Báo cáo "Hướng hoàn thiện pháp luật liên quan đến công ty hợp danh ở Việt Nam hiện nay " pot - Pdf 12



nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học số 3/2004 59 ThS. Vũ Đặng Hải Yến*
t sau khi cú Lut doanh nghip
nm 1999, khỏi nim cụng ti hp danh
ó bt u i vo i sng kinh t - xó hi
Vit Nam.
mt gúc nht nh, i vi cỏc nh
kinh doanh, s ra i ca cụng ti hp danh
c nhỡn nhn nh mt bc tin mi ca
phỏp lut v ch th kinh doanh ti Vit
Nam. Thụng qua vic tỡm hiu phỏp lut v
vic cp nht cỏc thụng tin, gii kinh doanh
hiu rừ v bn cht ca cụng ti hp danh v
cú th t cụng ti hp danh vo cỏc kh
nng la chn hỡnh thc kinh doanh thớch
hp cho mỡnh. Nhng gúc khỏc, trong
con mt ca nhng nh kinh doanh nhng
im yu ca cụng ti hp danh so vi cỏc
loi hỡnh doanh nghip khỏc tr thnh
nguyờn nhõn lm cho h cú th a cụng ti
hp danh ra khi s la chn mụ hỡnh kinh
doanh ca mỡnh. Mt s im yu cú th d
dng nhn thy nh cụng ti hp danh khụng

t mong i. õy chớnh l nguyờn nhõn lm
cho doanh gii t ra khụng b hp dn bi
mụ hỡnh cụng ti hp danh.
Lut doanh nghip ó em li cho khu
vc kinh t t nhõn nhng bc phỏt trin
mi. Tuy nhiờn, s phỏt trin ny khụng
phi l ng u i vi tt c cỏc loi hỡnh
doanh nghip nm trong khu vc kinh t
K

* Ging viờn Khoa phỏp lut kinh t
Trng i hc lut H Ni nghiên cứu - trao đổi
60 Tạp chí luật học số 3/2004
ny. in hỡnh l s ra i ca cỏc cụng ti
hp danh cũn quỏ chm chp, s lng
cụng ti hp danh vn ch dng hai ch s,
so vi cỏc con s hng nghỡn hay hng chc
nghỡn cỏc doanh nghip khỏc trong cựng
khu vc kinh t t nhõn trờn phm vi ton
quc. Lớ do ca vic cú quỏ ớt cỏc cụng ti
hp danh c ng kớ kinh doanh trong
thi gian va qua l rt a dng. Mt trong
nhng lớ do cú th nhn thy rừ rng nht,
ú l phỏp lut v kinh t thc s cha ng
b to ra mụi trng thụng thoỏng thc
s cho cỏc ch u t. Thc t cỏc quy nh
phỏp lut liờn quan n doanh nghip hin

phn khụng nh to nờn thc trng ú. Mt
s gii phỏp sau õy cú th gúp phn hon
thin nhng quy nh hin ti ca phỏp lut
liờn quan n loi hỡnh cụng ti hp danh vi
mc ớch lm cho loi hỡnh cụng ti ny cú
th phỏt huy c ht kh nng v chng t
c vai trũ quan trng ca nú i vi s
nghip phỏt trin kinh t ca Vit Nam
trong tng lai gn.
1. Sa i cỏc quy nh phỏp lut liờn
quan nhm to iu kin cho cụng ti hp
danh c tham gia mt cỏch rng rói
vo tt c cỏc hot ng kinh doanh
Cụng ti hp danh c Lut doanh
nghip nm 1999 ghi nhn vi t cỏch l
mt ch th kinh doanh, ng ngha vi
vic cụng ti hp danh cú quyn c t do
kinh doanh. Tuy nhiờn, xột trong phm vi
hp thỡ cỏc vn bn phỏp lut kinh t hin
hnh ca Vit Nam tn ti nhng quy nh
bú hp quyn hot ng kinh doanh ny ca
cụng ti hp danh. Ging nh doanh nghip
t nhõn, cụng ti hp danh khụng c phỏp
lut quy nh cú t cỏch phỏp nhõn - õy l
hai loi hỡnh doanh nghip duy nht trong
s cỏc doanh nghip khụng c phỏp lut
Vit Nam tha nhn cú t cỏch phỏp nhõn.
Vic cú hay khụng cú t cỏch phỏp nhõn l
iu kin ht sc quan trng xem xột


trạng này, cần phải có những sửa đổi, bổ
sung một số quy định cần thiết vào hệ thống
pháp luật kinh tế, nhất là bỏ yêu cầu một
bên của hợp đồng kinh tế luôn luôn phải là
pháp nhân, để các loại hình doanh nghiệp
không có tư cách pháp nhân như công ti
hợp danh vẫn được quyền tham gia rộng rãi
vào việc thực hiện các hành vi kinh doanh.
Việc công ti hợp danh không có tư cách
pháp nhân còn dẫn đến vấn đề bất hợp lí
nữa liên quan đến tư cách thương nhân của
loại hình công ti này. Luật thương mại Việt
Nam năm 1997 quy định các chủ thể có thể
trở thành thương nhân chỉ bao gồm: Pháp
nhân, cá nhân, hộ gia đình và tổ hợp tác.
Theo quy định này thì không bao giờ công
ti hợp danh có thể trở thành thương nhân
theo quy định của Luật thương mại. Có
chăng chỉ là các thành viên hợp danh, một
khi đáp ứng đủ điều kiện của Luật thương
mại về thương nhân thì còn có khả năng trở
thành thương nhân. Hành vi thương mại
thực chất là một phần đặc thù của hành vi
kinh doanh, quá trình hoạt động thương mại
cũng nằm trong quá trình hoạt động kinh
doanh, vì thế mà chủ thể của các hành vi
kinh doanh cũng đồng thời phải được công
nhận là chủ thể của các hành vi thương mại.
Một cách cụ thể hơn, nếu một đối tượng đã
có tư cách chủ thể kinh doanh thì đương

thứ hai có thêm các thành viên góp vốn.
Quy định như vậy sẽ dẫn đến một số khó
khăn nhất định khi xem xét các trường hợp
giải thể bắt buộc của công ti hợp danh. Một
trong những trường hợp giải thể bắt buộc
cho doanh nghiệp nói chung là trong thời
hạn 6 tháng liên tiếp không có đủ số lượng
thành viên tối thiểu theo quy định của Luật
doanh nghiệp. Đó là quy định chung cho tất
cả các loại hình doanh nghiệp hoạt động
theo Luật doanh nghiệp. Quy định này áp
dụng cho các doanh nghiệp khác rất đơn
giản, chỉ cần dựa vào số lượng thành viên
tối thiểu mà Luật yêu cầu, chẳng hạn như
đối với công ti trách nhiệm hữu hạn nhiều
thành viên thì số lượng thành viên tối thiểu
phải có là 2 thành viên; công ti cổ phần là 3
thành viên Nhưng đối với trường hợp
công ti hợp danh thì lại có những khác biệt.
Có một số ý kiến cho rằng công ti hợp danh
sẽ chỉ bị giải thể nếu không đủ số lượng
thành viên hợp danh tối thiểu (2 thành viên)
còn việc công ti có hay không có thành viên
góp vốn hoàn toàn không ảnh hưởng gì đến
việc tiếp tục tồn tại của công ti. Tuy nhiên,
hầu như tất cả các nước có quy định về loại
hình công ti hợp danh đều phân chia rõ ràng
2 loại công ti mang bản chất hợp danh là
công ti hợp danh thông thường và công ti
hợp danh hữu hạn. Hai loại công ti này về

thể quy định thêm một số trường hợp
chuyển đổi công ti hợp danh từ loại hữu hạn
sang loại thông thường và ngược lại (nếu có
thay đổi nhân sự trong quá trình hoạt động). nghiªn cøu - trao ®æi
T¹p chÝ luËt häc sè 3/2004 63

3. Quy định rõ một số vấn đề liên
quan đến quyền và nghĩa vụ của thành
viên góp vốn
Khi quy định về thành viên góp vốn,
Luật doanh nghiệp cũng quy định những
giới hạn quyền của họ nhưng chưa có chế
tài xử lí và chưa dự liệu đầy đủ những
trường hợp vi phạm như trong luật về công
ti hợp danh của những nước khác trên thế
giới. Luật mới chỉ dừng lại ở chỗ không cho
phép thành viên góp vốn được tham gia
quản lí công ti và nhân danh công ti khi
giao dịch với bên thứ ba. Quy định sơ sài
như vậy có thể dẫn đến tình hình là một
trong các thành viên góp vốn vượt quá thẩm
quyền của mình trong công ti hợp danh.
Vấn đề này sẽ xử lí như thế nào? Theo các
quy định liên quan của pháp luật hiện hành,
một hành vi kiểu như vậy sẽ bị coi là không
có hiệu lực (vì người thực hiện nó không có
thẩm quyền để thực hiện). Nếu xét về quyền

- trước mọi khoản nợ, mọi rủi ro phát sinh
từ thương vụ đó.
Một vấn đề nữa liên quan đến thành viên
góp vốn, đó là việc chuyển nhượng vốn góp
đối với thành viên góp vốn. Nghị định của
Chính phủ số 03/NĐ-CP ngày 3/2/2000 có
quy định thành viên góp vốn được tự do
chuyển nhượng vốn cho người khác trừ
trường hợp điều lệ công ti quy định khác.
Như vậy, việc chuyển nhượng vốn của thành
viên góp vốn cũng hoàn toàn phụ thuộc vào
các thành viên hợp danh. Nếu như các thành
viên hợp danh cùng nhau thoả thuận những
điều kiện vô cùng khắt khe trong Điều lệ
nhằm hạn chế sự chuyển nhượng vốn của
thành viên góp vốn thì thành viên góp vốn
cũng không có một chỗ dựa pháp lí nào để tự
bảo vệ quyền lợi của mình. Thành viên góp
vốn phụ thuộc hoàn toàn vào thành viên hợp
danh. Điều này là bất hợp lí, bởi vì nếu xét về
bản chất thì các thành viên hợp danh mới là
yếu tố quyết định của công ti hợp danh, mới
cần có sự hiện diện của yếu tố nhân thân còn nghiªn cøu - trao ®æi
64 T¹p chÝ luËt häc sè 3/2004
các thành viên góp vốn chẳng qua chỉ hiện
diện thông qua phần vốn góp của mình, các
thành viên này không có quyền quản lí công

làm luật quá chú trọng đến điểm này, vì thế
coi việc góp vốn, sở hữu vốn góp với việc
trở thành thành viên công ti hoàn toàn khác
nhau. Điều 31 Nghị định số 03/2000/NĐ-CP
ngày 3/2/2000 của Chính phủ quy định tư
cách thành viên của công ti hợp danh sẽ
chấm dứt khi thành viên đó chết hoặc bị toà
án tuyên bố là đã chết hoặc bị mất tích
nhưng lại không quy định là phần vốn của
thành viên trong những trường hợp này có
thể để thừa kế hay không. Về nguyên tắc,
nếu phần vốn đó không phải mang ra để
chịu trách nhiệm tương ứng đối với các
nghĩa vụ của công ti thì người thừa kế của
thành viên đó vẫn có quyền thừa kế. Tuy
nhiên, để trở thành thành viên công ti hợp
danh, những người tiếp nhận phần vốn góp
lại phải được các thành viên hợp danh chấp
nhận, nếu không, họ sẽ buộc phải bán lại
phần vốn góp của mình cho công ti hoặc
cho người khác. Luật sẽ giải quyết như thế
nào trong trường hợp người đó không bán
được phần vốn của mình (công ti không có
khả năng mua và những người khác cũng
không muốn mua)? Họ có thể được coi là
chủ nợ của công ti hay bắt buộc phải tìm
người mua khác? Rõ ràng quy định này đã
cố gắng tạo những thuận lợi cho thành viên
công ti hợp danh nhưng lại gây khó khăn
cho họ khi chuyển nhượng vốn. Vì vậy, cần


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status