Phân tích vai trò của công nghệ in 3d trong lĩnh vực y học đối với sự phát triển kinh tế xã hội và tổ chức lấy ví dụ minh họa về sự đóng góp của công nghệ in 3d trong lĩnh vực y học đối với sự phát triển kinh tế xã hội của - Pdf 52

MỤC LỤC

1


ĐỀ CƯƠNG ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Nhóm: 03
Mã lớp học phần: 1861QMGM0721
Bộ môn: Quản trị công nghệ

Đề tài nghiên cứu: Phân tích vai trò của công nghệ in 3D trong lĩnh vực y học đối
với sự phát triển kinh tế - xã hội và tổ chức? Lấy ví dụ minh họa về sự đóng góp
của công nghệ in 3D trong lĩnh vực y học đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của
một quốc gia/địa phương hoặc với một tổ chức cụ thể.

2


A. Lời mở đầu
1.

Tính cấp thiết nghiên cứu

- Các vấn đề về y tế luôn là một trong những trọng điểm mà con người quan tâm,
khi nhu cầu sống được cải thiện thì sức khỏe luôn được ưu tiên lên hàng đầu, và
đặc biệt hơn trong lĩnh vực y học, phương pháp điều trị, các cơ quan, nội tạng và
các thiết bị phục vụ chữa trị là những phần không thể tách rời. Khi mà những công
nghệ lạc hậu không thể kiểm tra và chẩn đoán chính xác sức khỏe của mỗi con
người, việc trải qua nhiều đợt chữa trị tốn rất nhiều tiền bạc và thời gian. Tất cả
chúng đều sẽ được cách mạng hóa bởi công nghệ in 3D. Với độ chính xác, tốc độ
và khả năng tiết kiệm chi phí, cách chúng ta chữa bệnh và quản lý sức khoẻ sẽ thay


B. Phần nghiên cứu
Chương 1: Hệ thống lý luận về vai trò của công nghệ đối với sự phát triển
kinh tế - xã hội và tổ chức
1.1.

Khái niệm về công nghệ

- Do số lượng công nghệ nhiều đến mức không thể thống kê được nên cho đến
nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về công nghệ. Một số tổ chức
chuyên nghiên cứu về công nghệ đã đưa ra một số quan niệm của mình về công
nghệ như sau:
+) Theo quan điểm của UNIDO: Công nghệ là việc áp dụng khoa học vào công
nghiệp bằng cách sử dụng các kết quả nghiên cứu và xử lý nó một cách có hệ
thống và có phương pháp.
+) Theo quan điểm ESCAP: Công nghệ là hệ thống kiến trúc, quy trình và kỹ
thuật dùng để chế biến vật liệu và xử lý thông tin. Nó bao gồm kiến thức, kỹ
năng, thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hóa và
cung cấp dịch vụ.

4


+) Theo luật khoa học và công nghệ: Công nghệ là tập hợp các phương pháp,
quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn
lực thành sản phẩm.
1.1.1.Các

thành phần cơ bản của công nghệ


không thể thiếu bất cứ thành phần nào. Tuy nhiên, có một giới hạn tối thiểu
cho mỗi thành phần để có thể thực hiện quá trình biến đổi, đồng thời có một
giới hạn tối đa cho mỗi thành phần để hoạt động biến đổi không mất đi tính
tối ưu hoặc tính hiệu quả. Nếu không hiểu chức năng và mối quan hệ tương
hỗ giữa các thành phần công nghệ có thể dẫn đến lãng phí trong đầu tư trang
thiết bị do các thành phần khác không tương xứng (hay không đồng bộ)
khiến trang thiết bị, máy móc không phát huy hết tính năng của chúng.
+) Phần kỹ thuật: Phần kỹ thuật là cốt lõi của bất kỳ công nghệ nào. Nhưng
nó được lắp đặt, vận hành, cải tiến và mở rộng tính năng nhờ vào con người.
Mặt khác phần kỹ thuật lại làm tăng sức mạnh cơ bắp, trí tuệ cho con người.
+) Phần con người: Con người đóng vai trò chủ động trong bất kỳ công
nghệ nào. Trong công nghệ sản xuất, con người thực hiện hai chức năng
chính (điều hành và hỗ trợ). Do đó con người quyết định mức độ hiệu quả
của phần kỹ thuật. Sự phức tạp của con người không chỉ phụ thuộc vào kỹ
năng làm việc mà còn ở thái độ của từng cá nhân đối với công việc. Điều
này liên quan đến thông tin mà con người được trang bị và hành vi (thái độ)
của họ dưới sự điều hành của tổ chức.
+) Phần thông tin: Phần thông tin thường được coi là “sức mạnh” của một
công nghệ. Phần thông tin thể hiện các tri thức tích lũy trong công nghệ.
Nhờ các tri thức áp dụng trong công nghệ mà các sản phẩm của nó có đặc
6


trưng mà các sản phẩm cùng loại của các công nghệ khác làm ra không thể
có được. Nhưng một mặt thông tin lại phụ thuộc vào con người, bởi vì con
người trong quá trình sử dụng sẽ bổ xung, cập nhật các thông tin của công
nghệ. Việc cập nhật thông tin của công nghệ để đáp ứng sự tiến bộ không
ngừng của khoa học.
+) Phần tổ chức: Phần tổ chức đóng vai trò điều hòa, phối hợp ba thành
phần trên của công nghệ để thực hiện hoạt động biến đổi một cách có hiệu


Mặt tích cực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và tổ chức

- Công nghệ giúp con người phát triển từ giai đoạn tiến hóa thuần túy
về sinh học tới giai đoạn trí tuệ của phát triển. Công nghệ làm cho môi
trường sống của con người trở nên tiện nghi hơn.
- Tiến bộ công nghệ là động lực mạnh mẽ nhất thúc đẩy sự phát triển
xã hội loài người.
- Công nghệ là vũ khí cạnh tranh manh mẽ nhất trong kinh tế thị
trường. Công nghệ tiên tiến hơn, chất lượng sản phẩm sẽ tốt hơn, năng
suất cao hơn, tiết kiệm được chi phí sản xuất dẫn tới hạ giá thành sẽ tạo
lợi thế cạnh tranh trên thị trường.

8


- Là một trong ba yếu tố tạo ra sự tăng trưởng kinh tế: tích lũy tư bản,
dân số, lực lượng lao động và tiến bộ công nghệ. Tiến bộ công nghệ
thông qua đổi mới công nghệ tạo ra năng suất cao.
- Công nghệ là phương tiện hiệu quả nhât để nâng cao các chỉ tiêu phản
ánh sự phát triển của một quốc gia.
- Các sáng chế công nghệ tạo ra các ngành nghề mới, làm biến đổi cơ
cấu lao động trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa.
- Tiến bộ khoa học công nghệ, đổi mới công nghệ cho phép doanh
nghiệp tăng sản lượng, năng suất, chất lượng sản phẩm, sử dụng hợp lý
các nguồn tư liệu sản xuất. Từ đó tăng khả năng cạnh tranh, mở rộng thị
trường, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tăng trưởng nhanh
chóng.
- Công nghệ giúp doanh nghiệp giao tiếp với khách hàng, tạo lập các
mối quan hệ, tăng khả năng nghiên cứu, kiểm soát tốt các hoạt động kinh

- In 3D là một quy trình tạo nên các vật thể rắn 3 chiều từ một tập tin kỹ
thuật số. Bí mật của công nghệ in này là mực in – một loại bột đặc biệt
làm từ titan, nhựa, silicon… khi “in” sẽ được kết dính với nhau bằng
10


loại keo đặc biệt và tạo nên hình 3D theo mô phỏng. Trên khắp thế giới,
người ta đã bắt đầu mày mò để ứng dụng công nghệ in 3D vào hàng loạt
lĩnh vực, trong đó có y tế, với khả năng tạo ra các bộ phận giả cho con
người. In 3D có thể giúp các bác sĩ nhanh chóng tạo ra giải pháp chữa
bệnh mà không quá tốn kém hay mất thời gian. Gần hai thập niên qua,
công nghệ in 3D đã có những bước phát triển vượt bậc, trở thành ngành
công nghiệp có trị giá đến 5,1 tỉ USD năm 2016, và dự kiến sẽ tăng đến
32 tỉ USD vào 2023. Trong lĩnh vực y khoa và chăm sóc sức khỏe, công
nghệ in 3D mang đến một cuộc cách mạng trong việc sản xuất các cơ
quan của cơ thể, bào chế thuốc và sản xuất thiết bị y khoa, tối ưu hóa
chuỗi cung ứng và hứa hẹn sẽ mang đến dịch vụ y tế được điều chỉnh
theo yêu cầu của mỗi cá nhân với giá cả thật rẻ.
- Công nghệ in 3D là gì?
+) In ấn 3D (còn gọi là công nghệ chế tạo đắp lớp) ra đời năm 1984, nó
là một chuỗi các công đoạn khác nhau được kết hợp để tạo ra một vật
thể ba chiều.
+) Trong in ấn 3D, các lớp vật liệu (nhựa, kim loại, ...) được đắp chồng
lên nhau và được định dạng dưới sự kiểm soát của máy tính để tạo ra
vật thể. Các đối tượng này có thể có hình dạng bất kỳ và được sản xuất
từ một mô hình 3D hoặc nguồn dữ liệu điện tử khác. Máy in 3D thực
chất là một máy chế tạo công cụ điều khiển bằng vi tính (CNC computer-controlled machining tool), một dạng robot công nghiệp.
Người ta sẽ dùng máy quét 3 chiều để quét bộ phận muốn in, rồi dùng
một phần mềm chuyên dụng xuất thành một bản thiết kế CAD
(computer-aided-design), tập tin này sẽ chuyển đến máy in 3D để nó in

Với quy trình chế tạo răng, răng của bệnh nhân sẽ được quét ngay trong
vòm miệng và số hóa. Sau đó dữ liệu được đưa lên máy tính và được gửi
đến một phòng thí nghiệm nha khoa để tiến hành tạo hình một cầu răng
bằng sứ mới. Qua phương thức này, răng giả sẽ được tạo ra với độ chính
xác cao hơn và nhanh hơn. Hay như in 3D da người, công nghệ này nằm
ở “mực in”, một loại huyết tương chứa tế bào da người. Dùng máy tính,
các nhà khoa học cho máy in phun loại mực sinh học này từng lớp lên
khuôn để tạo thành mẩu da người. Chiếc máy in hiện giờ có thể làm ra
miếng da 100cm2 trong khoảng hơn nửa giờ đồng hồ.
2.1.2.2.

Về mặt con người (Humanware)

- Con người làm cho công nghệ hoạt động, làm cho máy móc, thiết bị,
phương tiện phát huy hết khả năng của chúng. Nhờ tính năng động sáng
tạo, con người đã cải tiến, mở rộng, đổi mới các thiết bị máy móc. Con
người đóng vai trò chủ động trong công nghệ, song lại chịu sự chi phối
của thông tin và tổ chức. Nhờ con người nên công nghệ in 3D ngày càng
phát triển, công nghệ in 3D giờ đây đã có thể thiết kế và sản xuất các bộ
phận cơ thể giúp cho phẫu thuật tái tạo và cấy ghép. Đã có nhiều trường
hợp các em bé bị bệnh tim hay mất cánh tay được cấy ghép các bộ phận
được in ra nhờ công nghệ 3D, giúp cho cuộc sống của các em được dễ
dàng và thuận lợi hơn.

13


- Trong lĩnh vực công nghệ in 3D trong y học này, những người nghiên
cứu vận hành công nghệ này thường là những nhà khoa học, thạc sĩ, tiến
sĩ hay bác sĩ có trình độ học vấn cao. Họ là những người phải được đào

vận dụng và phát triển công nghệ trong y học. Tri thức về y học giúp con
người có thể từ mô hình 3D tìm hiểu được cách chữa trị tốt hơn. Ví dụ
như sử dụng mô hình 3D từ công nghệ in 3D có thể giúp bác sĩ chuẩn bị
tốt hơn cho những ca phẫu thuật khó như phẫu thuật van tim.
2.1.2.4.

Về mặt tổ chức (Orgaware)

- Tổ chức đóng vai trò điều hòa phối hợp 3 phần trên (T, H, I) để thực
hiện một cách hiệu quả mọi hoạt động biến đổi. Nó giúp cho việc quản
lý, lập kế hoạch, tổ chức bộ máy, phân bổ nguồn lực, động viên thúc đẩy
và kiểm soát các hoạt động biến đổi để đạt kết quả như mong muốn. Phần
tổ chức phụ thuộc vào độ phức tạp của vật tư kĩ thuật và thong tin, song
bản than nó quyết định sự cấu thành của ba bộ phận còn lại. Tổ chức còn
đem lại động lực cho sự phát triển công nghệ. Công nghệ in 3D trong y
học ở Việt Nam chưa thực sự có tổ chức tốt bởi chưa được chú ý đến
nhiều, vẫn chỉ mang tính thử nghiệm. Còn ở một số nước khác như Anh,
Mỹ rất chú trọng đến công nghệ này nên tổ chức của họ rất ổn định, liên
tục cải tiến chất lượng và chủng loại sản phẩm và nguyên vật liệu in, liên
tục nâng cao kiến thức và nâng cấp vật tư kĩ thuật in.
2.2.

Vai trò của công nghệ in 3D đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
2.2.1.Thực trạng của lĩnh vực y học trước khi áp dụng công nghệ in 3D
- Trước khi công nghệ in 3D xuất hiện, các bác sĩ và nhà nghiên cứu trên
toàn thế giới đã có biện pháp nuôi cấy để mô phỏng và tái tạo các bộ phận
khiếm khuyết hoặc bị tổn hại của bệnh nhân. Tuy nhiên do cấu trúc của cơ
thể con người quá phức tạp nên các bác sĩ đã gặp rất nhiều khó khăn trong
việc tái tạo lại một số cơ quan như răng và hàm, xương chậu, các bộ phận
trên khuôn mặt,… hoặc đã tái tạo lại được nhưng các bộ phận thay thế đó


trạng của lĩnh vực y học sau khi áp dụng công nghệ in 3D
Lý do áp dụng công nghệ?

- Thực tế cho thấy công nghệ in 3D luôn được quan tâm và nghiên cứu
trên khắp các lĩnh vực khác nhau. Bí mật của công nghệ này là mực in –
một loại bột đặc biệt làm từ titan, nhựa, silicon… khi in sẽ được kết dính
với nhau bằng một loại keo đặc biệt và tạo nên hình 3D theo mô phỏng.
Điều này khiến các nhà khoa học ở nước ta cũng như trên thế giới đã bắt
đầu mày mò phát triển công nghệ in 3D vào lĩnh vực y tế vì những lợi ích
và khả năng ứng dụng cao như:
+) In 3D có thể giúp các bác sĩ nhanh chóng tạo giải pháp chữa bệnh mà
không quá tốn kém hay mất thời gian.
17


+) Giúp dự báo rủi ro trước khi em bé chào đời: Công nghệ in 3D có thể
giúp các bác sĩ xác định phương pháp chào đời phù hợp đối với thai nhi.
Dựa vào ảnh chụp MRI trong bào thai, máy in 3D tạo ra mô hình đầu và
mặt của trẻ, qua đó bác sĩ sẽ biết được em bé có nguy cơ bị ngộp sau khi
sinh hay không nhằm xác định khả năng sinh mổ thành công.
+) Giúp sản xuất thuốc: Đối với bệnh nhân đang lên cơn động kinh hoặc
trẻ nhỏ không chịu uống thuốc chống động kinh, việc cho họ uống thuốc
là điều khó khăn. Điều đặc biệt của viên thuốc in 3D là nó sẽ tan nhanh
khi vừa vào miệng bệnh nhân, giúp việc uống thuốc sẽ dễ dàng hơn.
+) Nhưng có lẽ, ứng dụng tiềm năng nhất đối với công nghệ in 3D trong
thế giới y học là "in sinh học"(bioprinting) - sản xuất các bộ phận trên cơ
thể người để cấy ghép. Công nghệ này liên quan đến việc tạo ra các mô
và cơ quan nội tạng được in từng lớp vào một cấu trúc 3 chiều. Các bộ
phận được chế tạo từ chính vật chất di truyền của bệnh nhân và tương

an toàn hơn rất nhiều so với các phương pháp chữa bệnh cổ truyền. Công
nghệ in 3D đang có những bước tiến dài trong lĩnh vực phẫu thuật, y học
và dược phẩm, không chỉ ở Việt Nam mà còn ở rất nhiều quốc gia trên
toàn thế giới
- Trên thế giới:
20


+) Công nghệ sản xuất đắp dần hay in 3D rất hữu ích trong sản xuất các
mô hình sinh học (các mô hình bộ phận con người như xương, răng, tai
giả...). Trong ứng dụng này, mô hình điện tử của bộ phận cơ thể con
người được dựng bởi các hình ảnh ba chiều hoặc một máy quét 3D. Sau
đó, mô hình sinh học được tạo ra từng lớp từng lớp nhờ vào công nghệ
sản xuất đắp dần. Trong ngành giải phẫu, mỗi bệnh nhân là một cá thể
riêng biệt và duy nhất, mô hình sinh học 3D cho phép bác sỹ thực hiện
phẫu thuật thuận lợi hơn do có được sự hiểu biết sâu hơn về cơ thể bệnh
nhân và các chẩn đoán được chính xác hơn. Nhờ đó, kế hoạch phẫu thuật
được chi tiết hơn, các thử nghiệm, diễn tập phẫu thuật hay hướng dẫn
trong ca mổ được đảm bảo về độ chính xác và chất lượng. Công nghệ in
3D còn hỗ trợ các thử nghiệm phương pháp và công nghệ y tế mới, tăng
cường nghiên cứu y khoa, giảng dạy và đào tạo đội ngũ y bác sĩ (Ví dụ:
In các cơ quan sinh học, xóa đi trở ngại của người khuyết tật, hoặc bị tai
nạn mất đi một phần cơ thể).

21


+) Trong trường hợp bệnh nhân gặp tai nạn và cần phẫu thuật thay ghép
các bộ phận trong thời gian ngắn khi tính mạng đang bị đe dọa thì với sự
xuất hiện của máy in 3D là lời giải tối ưu cho những ca bệnh nguy hiểm

triển một kỹ thuật in 3D, có thể tạo ra được những lớp da người sinh học.
Loại mực in 3D mà họ sử dụng chứa cả huyết tương và các thành phần
của da. Công nghệ mới này có thể in được khoảng 100 da người trong 30
phút. Tiềm năng của công nghệ này, và những gì nó có thể giúp các nạn
nhân bỏng thay đổi cuộc đời, là rất đáng quý.
. Dược phẩm
+) In 3D cũng có tiềm năng trong lĩnh vực dược phẩm. Hiện tại, các loại
thuốc đang được sản xuất theo từng dây chuyền riêng biệt. Bởi vậy, một
bệnh nhân đôi khi cần uống rất nhiều loại thuốc trong một ngày, chia ra
sáng, trưa, chiều, tối, … Đối với những người già, nhớ được thứ tự uống
thuốc với họ trở thành một nhiệm vụ khó khăn, đôi khi là bất khả thi, ví
dụ trong trường hợp bệnh nhân mắc Alzheimer. Bây giờ, công nghệ in 3D
đang được phát triển để tạo ra những viên thuốc tất cả trong một. Một
viên thuốc in 3D có thể chứa nhiều loại thuốc cùng một lúc, mỗi loại
được lập trình thời gian phát hành khác nhau. Hiện tại, loại thuốc tích
hợp được gọi là “polypill" này đã được thử nghiệm trên bệnh nhân tiểu
đường và cho thấy rất nhiều hứa hẹn.
- ở Việt Nam:
+) Công nghệ in 3D từ khi ra đời cho tới nay đã cho thấy ứng dụng vô
cùng mạnh mẽ và ngày càng được mở rộng. Trong y học hiện đại trên thế
giới, công nghệ in 3D đã trở nên quen thuộc trong việc mô phỏng, in
23


những bộ phận trên cơ thể người, tuy nhiên, đây vẫn còn là lĩnh vực mới
mẻ đối với y học Việt Nam.
+) Ở Việt Nam hiện nay, việc tạo ra các bộ phận cơ thể cung cấp cho việc
giảng dạy nghiên cứu trên giảng đường, hay hoàn thiện các phần còn
khiếm khuyết của người khuyết tật như chi giả còn rất thủ công, thường
là lấy mẫu silicon và đúc phôi thạch cao. Điều đó khiến cho việc sở hữu

thể người cũng như cơ quan sinh đáng đáng được ghi nhận. In sinh học
hứa hẹn những cơ hội quý báu cho phát triển thuốc y tế, phương pháp
điều trị thử nghiệm, nghiên cứu y học, chữa lành vết thương, và cả cấy
ghép.

C.Kết luận
- Sự phát triển của nền công nghệ hiện nay đã đang và sẽ mang lại lợi ích to lớn
cho cuộc sống của con người nói chung cũng như cho các tổc doanh nghiệp nói
riêng. các nước đang phát triển leo lên một tầm cao mới trong chuỗi cung ứng sản
xuất bằng cách thúc đẩy khả năng thiết kế và tạo mẫu nhanh tại các quốc gia này.
công nghệ in 3D cho phép giảm, công nghệ 3D có thể giúp chi phí sản xuất, do đó
giảm giá thành sản phẩm, đồng nghĩa với giảm chi phí sinh hoạt của người dân
cũng như tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. Tuy nhiên việc phổ biến in 3D sẽ gây
những tác động sâu sắc đến các quy định về quyền sở hữu trí tuệ vì công nghệ này
cho phép tái tạo các đối tượng hoặc vật chất hóa các thiết kế. Doanh nghiệp có thể
gặp khó khăn nghiêm trọng khi các hãng khác hoặc thậm chí các cá nhân có thể dễ
dàng sao chép sản phẩm của mình bằng cách sử dụng tập tin thiết kế hoặc bằng
máy quét 3D. In 3D, ngoài ra, còn có thể gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng đến an
ninh quốc gia. Công nghệ 3D tạo điều kiện cho sản xuất phân tán phát triển. Điều
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status