mục lục
Trang
Mở đầu 1
Chơng 1: cơ sở lý luận của việc hoàn thiện pháp luật
về quyền chính trị của phụ nữ
7
1.1 Cơ sở lý luận về quyền chính trị của phụ nữ và pháp luật về
quyền chính trị của phụ nữ
7
1.2. Các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật về
quyền chính trị của phụ nữ
24
1.3. Hoàn thiện pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ ở Việt
Nam là yêu cầu khách quan, cấp bách hiện nay
34
Chơng 2: quá trình hình thành, phát triển và thực
trạng pháp luật về quyền chính trị của
phụ nữ ở việt nam hiện nay
40
2.1. Khái quát quá trình hình thành, phát triển của pháp luật về
quyền chính trị của phụ nữ ở Việt Nam
41
2.2 Thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về quyền chính
trị của phụ nữ ở Việt Nam
50
Chơng 3: phơng hớng và giải pháp hoàn thiện pháp
luật về quyền chính trị của phụ nữ ở việt
nam hiện nay
75
3.1. Phơng hớng hoàn thiện pháp luật về quyền chính trị của phụ
nữ ở Việt Nam hiện nay
2
Tổ quốc. Trong sự nghiệp Đổi mới hiện nay, phụ nữ Việt Nam vẫn luôn sát
cánh cùng nam giới phấn đấu vì mục tiêu "Dân giàu, nớc mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh" và có những đóng góp đáng kể trong các lĩnh vực
xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế, ổn định xã hội cũng nh những cống
hiến xuất sắc trong việc chăm lo xây dựng gia đình, nuôi dỡng các thế hệ công
dân tơng lai của đất nớc. Không những vậy, nhiều phụ nữ còn mang lại những
vinh quang lớn cho đất nớc trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, khoa học,
nghệ thuật, thể thao.
Nhận thức rõ vị trí và vai trò quan trọng của ngời phụ nữ trong xã hội
nên ngay từ khi nớc nhà mới giành đợc độc lập, các quyền của công dân nói
chung và quyền của phụ nữ nói riêng đã đợc pháp luật Việt Nam ghi nhận và
khẳng định, trong đó có các quyền bình đẳng về chính trị của phụ nữ Điều
đó đã tạo điều kiện căn bản cho phụ nữ tham gia tích cực và hiệu quả vào các
hoạt động kinh tế, xã hội và đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc. Từ khi đổi mới đến nay, Đảng và Nhà nớc tiếp tục quan tâm tạo mọi
điều kiện thuận lợi cho phụ nữ tham gia ngày càng nhiều và hiệu quả hơn vào
lĩnh vực chính trị; nhờ vậy, phụ nữ Việt Nam ngày càng có nhiều cơ hội và
nhiều đại diện tham gia vào hệ thống chính trị, cũng nh vào việc đề xuất,
hoạch định, thực hiện và giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật của
Nhà nớc. Xét chung trên toàn thế giới và khu vực, Việt Nam là quốc gia đợc
đánh giá cao về mức độ bảo đảm quyền bình đẳng về chính trị của phụ nữ, thể
hiện ở tỷ lệ đại biểu nữ trong Quốc hội ở mức tơng đối cao.
Mặc dù vậy, trên thực tế ở Việt Nam, quyền bình đẳng về chính trị của
phụ nữ vẫn cha đợc bảo đảm một cách tơng xứng so với vai trò và khả năng
của phụ nữ trong xã hội. Điều đó thể hiện ở chỗ vẫn còn khoảng cách lớn giữa
tỷ lệ đại biểu nữ và nam trong các cơ quan dân cử (Quốc hội, Hội đồng nhân
dân các cấp) và số lợng hạn chế phụ nữ nắm giữ các vị trí then chốt có quyền
ra quyết định trong các cơ quan của hệ thống chính trị (xem phụ lục 1 đến phụ
3
ớc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ và trong pháp luật
Việt Nam" của TS. Nguyễn Văn Mạnh; "Công ớc của Liên hợp quốc và pháp
luật Việt Nam về xóa bỏ phân biệt đối xử với phụ nữ" của Viện Nghiên cứu
khoa học pháp lý - Bộ T pháp. Riêng cuốn sách: "Vai trò của nữ cán bộ quản
lý nhà nớc trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa" của TS. Võ Thị
Mai đề cập kỹ hơn, sâu hơn về một phần nội dung của đề tài đó là phụ nữ
tham gia vào quản lý nhà nớc.
Tuy các bài viết, công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến một số nội
dung liên quan đến đề tài luận văn, nhng đều cha nghiên cứu một cách hệ
thống cơ sở lý luận cũng nh các quy phạm pháp luật và những giải pháp cụ thể
góp phần hoàn thiện pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ. Đề tài: "Hoàn
thiện pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ ở Việt Nam hiện nay" là công
trình khoa học độc lập, không trùng lắp với các công trình nêu trên, nghiên
cứu có hệ thống cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật và thực hiện pháp
luật về quyền chính trị của phụ nữ và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp
luật về quyền chính trị của phụ nữ ở Việt Nam hiện nay. Trong quá trình
nghiên cứu những nội dung của đề tài, tác giả có kế thừa, tham khảo kết quả
nghiên cứu ở các công trình khoa học nêu trên.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
- Mục đích của luận văn là đề xuất những phơng hớng, giải pháp hoàn
thiện pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ, phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn
của nớc ta và các chuẩn mực quốc tế có liên quan mà Nhà nớc ta đã cam kết
thực hiện.
- Để thực hiện đợc mục đích trên, luận văn cần giải quyết các nhiệm
vụ sau:
5
(1) Phân tích khái quát cơ sở lý luận của việc hoàn thiện pháp luật về
quyền chính trị của phụ nữ để làm tiền đề đánh giá và đề xuất các giải pháp
hoàn thiện pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ.
(2)Tập hợp và phân tích hệ thống các quy phạm pháp luật hiện hành
liên quan với vấn đề bình đẳng giới và quyền của phụ nữ trong pháp luật quốc tế.
- Về nội dung: Trên cơ sở so sánh, đối chiếu với các tiêu chuẩn pháp lý
có liên quan và các điều kiện tác động về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa ở
Việt Nam, luận văn lần đầu tiên khái quát hóa, phân tích và đánh giá một cách
có hệ thống các quy phạm pháp luật hiện hành về quyền chính trị của phụ nữ ở
Việt Nam cũng nh việc thực hiện những quy định này trong thực tế Luận
văn cũng đề xuất các phơng hớng và luận chứng những giải pháp cụ thể nhằm
hoàn thiện pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ ở Việt Nam hiện nay, nhất
là sự cần thiết phải ban hành Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam, trong đó có
những quy định về sự bình đẳng trong lĩnh vực chính trị của phụ nữ.
7. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Với kết quả luận văn đạt đợc, tác giả hy vọng sẽ góp phần làm sáng tỏ
những vấn đề lý luận và thực tiễn cho việc hoàn thiện pháp luật và tổ chức
thực hiện pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ ở Việt Nam trong thời
gian tới.
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và
giảng dạy về vấn đề liên quan đến quyền chính trị của phụ nữ trong các trờng đào
tạo cán bộ nói chung và cán bộ nữ nói riêng của Đảng và Nhà nớc.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung của luận văn gồm 3 chơng, 8 tiết.
7
8
Chơng 1
Cơ sở lý luận của việc hoàn thiện pháp luật
về quyền chính trị của phụ nữ
1.1. Cơ sở lý luận về quyền chính trị của phụ nữ và pháp
luật về quyền chính trị của phụ nữ
Ngày nay quyền của phụ nữ tham gia hoạt động chính trị đã đợc tôn
đó là vấn đề chính quyền thuộc về ai, của ai và vì ai. Xét ở góc độ riêng, chính
trị chỉ thực sự có nghĩa khi nó đợc hiện thực hóa gắn với chủ thể là con ngời,
là giai cấp cụ thể. Và khi nói đến con ngời thì không thể không gắn đến
quyền. Quyền ở đây không mang nghĩa là vơng quyền hay thần quyền, mà là
quyền vốn có và tự nhiên của mỗi con ngời, không phải do bất kỳ ai hoặc thế
lực nào ban phát. Sự kết hợp giữa nội dung của chính trị với bản chất của
quyền con ngời chính là cơ sở dẫn đến sự thừa nhận về quyền chính trị.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về quyền chính trị. Trong giáo trình đại
cơng phục vụ công tác nghiên cứu và giảng dạy của trờng Waynesboro ở bang
Pennsylvania (Mỹ), quyền chính trị đợc định nghĩa một cách đơn giản: là những
yêu cầu pháp lý của công dân đợc tham gia trong chính quyền và đợc đối xử
công bằng [53]. Giáo trình này cũng chỉ rõ, quyền chính trị bao gồm quyền đ-
ợc bỏ phiếu, khởi kiện, họp và tham gia cơ quan nhà nớc.
Từ định nghĩa trên, có thể thấy quyền chính trị trớc hết là một quyền
pháp lý, đợc thừa nhận và bảo vệ bằng pháp luật. Bên cạnh đó, theo định nghĩa
này, quyền chính trị gắn và chỉ gắn với những cá nhân có t cách công dân;
những ngời không có quốc tịch, nhập c bất hợp pháp, ngời nớc ngoài c trú và
10
làm việc trên lãnh thổ nớc khác, ngời tỵ nạn sẽ không có hoặc chỉ đợc hởng
một cách hạn chế các quyền chính trị, đặc biệt là không đợc hởng "quyền đợc
bỏ phiếu, khởi kiện, họp và tham gia cơ quan nhà nớc".
Từ điển Luật học Mỹ (Black Law Dictionary) định nghĩa, quyền chính
trị: "Là những quyền có thể đợc thực hiện trong quá trình thành lập hay quản
lý chính quyền. Các quyền của công dân đợc xác lập hoặc công nhận bởi
Hiến pháp dành cho họ quyền tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp trong việc
thành lập hoặc trong quản lý chính quyền" [51, tr. 1159]. Định nghĩa này
khẳng định chắc chắn thêm về mặt pháp lý đối với quyền chính trị, vì trớc
tiên, nó là "quyền của công dân" và sau đó là, "đợc xác lập hoặc công nhận
bởi Hiến pháp". Tuy nhiên, phạm vi quyền chính trị ở đây lại tơng đối hẹp, vì
nó chỉ bao gồm "quyền tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp trong việc thành lập
Thứ hai, công dân tham gia gián tiếp vào quản lý nhà nớc và quản lý
xã hội.
Tăng cờng sự tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp của công dân vào quản
lý nhà nớc và xã hội chính là tăng cờng chế độ dân chủ trong xã hội, bảo đảm
sự tham gia rộng rãi của mọi giới, không có bất cứ sự phân biệt đối xử nào.
Trực tiếp tham gia quản lý nhà nớc và xã hội là việc ngời dân trực tiếp đảm
nhận các cơng vị trong bộ máy chính quyền nhà nớc, các tổ chức xã hội, đồng
thời cũng là ngời trực tiếp thực hiện các chính sách và pháp luật của nhà nớc.
Còn gián tiếp tham gia quản lý nhà nớc và xã hội là việc ngời dân thông qua
các cơ quan đại diện của Nhà nớc, tổ chức xã hội để bày tỏ ý kiến, quan điểm
vào việc xây dựng và hoạch định chính sách, pháp luật.
Bảo đảm thực hiện quyền chính trị của công dân qua hai nội dung trên
cũng chính là thực hiện tốt phơng thức: "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm
12
tra". Dân ở đây bao gồm cả nam và nữ. Vì thế phụ nữ cũng là chủ thể của ph-
ơng thức trên và cũng có quyền chính trị.
Vậy quyền chính trị của phụ nữ là gì? Thực tế, theo khái niệm quyền
chính trị nêu trên, đối tợng hởng thụ quyền là công dân, tức bao gồm tất cả
những ngời có quốc tịch của một quốc gia, không phân biệt giới tính và tuổi
tác, thì nội hàm của quyền chính trị của phụ nữ cũng chính là nội hàm của
khái niệm quyền chính trị nói chung. Tuy nhiên, xuất phát từ góc độ bình
đẳng giới và quyền con ngời của phụ nữ, có thể rút ra một khái niệm về quyền
chính trị của phụ nữ nh sau:
Quyền chính trị của phụ nữ là một trong những quyền con ngời quan
trọng nhất của phụ nữ, đợc Hiến pháp và pháp luật bảo vệ; nó xác lập năng
lực pháp lý bình đẳng của phụ nữ với nam giới trong việc tham gia trực tiếp
hoặc gián tiếp vào quản lý nhà nớc, quản lý xã hội.
1.1.1.2. Đặc điểm của quyền chính trị của phụ nữ
Xem xét quyền chính trị của phụ nữ trong mối tơng quan với các
quyền khác trong hệ thống các quyền con ngời, cũng nh trong sự phát triển
cấp ra quyết định chắc chắn sẽ giúp cho những chính sách của nhà nớc, đặc
biệt là những chính sách liên quan đến phúc lợi xã hội, mang tính cân bằng về
giới hơn. Bên cạnh đó, nó còn là biểu hiện của việc tăng cờng dân chủ trong
xã hội.
Quyền chính trị của phụ nữ bao gồm quyền bầu cử và ứng cử, quyền
tham gia quản lý nhà nớc và một số quyền khác. Theo Công ớc Liên hợp
quốc về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, việc bảo đảm thực
thi quyền chính trị của phụ nữ phải dựa trên ba nguyên tắc, đó là: bình đẳng,
không phân biệt đối xử và trách nhiệm quốc gia. Bình đẳng và không phân
14
biệt đối xử là yêu cầu khách quan; trong khi trách nhiệm quốc gia bao hàm
cả việc bảo đảm dân chủ xã hội. Xét về mặt lịch sử, dân chủ và bình đẳng
không chỉ là nhu cầu của con ngời mà còn là yêu cầu khách quan. Hai phạm
trù này không tách biệt, mà ngợc lại, chúng hỗ trợ và bổ sung cho nhau. Dân
chủ ở đây bao gồm dân chủ trực tiếp và dân chủ gián tiếp, trong đó biểu hiện
của dân chủ trực tiếp chính là sự tham gia của cả hai giới trong quản lý nhà
nớc, còn dân chủ gián tiếp là bầu cử và ứng cử vào các cơ quan đại diện
quyền lực nhân dân. Nh vậy, thực thi dân chủ bao hàm cả yêu cầu thực thi
một phần quyền chính trị của phụ nữ; và ngợc lại, bảo đảm thực thi quyền
chính trị của phụ nữ mới thực hiện đợc dân chủ, bình đẳng một cách đầy đủ
trong đời sống xã hội. Nói cách khác, xã hội nào xác lập và thực hiện đợc
quyền chính trị của phụ nữ mới là xã hội dân chủ, bình đẳng thực sự.
- Quyền chính trị của phụ nữ là cơ sở và nền tảng để bảo đảm thực
hiện các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của phụ nữ.
Bảo đảm thực hiện quyền chính trị, hay quyền kinh tế, xã hội và văn
hóa của phụ nữ là bảo đảm thực hiện các quyền con ngời của phụ nữ đã đợc
pháp luật quy định và bảo vệ. Quyền con ngời là một hệ thống các quyền
thống nhất với nhau. Vì vậy, có thể khẳng định cả hai nhóm quyền này đều
quan trọng nh nhau và có quan hệ mật thiết với nhau.
Trong hệ thống quyền con ngời, quyền chính trị thờng là những quyền
khắc xử lý các hành vi vi phạm quyền chính trị của phụ nữ. Nh vậy, pháp luật
không chỉ ghi nhận, cụ thể hóa quyền chính trị của phụ nữ mà còn quy định
những thiết chế bảo đảm thực hiện những quyền đó trên thực tế.
Từ những phân tích trên, có thể nêu khái niệm pháp luật về quyền
chính trị của phụ nữ nh sau: Pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ là tổng
thể các quy định trong hệ thống pháp luật nhằm bảo đảm việc thực hiện và
16
bảo vệ quyền chính trị của phụ nữ trên cơ sở bình đẳng và không phân biệt
đối xử.
1.1.2.2. Nội dung của pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ
Nói đến nội dung của pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ là đề
cập tới các quy phạm pháp luật cụ thể hớng đến mục tiêu xác lập và bảo vệ
năng lực và t cách pháp lý bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị.
Dới góc độ pháp luật quốc tế, những quy định liên quan trực tiếp và
gián tiếp đến quyền chính trị của phụ nữ có thể đợc tìm thấy trong nhiều văn
kiện quốc tế về quyền con ngời, tiêu biểu nh Tuyên ngôn thế giới về quyền
con ngời (UDHR) năm 1948, Công ớc về các quyền chính trị của phụ nữ năm
1952, Công ớc Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) năm 1966 và
Công ớc Liên hợp quốc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ
(CEDAW) năm 1979.
Công ớc CEDAW không phải là văn kiện pháp lý chuyên biệt quy
định về các quyền con ngời của phụ nữ, vì các quyền nh vậy đã đợc thừa nhận
trong các điều ớc quốc tế khác về nhân quyền đã đợc ban hành trớc đó, cụ thể
nh các điều ớc kể trên. Tuy nhiên, Công ớc CEDAW có ý nghĩa hết sức quan
trọng đối với việc hiện thực hóa các quyền con ngời của phụ nữ, trong đó có
quyền chính trị, bởi lẽ công ớc này xác định các cách thức, biện pháp nhằm
loại trừ những sự phân biệt đối xử với phụ nữ trong việc hởng thụ các quyền
con ngời. Nói cách khác, mục đích của Công ớc CEDAW là trao cho phụ nữ
những quyền con ngời đã đợc thừa nhận nhng trên thực tế họ cha đợc hởng,
bởi có những sự phân biệt đối xử với phụ nữ [49, tr. 64].
việc cụ thể, hoặc trực tiếp tham gia giám sát, kiểm tra hoạt động của các cơ
quan công quyền thực hiện quyền lực đợc giao. Đặc biệt, dân chủ ở cơ sở thể
18
hiện ở chỗ phụ nữ đợc tham gia góp ý kiến bằng nhiều hình thức vào các vấn
đề liên quan đến đời sống cộng đồng trong đó có những vấn đề liên quan đến
lợi ích của họ. Hình thức điển hình của dân chủ gián tiếp là phụ nữ tham gia
bầu cử ngời đại diện và ứng cử vào các cơ quan dân cử, cơ quan đại diện
quyền lực nhà nớc.
ở Việt Nam, quyền chính trị của phụ nữ với tính cách là quyền công
dân sớm đợc xác lập bằng pháp luật cùng với sự ra đời của Hiến pháp đầu tiên
năm 1946. Ngay từ thời điểm này, phụ nữ đã đợc công nhận có địa vị công
dân bình đẳng so với đàn ông: "Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi ph-
ơng diện" (Điều 9). Quyền bình đẳng nam nữ trong bầu cử và ứng cử trở thành
quy tắc xuyên suốt trong các Hiến pháp từ 1946 đến nay: Công dân, không
phân biệt dân tộc, nam, nữ, thành phần xã hội, tín ngỡng, tôn giáo, trình độ
văn hóa, thời hạn c trú, từ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và từ 21 tuổi
trở lên đều có thể đợc bầu vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, trừ
những ngời bị pháp luật hoặc tòa án nhân dân tớc các quyền đó.
Phù hợp với tinh thần của Công ớc CEDAW, Hiến pháp và pháp luật
Việt Nam cũng có những quy định xác lập quyền bình đẳng của phụ nữ tham
gia xây dựng và thực hiện các chính sách của Chính phủ, tham gia các chức vụ
nhà nớc và thực hiện chức năng công cộng ở mọi cấp. Cụ thể, Điều 53 Hiến
pháp năm 1992 (đã sửa đổi) quy định rõ: "Công dân có quyền tham gia quản
lý nhà nớc và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nớc và địa
phơng, kiến nghị với cơ quan nhà nớc ". Để hiện thực hóa quy định có tính
định hớng này, Đảng và Nhà nớc Việt Nam đã ban hành nhiều luật, văn bản d-
ới luật nhằm tạo điều kiện cho phụ nữ thực hiện quyền bình đẳng của họ tham
gia vào quản lý nhà nớc, quản lý kinh tế và xã hội. Nhờ chính sách pháp luật
nh vậy mà trong những năm qua, nhất là trong thời kỳ đổi mới đất nớc, phụ nữ
đã đợc giải phóng sức lao động và sáng tạo của họ, phát huy hết tiềm năng, có
phụ nữ nh sau:
- Thứ nhất, pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ bao gồm các quy
định của pháp luật về quyền chính trị của công dân nói chung và các quy
định trực tiếp về quyền chính trị của phụ nữ nói riêng.
Quyền chính trị của phụ nữ ở Việt Nam đợc thể hiện và đợc pháp luật
bảo vệ với t cách là các quyền công dân, Phụ nữ cũng là công dân và phụ nữ
có các quyền chính trị của một công dân, đợc tham gia vào mọi hoạt động
trong đời sống chính trị và đời sống công cộng của đất nớc. Tuy vậy, để khẳng
định quyền chính trị và quyền bình đẳng của phụ nữ, Hiến pháp và những văn
bản pháp luật liên quan cũng có những quy định riêng về nội dung quyền
chính trị và quyền bình đẳng của phụ nữ. Ví dụ, ngoài những quy định chung
về quyền công dân đợc quy định trong chơng về nghĩa vụ và quyền lợi của
công dân trong Hiến pháp, còn có những quy định riêng về quyền của phụ nữ.
Điều 7 Hiến pháp 1946 xác định: "Tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng tr-
ớc pháp luật, đều đợc tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tùy theo
tài năng và đức hạnh của mình". Đồng thời, Điều 9 của Hiến pháp này nhấn
mạnh thêm: "Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phơng diện". Đồng
thời, các chế tài nhằm bảo vệ các quyền tự do dân chủ của công dân. Chẳng
hạn, ngoài những quy định về quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản của công dân ở
Chơng III Hiến pháp 1959 khẳng định:
Phụ nữ nớc Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền bình đẳng
với nam giới về các mặt sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,
gia đình. Cùng làm việc nh nhau, phụ nữ đợc hởng lơng ngang với
nam giới. Nhà nớc bảo đảm cho phụ nữ công nhân và phụ nữ viên
chức đợc nghỉ trớc và sau khi đẻ mà vẫn hởng nguyên lơng
21
Những quy định nh vậy đã hình thành nên một hệ thống các quy phạm
pháp luật quy định trực tiếp đến quyền chính trị và các quyền khác của phụ
nữ.
- Thứ hai, pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ là tổng hợp nhiều
Những văn kiện pháp lý nh vậy đều thể hiện t tởng tiến bộ của nhân loại về giải
phóng phụ nữ, bảo đảm sự bình đẳng và nâng cao địa vị của phụ nữ.
Trong số những văn kiện pháp lý quốc tế quy định trực tiếp hoặc gián
tiếp về quyền chính trị của phụ nữ, Việt Nam đã gia nhập và phê chuẩn hai
công ớc quan trọng nhất có liên quan là: Công ớc ICCPR và Công ớc
CEDAW. Trong quá trình xây dựng pháp luật, Nhà nớc Việt Nam luôn xem
xét khả năng thể chế hóa những quy định tiến bộ của pháp luật quốc tế vào hệ
thống pháp luật quốc gia. Đây cũng là một phần trong trách nhiệm quốc gia
(trách nhiệm lập pháp) khi Việt Nam gia nhập và phê chuẩn những công ớc
này. Bên cạnh đó, khi xây dựng pháp luật, chúng ta cũng dựa trên truyền thống
văn hóa và hoàn cảnh đặc thù của Việt Nam để có điều chỉnh và thông qua
những quy phạm pháp luật phù hợp. Chính vì thế, pháp luật Việt Nam thể hiện
t tởng tiến bộ, có tính thuyết phục, phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam và
mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Các quy phạm pháp luật về quyền chính trị
của phụ nữ trong hệ thống pháp luật Việt Nam thể hiện rõ t tởng trên, trong đó
đặc biệt nhấn mạnh đến nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử.
1.1.3. Vai trò của pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ
Vai trò của pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ thể hiện ở những
điểm cơ bản sau:
- Một là, pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ thể chế hóa đờng
lối, chủ trơng và chính sách của Đảng về quyền chính trị của phụ nữ.
23
Trong bất kỳ giai đoạn lịch sử nào kể từ khi xuất hiện Nhà nớc và giai
cấp, pháp luật luôn luôn là công cụ để thể chế hóa đờng lối, chủ trơng và
chính sách của giai cấp cầm quyền. ở nớc ta, Đảng là lực lợng lãnh đạo Nhà
nớc và toàn xã hội.
Đối với phụ nữ, từ khi ra đời cho đến nay, Đảng luôn dành sự quan
tâm đặc biệt cho phụ nữ, bảo vệ lợi ích chính đáng của phụ nữ trên mọi mặt
của đời sống chính trị - xã hội. Trong Luận cơng Chính trị năm 1930 của
Đảng, t tởng giải phóng phụ nữ và tôn trọng quyền lợi của phụ nữ đã đợc ghi
Bên cạnh đó, pháp luật còn có những quy định về hình thức, biện pháp
xử lý hành vi vi phạm quyền chính trị của phụ nữ. Ví dụ, Điều 126 Bộ luật
Hình sự năm 1999 quy định về các biện pháp chế tài đối với tội xâm phạm
quyền bầu cử, quyền ứng cử của công dân nói chung, trong đó có quyền bầu
cử, ứng cử của phụ nữ nói riêng: "Ngời nào lừa gạt, mua chuộc, cỡng ép hoặc
dùng thủ đoạn khác cản trở việc thực hiện quyền bầu cử, quyền ứng cử của
công dân thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt
tù từ ba tháng đến một năm". Nh vậy, pháp luật đã có những quy định xác lập
và bảo vệ quyền chính trị của phụ nữ. Nhờ đó, từ khi khai sinh nớc Việt Nam
dân chủ cộng hòa, phụ nữ Việt Nam đã đợc giải phóng, đã có quyền tham gia
đời sống chính trị của xã hội
- Ba là, pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ đã động viên, khuyến
khích và tạo cơ sở pháp lý để phụ nữ đấu tranh thực hiện quyền chính trị
của mình.
Pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ không chỉ xác lập địa vị bình
đẳng của phụ nữ trong đời sống chính trị mà là những quy tắc xử sự đợc sử
dụng nh thớc đo chuẩn mực chung, đồng thời có tính chất bắt buộc đối với
mọi thành phần trong xã hội nhằm thực hiện bảo vệ quyền chính trị của phụ
25