thất
nghiệp, đau ốm, tàn tật, tuổi già và các tình trạng mất khả năng lao động khác,
cũng như quyền được nghỉ phép có hưởng lương;
f. Quyền được bảo vệ sức khoẻ và bảo đảm an toàn lao động, kể cả bảo vệ chức
năng sinh đẻ.
các cơ hội đào tạo và việc làm, giám sát các điều kiện của công nhân nội địa để
bảo vệ phụ nữ khỏi hình thức bạo lực này (Điều khoản 17, 18, 24 mục p- Khuyến
nghị chung số 19).
Để đảm bảo cho phụ nữ được hưởng đầy đủ các quyền con người, trong đó
có các quyền nêu trên, Công ước CEDAW đã quy định ba nguyên tắc cơ bản, đó
là: bình đẳng, không phân biệt đối xử và nghĩa vụ quốc gia. Ba nguyên tắc tạo