nguyên tắc đảm bảo và tôn trọng sự thỏa thuận hợp pháp của các bên trong lĩnh vực lao động - Pdf 26

BÀI LÀM:
Có thể nói, khi đề cập các nguyên tắc tức là nói đến phương hướng chỉ đạo, là
nền tảng pháp lý xuyên suốt trong quá trình xây dựng và thực hiện pháp luật. Hệ thống
pháp luật và hệ thống các ngành luật được chỉ đạo bởi các nguyên tắc chung cơ bản,
mỗi ngành luật đến lượt mình lại có các nguyên tắc chủ đạo. Cùng với những yêu cầu
khách quan của nền kinh tế thị trường, nhu cầu thiết yếu của người sử dụng lao động
cũng như người lao động đã tác động không nhỏ tới sự hình thành và nội dung của
pháp luật lao động. Tiếp nối và cụ thể hóa quyền lao động, nguyên tắc tự do thỏa
thuận, pháp luật lao động cũng đặt ra những nguyên tắc nhằm bảo vệ các chủ thể khi
tham gia các quan hệ pháp luật lao động bằng các nguyên tắc cơ bản và với nguyên tắc
đảm bảo và tôn trọng sự thỏa thuận hợp pháp của các bên trong lĩnh vực lao động,
pháp luật lao động đã tạo điều kiện cho sự gắn bó chặt chẽ giữa người lao động và
người sử dụng lao động; góp phần tạo nên sự bình đẳng, cân bằng trong xã hội – một
yêu cầu thiết yếu của một đất nước giàu mạnh và phát triển.
1. Cơ sở xác định nguyên tắc
Theo từ điển Tiếng Việt, “thỏa thuận là việc đi tới sự đồng ý sau khi cân nhắc,
thảo luận”. Điều 4 BLDS 2005quy định về quyền tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận
như sau: “… Cam kết, thoả thuận hợp pháp có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các
bên và phải được cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác tôn trọng”. Tiếp nối theo đó, việc
pháp luật lao động quy định nguyên tắc bảo đảm và tôn trọng sự thỏa thuận hợp pháp
của các bên là hoàn toàn đương nhiên và cần thiết.
Nền tảng đầu tiên của bất kỳ nguyên tắc nào trong hoạt động đời sống xã hội đó
là đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Đến lượt mình, các nguyên tắc của
pháp luật lao động cũng dựa trên cơ sở “vì con người, phát huy nhân tố con người,
trước hết là người lao động”
(1)
. Trước tình hình thực tế cho thấy, người lao động khó
có điều kiện thỏa thuận bình đẳng thực sự với bên sử dụng lao động như yêu cầu của
thị trường. Vì thế, ngay từ những năm đầu phát triển kinh tế thị trường, Đảng và Nhà
nước ta đã xác định cần thiết phải tạo ra sự thỏa thuận bình đẳng trong các quan hệ
pháp luật đặc biệt là quan hệ pháp luật lao động.

phải chịu sự tác động, sức ép mất việc làm, thất nghiệp. Tuy nhiên, sự bóc lột sức lao
động đã khiến họ liên kết lại thành tập thể người lao động đứng ra tự thỏa thuận với
người sử dụng trên nguyên tắc bình đẳng, và sự tôn trọng, bảo vệ của Nhà nước thông
qua chế định thỏa ước lao động tập thể. Ở Việt Nam, thỏa ước lao động tập thể được
chính thức ghi nhận lần đầu tiên trong Bộ luật lao động năm 1952, cùng với sự phát
triển của nền kinh tế thị trường, thỏa ước lao động tập thể dần được hoàn thiện hơn.
Thỏa ước lao động tập thể là cơ sở pháp lý chủ yếu để từ đó hình thành quan hệ lao
động có tính tập thể, tạo nên sự cộng đồng trách nhiệm của cả hai bên trong việc thực
hiện quyền và nghĩa vụ phát sinh trên cơ sở pháp luật lao động.
Tuy nhiên, không phải trường hợp nào hai bên cũng có thể tự thỏa thuận với
nhau, nền kinh tế nhiều thành phần ngày càng đa dạng và phức tạp khiến cho việc tự
thỏa thuận cũng như việc thanh tra, kiểm tra của nhà nước ngày càng cần bình đẳng
2
hơn và phải căn cứ vào những thỏa thuận hợp pháp của các bên để đảm bảo thực hiện
và giải quyết quyền lợi cho họ. Đặc biệt, pháp luật hiện hành còn chấp nhận nguyên tắc
quan trọng của tư tưởng pháp quyền: các bên có quyền thỏa thuận về tất cả những nội
dung liên quan đến quan hệ của mình nếu không vi phạm pháp luật. Những định mức
về quyền lợi người lao động thường được hiểu là mức tối thiểu, những quy định về
nghĩa vụ lại được hiểu là mức tối đa. Điều đó góp phần khuyến khích những thỏa thuận
có lợi hơn cho người lao động so với quy định của pháp luật.
Điều 9 Luật lao động quy định: “Quan hệ lao động giữa người lao động và
người sử dụng lao động được xác lập và tiến hành qua thương lượng, thỏa thuận theo
nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của
nhau, thực hiện đầy đủ những điều đã cam kết… Người lao động và người sử dụng lao
động có quyền yêu cầu cơ quan tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động”
Cùng với đó là nhiều chế định của luật lao động như các chế định về việc làm, học
nghề, hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, thời giờ làm việc, nghỉ ngơi, tiền
lương, bồi thường thiệt hại, giải quyết tranh chấp lao động,… Đó là biểu hiện của quan
hệ hợp tác giữa hai bên trên cơ sở cùng có lợi và là nên tảng của sự hợp tác ba bên
(Nhà nước và tổ chức đại diện hai giới) trong lĩnh vực lao động.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status