Thẩm quyền của tổ chức Công đoàn trong lĩnh vực lao động Nguyễn Kim Thoa – KT32E
Công đoàn là tổ chức chính trị – xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và
người lao động. Công đoàn có vị trí rất quan trọng, cùng với cơ quan nhà nước, tổ
chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo bảo vệ quyền lợi của cán bộ công nhân viên
chức và những NLĐ khác xây dựng và bảo vệ tổ quốc, tham gia quản lý nhà nước
và xã hội, tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức
kinh tế, giáo dục cán bộ, công nhân viên và những NLĐ khác xây dựng và bảo vệ tổ
quốc. Theo pháp luật hiện hành công đoàn có thẩm quyền như sau:
1. Quyền tham gia với cơ quan nhà nước và đại diện của người sử dụng lao động
thảo luận các vấn đề về quan hệ lao động:
Đây là thẩm quyền của hệ thống công đoàn các cấp, biểu hiện rõ nét của mối
quan hệ trong cơ chế ba bên. Sự tham gia này của tổ chức công đoàn đảm bảo ngay
từ chính sách, pháp luật, quy định của Nhà nước nói chung (được quy định tại Điều
4 Luật công đoàn năm 1990, Điều 156 BLLĐ sửa đổi, bổ sung), doanh nghiệp nói
riêng được xây dựng, ban hành đã thể hiện mối quan hệ hợp tác, sự tôn trọng của
các đối tác với tổ chức công đoàn, qua đó quyền và lợi ích của NLĐ được thừa
nhận và bảo đảm thực hiện.
2. Quyền tham gia kiểm tra, giám sát việc thi hành các quy định của pháp luật lao
động:
Đây là một trong những nhóm quyền thể hiện chức năng tham gia vào hoạt
động quản lí của tổ chức công đoàn. Vấn đề này đã được quy định tại Điều 12,
khoản 3 Điều 181 BLLĐ sửa đổi, bổ sung; và khoản 3 Điều 6, Điều 9 Luật công
đoàn năm 1990. Nó bao gồm tất cả các lĩnh vực trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan
tới quan hệ lao động (hợp đồng lao động, kỷ luật lao động, thời giờ làm việc và
nghĩ ngơi, tiền lương, an toàn lao động, về sinh hoạt lao động, bảo hiểm xã hội…).
Đối tượng tham gia rộng rãi bao gồm tất cả các đơn vị tổ chức, doanh nghiệp… có
thuê mướn, sử dụng lao động. Hình thức thực hiện cũng đa dạng, công đoàn có thể
tự mình tổ chức việc kiểm tra, giám sát (Khoản 3 Điều 6 Luật công đoàn) hoặc phối
hợp với các cơ quan hữu quan (Khoản 4 Điều 6 Luật công đoàn; Điều 189 Bộ luật
lao động sửa đổi bổ sung). Pháp luật cũng tạo điều kiện thuận lợi cho quyền kiểm
tra, giám sát của công đoàn được thực hiện (quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 9
điều của BLLĐ về HĐLĐ).
5. Quyền tổ chức và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người lao động:
Đây được coi vừa là quyền vừa là trách nhiệm của Công đoàn phù hợp với
các quy định tại Điều 8 Luật Công đoàn cũng như nhiều văn bản pháp luật khác.
Việc chăm lo đời sống NLĐ bao gồm từ khi tham gia hoạch định các chính sách,
chế độ liên quan đến cải thiện các điều kiện lao động sinh hoạt cho NLĐ, từ việc
đảm bảo các lợi ích vật chất cho NLĐ trong quan hệ lao động (tiền lương, tiền
thưởng…) đến việc phối hợp với NSDLĐ nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh
thần cho NLĐ.
6. Quyền đại diện và tham gia trong việc giải quyết xung đột, tranh chấp lao động
và các cuộc đình công:
2
Thẩm quyền của tổ chức Công đoàn trong lĩnh vực lao động Nguyễn Kim Thoa – KT32E
Tư cách này được thể hiện trong những khía cạnh sau đây:
Thứ nhất: Quyền tổ chức đối thoại giữa lao động tập thể với người sử dụng
lao động. Xuất phát từ các quan hệ lao động, giữa lao động tập thể và người sử
dụng lao động có thể xuất hiện các mâu thuẫn do nhiều nguyên nhân khác nhau,
nếu không giải quyết kịp thời sẽ dẫn tới những xung đột do vậy Công đoàn “….Khi
cần thiết Công đoàn tổ chức đối thoại giữa tập thể lao động với thủ trưởng các cơ
quan đơn vị, tổ chức hữu quan để giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa
vụ, lợi ích của người lao động.” (Điều 10 Luật công đoàn 1990)
Thứ hai: Quyền tham gia giải quyết tranh chấp lao động. Trong trường hợp
không thương lượng được, Công đoàn tham gia giải quyết tranh chấp ở Hội đồng
hòa giải lao động cơ sở. Sự tham gia của Công đoàn ở đây được hiểu là sự tham gia
với tư cách là một chủ thể, một thành viên độc lập trực tiếp giải quyết tranh chấp
lao động. Về nguyên tắc, tất cả các cơ quan, tổ chức này khi giải quyết tranh chấp
lao động phải có sự tham gia của Công đoàn với tư cách là một thành viên có địa vị
pháp lý như các thành viên khác trong hội đồng giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên ở
Việt Nam thì điều này mới được quy định với hội đồng hòa giải lao động cơ sở và
hội đồng trọng tài lao động (Điều 162, 164 BLLĐ sửa đổi, bổ sung). Riêng với tòa
g
3, Vai trò của công đoàn trong cơ chế ba bên và trong việc giải quyết tranh chấp lao động,
Nguyễn Hữu Chí, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 10/2001
4