Tài liệu Phân tích nguyên tắc đảm bảo và tôn trọng sự thỏa thuận hợp pháp giữa các bên trong lĩnh vực lao động - Pdf 85

Nguyên tắc cơ bản của Luật lao động là những nguyên lý, tư tưởng chỉ đạo
quán triệt và xuyên suốt toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp luật lao động trong
việc điều chỉnh các quan hệ xã hội về sử dụng lao động. Nội dung các nguyên tắc
cơ bản của Luật lao động thể hiện quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà
nước ta về lĩnh vực lao động. Pháp luật lao động quy định quyền và nghĩa vụ của
người lao động và của người sử dụng lao động, các tiêu chuẩn lao động, các
nguyên tắc sử dụng và quản lý lao động… tạo điều kiện cho mối quan hệ lao động
được hài hoà và ổn định bằng nguyên tắc đảm bảo và tôn trọng sự thỏa thuận hợp
pháp giữa các bên trong lĩnh vực lao động. Qua việc quy định nguyên tắc trên, pháp
luật lao động góp phần phát huy trí sáng tạo và tài năng của người lao động trí óc
và lao động chân tay; của người quản lý lao động, nhằm đạt năng suất, chất lượng
và tiến bộ xã hội trong sử dụng và quản lý lao động, góp phần công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh.
1. Cơ sở xác định nguyên tắc
Sự thỏa thuận hợp pháp của các bên là những thỏa thuận hoàn toàn bình
đẳng, tự nguyện trên cơ sở tương quan lao động và điều kiện thực tế, không trái
pháp luật và các giá trị xã hội… về quyền, nghĩa vụ, lợi ích, trách nhiệm của mỗi
bên trong quá trình tham gia lao động và sử dụng lao động.
Việc xác định nguyên tắc này trước hết trên là do yêu cầu khách quan của
nền kinh tế thị trường: Sự phát triển kinh tế ngày càng mạnh mẽ, nền kinh tế thị
trường năng động đã hình thành nên một thị trường sức lao động vô cùng phong
phú. Nó chỉ có thể hình thành khi các bên tham gia có quyền tự do gia nhập hoặc
rời khỏi thị trường, tự do luân chuyển sức lao động…quá trình hình thành thị
trường sức lao động này, luật lao động không thể xác định những quyền và nghĩa
vụ cụ thể, chi tiết có tính chất bắt buộc đối với các bên trong mọi quan hệ lao động.
Thay vào đó, những quy định có tính nguyên tắc chung, định hướng, định mức và
định khung vừa đáp ứng yêu cầu chung của sự điều chỉnh pháp luật, vừa tạo điều
kiện cho các bên được tự do cạnh tranh trên thị trường.
Bên cạnh sự tác động của yếu tố thị trường sức lao động, sự đa dạng và ngày
càng phình to về ngành nghề, lĩnh vực…của nền kinh tế, thì nhu cầu tự thỏa thuận

động. Hơn thế nữa, nó còn tạo điều kiện để người lao động, bằng sự thượng lượng,
mặc cả, thông qua sức mạnh của cả tập thể với người sử dụng lao động để có thể
hưởng những lợi ích cao hơn so với sự quy định trong pháp luật.
Thực hiện ký thỏa ước lao động tập thể góp phần điều hòa lợi ích, hạn chế
cạnh tranh không cần thiết, tạo ra những điều kiện cho sự gắn bó chặt chẽ giữa
người lao động và người sử dụng lao động. Thỏa ước lao động tập thể là cơ sở pháp
lý quan trọng để xem xét giải quyết tranh chấp lao động tập thể, một khi có tranh
chấp lao động tập thể xảy ra. Thỏa ước lao động tập thể nếu được ký kết đúng đắn,
trên cơ sở bình đẳng, tự do thương lượng, hợp tác sẽ là nguồn quy phạm thích hợp
tại chỗ bổ sung cho nội quy doanh nghiệp, tăng cường kỷ luật trong doanh nghiệp
và còn là cơ sở pháp lý quan trọng để doanh nghiệp tiến hành ký hợp đồng lao động
với người lao động, phù hợp với điều kiện, khả năng của doanh nghiệp, đảm bảo
quyền lợi của hai bên.
Trong nền kinh tế thị trường với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế đã
hình thành nhiều quan hệ lao động, các quan hệ lao động này ngày càng trở nên đa
dạng và phức tạp, đan xen lẫn nhau. Trong số các quan hệ lao động tồn tại trong
đời sống xã hội, Luật lao động chủ yếu điều chỉnh quan hệ lao động giữa người lao
động làm công ăn lương với người sử dụng lao động thuộc mọi thành phần kinh tế,
tức là Luật lao động chủ yếu điều chỉnh quan hệ lao động được xác lập trên cơ sở
hợp đồng lao động. Đối với quan hệ lao động hình thành trên cơ sở hợp đồng lao
2
động, pháp luật đặt ra các tiêu chuẩn, chuẩn mực hay khung pháp lý, trong đó
quyền lợi của các bên được ấn định ở mức tối thiểu và nghĩa vụ ấn định ở mức tối
đa. Các chủ thể khi tham gia quan hệ này hoàn toàn được tự do, bình đẳng, tự
nguyện, tự thỏa thuận các vấn đề liên quan đến quá trình lao động phù hợp với
pháp luật và hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Điều đó góp phần
khuyến khích những thỏa thuận có lợi hơn cho người lao động so với quy định của
pháp luật.
Quyền tự do thỏa thuận của các bên đã được pháp luật ghi nhận rộng rãi, đối
với hầu hết các quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của luật lao động, được thể hiện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status