Hoàn thiện pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo ở Việt Nam hiện nay - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
*** HỒ THỊ THU AN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TỐ CÁO VÀ
GIẢI QUYẾT TỐ CÁO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS PHẠM HỒNG THÁI HÀ NỘI - 2009


giải quyết tố cáo hành chính
1.3.3. Hoàn thiện pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo hành chính
là yêu cầu cấp thiết trong tình hình hiện nay
1.4. Pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo của một số nước trên thế
giới
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TỐ CÁO VÀ GIẢI QUYẾT
TỐ CÁO HÀNH CHÍNH
2.1. Tình hình tố cáo, giải quyết tố cáo hành chính từ 1999 đến nay
2.1.1. Khái quát về tình hình tố cáo
2.1.2. Kết quả giải quyết tố cáo
2.1.3. Nguyên nhân chủ yếu

Trang
1
7

7
7
7
13
16
19

19

22
23 24

3.1 Quan điểm hoàn thiện pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo
hành chính
3.1.1. Hoàn thiện pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo hành chính
phải bảo đảm cho công dân có quyền tố cáo
3.1.2. Hoàn thiện pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo hành chính
phải bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của việc giải quyết tố cáo
3.1.3. Hoàn thiện pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo hành chính
phải bảo đảm trách nhiệm của các cơ quan hành chính trong việc
giải quyết tố cáo
3.1.4. Hoàn thiện pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo hành chính
phải bảo đảm yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền của nhân
dân, do nhân dân và vì nhân dân; yêu cầu cải cách nền hành chính
nhà nước
3.2. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về tố cáo và giải quyết tố
cáo hành chính
3.2.1. Rà soát các quy định của pháp luật hiện hành về tố cáo và giải
quyết tố cáo hành chính
3.2.2. Tổng kết thực tiễn việc thực hiện pháp luật về tố cáo và giải
quyết tố cáo hành chính
3.2.3. Hoàn thiện quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo hành chính
thông qua ban hành Luật tố cáo và giải quyết tố cáo
3.2.4. Nghiên cứu và hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến
công tác giải quyết tố cáo
3.2.5. Nâng cao chất lượng, trình độ xây dựng pháp luật về tố cáo và
giải quyết tố cáo hành chính
3.2.6. Nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm với các nước về giải quyết tố
cáo
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
48


100

101

104
107 MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của Đề tài
Trong số các quyền cơ bản của con người về chính trị, kinh tế, văn hóa,
xã hội thì quyền khiếu nại, quyền tố cáo có vị trí quan trọng và liên quan chặt
chẽ tới các quyền cơ bản khác. Nghiên cứu lịch sử dân tộc ta cho thấy, các triều
đại phong kiến hưng thịnh trước đây đều chú ý đảm bảo cho người dân thực
hiện quyền khiếu nại, quyền tố cáo. Quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp
luật, quyền tố cáo đã sớm được ghi nhận tại Hiến pháp và trở thành một trong
những quyền cơ bản của công dân. Điều 74 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam quy định:
Công dân có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan nhà
nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan
nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị lực lượng vũ trang
nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào. Việc khiếu nại, tố cáo phải được
cơ quan nhà nước xem xét, giải quyết trong thời hạn pháp luật quy
định.
Thực hiện quyền khiếu nại, quyền tố cáo là phương thức để nhân dân
giám sát và tham gia vào hoạt động của các cơ quan nhà nước. Vì vậy, giải
quyết khiếu nại, tố cáo là bảo đảm quyền dân chủ nhân dân, xây dựng nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phòng chống các hành vi tham nhũng, tiêu
cực, góp phần phát triển kinh tế – xã hội.

nại, tố cáo và thủ tục giải quyết các vụ án hành chính theo hướng
công khai, đơn giản, thuận lợi cho dân, đồng thời bảo đảm tính
thông suốt, hiệu quả của quản lý hành chính [11, tr. 4].
Trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền, việc nghiên cứu những
vấn đề lý luận – thực tiễn về tố cáo và giải quyết tố cáo để góp phần hoàn
thiện quy phạm pháp luật có liên quan có ý nghĩa rất quan trọng trên các bình
diện lập pháp, thực tiễn và lý luận. Từ những phân tích trên cho thấy nghiên

3
cứu đề tài “Hoàn thiện pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo ở Việt Nam
hiện nay” là cần thiết.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hoàn thiện pháp luật về khiếu nại, tố cáo là vấn đề được những người làm
công tác nghiên cứu, xây dựng pháp luật quan tâm, đặc biệt là những người làm
công tác thanh tra. Trong phạm vi và mức độ nhất định đã có nhiều bài viết,
công trình nghiên cứu liên quan tới đề tài này. Cụ thể là:
- Về đề tài nghiên cứu khoa học: Đề tài cấp bộ: “Giải quyết khiếu tố của
nhân dân- thực trạng giải pháp và những bài học kinh nghiệm” (Đề tài nghiên
cứu khoa học của Khoa Nhà nước và Pháp luật, Học viện chính trị Quốc gia Hồ
Chí Minh). Đề tài “Cải cách thủ tục hành chính trong tổ chức công tác tiếp
dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo” (Chủ nhiệm - đồng chí Lê Đình Đấu- Vụ
trưởng Vụ xét khiếu tố, Thanh tra Nhà nước)
- Về luận văn: “Hoàn thiện pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo của công
dân trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay”, Luận
văn thạc sĩ Luật học, của Mai Thị Chung, 2001; “ Một số giải pháp nhằm tăng
cường hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo”, Luận văn thạc sĩ Luật
học, của Phạm Văn Long; “ Hòan thiện sự điều chỉnh pháp luật về thẩm quyền
và thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo ở Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ Luật học,
của Ngô Mạnh Toan”…
- Về các công trình đăng trên các tạp chí: “Những kinh nghiệm rút ra qua

trạng quy định pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo.
- Đề xuất các quan điểm, giải pháp và nội dung hoàn thiện pháp luật về
tố cáo và giải quyết tố cáo trong điều kiện hiện nay.
4. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo có phạm vi rộng, bao gồm cả tố
cáo, giải quyết tố cáo trong tố tụng hình sự, hành chính, lao động và việc giải
quyết tố cáo có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên, trong khuôn khổ nghiên cứu của
luận văn, tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu làm rõ vấn đề tố cáo và giải quyết tố cáo

5
hành chính (tố cáo đối với cán bộ, công chức trong cơ quan hành chính nhà
nước)
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lê
Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về Nhà
nước và pháp luật, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam.
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng của triết
học Mác- Lênin và những phương pháp cụ thể như: phân tích, so sánh, tổng
hợp, thống kế, tổng kết thực tiễn.
6. Đóng góp của luận văn
Mặc dù đã có một số đề tài đề cập tới việc hoàn thiện pháp luật về khiếu
nại, tố cáo, nâng cao chất lượng hiệu quả công tác giải quyết tố cáo, nhưng
trong điều kiện xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, tăng
cường hội nhập quốc tế hiện nay, thông qua việc nghiên cứu đề tài, tác giả đi
sâu làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn giải quyết tố cáo trong lĩnh vực
hành chính. Từ đó, đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp
luật về tố cáo và giải quyết tố cáo hành chính; sửa đổi, bổ sung các quy định
pháp luật cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn công tác giải quyết tố cáo và thông

1.1.1.1.Khái niệm tố cáo hành chính
Để cai trị đất nước, các bậc vua anh minh trong thời kỳ phong kiến ở
nước ta đều dựa vào dân và coi chính sách an dân là chiến lược quan trọng
trong quá trình cai trị đất nước của mình. Một số triều đình phong kiến đã tạo
điều kiện để người dân có thể dễ dàng bày tỏ nguyện vọng của mình với các
quan lại, triều đình. Cụ thể là:
"Năm 1158 đời Vua Lý Anh Tông (1137-1175), nhà Vua ra lệnh cho
đặt một cái hòm ở giữa sân để ai muốn trình bày việc gì thì bỏ thư vào hòm ấy"
[6, tr. 22]. Đến đời nhà Trần đặt ra ngự sử đài - một cơ quan chuyên trách có
nhiệm vụ "Đàn hặc các quan, nói bàn về chính sự hiện thời, phàm các quan làm
trái phép, chính sự hiện thời có thiếu sót đều được xét hoặc trình bày, cũng là
xét bàn về thành tích của các nha môn, đề lĩnh, phủ doãn, trần thủ, thừa ty và
xét hỏi các vụ kiện về người quyền quý ở kinh ức hiếp, về người cai quản hà
lạm" [2, tr. 357]. Thời kỳ Lê – Trịnh đặt ra ngự sử đài – có nhiệm vụ tai mắt
cho Nhà nước, cốt để dấy nhức kỷ cương và làm gương về việc can gián. Phàm
các hàng tể tướng và võ tướng có điều lầm lỗi, bách quan có điều trái phép và
chính sự có điều thiếu sót thì cho trình bày, tâu hặc[13, tr. 129]. Một số nhà
nước phong kiến đã ban hành luật lệ và nhiều bản quy định việc gửi đơn thư
của thần dân và quy định trách nhiệm của quan lại trong việc xem xét, giải
quyết các khiếu nại, tố cáo của người dân, trong đó phải kể đến bốn bộ luật có
quy mô tương đối lớn, có nội dung phong phú và đa dạng là: Bộ luật Hình thư,
ban hành vào năm 1024; Bộ Quốc triều Hình luật của thời Trần năm 1341; Bộ
luật Hồng Đức thời Lê năm 1483 và Bộ luật Gia long của thời Nguyễn năm
1815. Ngoài ra còn có Bộ luật Khám tụng điều lệ ban hành vào thời Hậu Lê

8
năm 1777, ghi nhiều điều, khoản quy định giải quyết nại, tố cáo và kiện tụng
của nhân dân. Như vậy, tố cáo có từ xa xưa và gắn liền với sự phát triển của các
nhà nước. Song do pháp luật trong thời kỳ phong kiến chưa phát triển cho nên
giải quyết tố cáo thường mang trong nó lượng thông tin về sự không công bằng

công dân phát hiện và báo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền để ngăn chặn,
phòng ngừa hành vi vi phạm pháp luật và xử lý người vi phạm. Luật Khiếu
nại, tố cáo quy định tố cáo là việc công dân, theo thủ tục do Luật này quy định
báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp
luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt
hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ
chức. Đối với khiếu nại thì nhằm bảo vệ hoặc khôi phục các quyền hoặc lợi ích
của chính chủ thể khiếu nại khi bị vi phạm, do đó nếu các quyền này bị xâm hại
hoặc bị đe dọa xâm hại sẽ dẫn đến khiếu nại. Như vậy, những hành vi bị tố cáo
thường có tính chất nguy hiểm cho xã hội hơn so với khiếu nại. Chính vì khiếu
nại và tố cáo không giống nhau cho nên Pháp lệnh giải quyết khiếu nại, tố cáo
trước đây và Luật Khiếu nại, tố cáo hiện hành đã quy định thẩm quyền, trình tự,
thủ tục giải quyết tố cáo khác với thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết khiếu
nại. Tuy nhiên, điểm khác nhau cơ bản giữa tố cáo và khiếu nại là:
Về chủ thể: chủ thể của tố cáo là công dân, trong khi đó chủ thể khiếu
nại bao gồm công dân, cơ quan, tổ chức.
Về đối tượng: đối tượng bị khiếu nại gồm quyết định hành chính, hành vi
hành chính của các cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán
bộ, công chức, còn đối tượng của tố cáo rộng hơn, bao gồm hành vi vi phạm
pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa
gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ
quan, tổ chức.
Về mục đích: mục đích của tố cáo là bảo vệ lợi ích của nhà nước,
quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức, trong khi đó khiếu nại
nhằm bảo vệ hoặc khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại.
Theo quy định pháp luật, Tố cáo là việc công dân theo thủ tục Luật
Khiếu nại, tố cáo quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền

10
biết về hành vi vi phạm của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại

thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ
quan, tổ chức.
Quy định thẩm quyền giải quyết tố cáo của cơ quan hành chính nàh nước
xuất phát từ cơ sở: tố cáo phát sinh trong quá trình các cơ quan hành chính nhà
nước thực hiện hoạt động chấp hành và điều hành,quản lý nhà nước, thực hiện
quyền hành pháp. Do đó, trước hết các cơ quan hành chính nhà nước phải có
trách nhiệm giải quyết những vấn đề phát sinh do chính hoạt động quản lý của
mình gây ra. Hơn nữa, trách nhiệm này xuất phát từ chính yêu cầu tự thân của
quản lý hành chính nhà nước và vai trò của hoạt động giải quyết tố cáo đối với
hoạt động chấp hành và điều hành.
* Phân biệt tố cáo hành chính và tố cáo tư pháp
Quan hệ giữa cơ quan hành chính và cơ quan tư pháp là mối quan hệ
phân công, phối hợp trong việc việc thực hiện quyền hành pháp và quyền tư
pháp. Quyền hành pháp được thực hiện bởi cơ quan hành chính nhà nước thông
qua hoạt động chấp hành và điều hành, là quá trình thực thi pháp luật và tổ
chức thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng và
đối ngoại của Nhà nước. Quyền tư pháp được thực hiện bởi các cơ quan tư
pháp (Công an,Toà án, Kiểm sát, Thi hành án ) thông qua hoạt động điều tra,
truy tố, xét xử, thi hành án. Mối quan hệ giữa cơ quan hành chính và cơ quan tư
pháp trong việc giải quyết tố cáo thông qua việc xem xét, xử lý hành vi phạm
pháp luật xảy ra trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước. Nếu hành vi vi
phạm pháp luật chưa đến mức cấu thành tội phạm thì thuộc thẩm quyền của cơ
quan hành chính nhà nước, nếu đến mức đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì thuộc
thẩm quyền của cơ quan tư pháp. Để đánh giá, kết luận hành vi vi phạm pháp
luật có đủ yếu tố cấu thành tội phạm hay không phải căn cứ vào tính chất, mức
độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm phạm pháp luật. Những tính tiết
sau đây phản ánh tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm
pháp luật: hình thức của hành vi vi phạm, hậu quả (thiệt hại vật chất, tinh thần),
lỗi của người vi phạm, hoàn cảnh xảy ra vi phạm, địa điểm vi phạm, nhân thân
người vi phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ v.v.
13
1.1.1.2. Khái niệm giải quyết tố cáo hành chính
Hiến pháp năm 1980 quy định "Mọi hành động xâm phạm quyền lợi ích
chính đáng của công dân phải được kịp thời sửa chữa và xử lý nghiêm
minh…Nghiêm cấm trả thù người khiếu nại, tố cáo". Để thể chế hóa quyền
khiếu nại, tố cáo trong Hiến pháp này, ngày 27 tháng 11 năm 1981, Hội đồng
Nhà nước (nay là Ủy ban Thường vụ Quốc hội) đã ban hành Pháp lệnh Xét và
giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân quy định về quyền khiếu nại, tố cáo;
thẩm quyền và trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo v.v và việc kiểm tra công
tác xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Pháp lệnh Thanh tra cũng quy định các cơ
quan thanh tra nhà nước có nhiệm vụ xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo. Nhìn
chung, việc giải quyết tố cáo đã được đề cập trong nhiều văn bản pháp luật,
song các văn bản pháp luật trước đây mới chỉ đề cập đến việc "xét, giải quyết
khiếu nại, tố cáo" nói chung.
Để nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, Pháp lệnh
Khiếu nại, tố cáo của công dân năm 1991 ra đời thay thế Pháp lệnh Xét và giải
quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân. Căn cứ vào tên gọi của Pháp lệnh này
chúng ta sẽ thấy rằng có sự thay đổi trong quan niệm về việc giải quyết khiếu
nại, tố cáo. Pháp lệnh năm 1991 không chỉ quy định việc xét và giải quyết
khiếu nại, tố cáo là trách nhiệm và thẩm quyền của các cơ quan nhà nước mà
còn quy định nhiều vấn đề khác xung quanh quyền khiếu nại, tố cáo. Với tên
gọi mới, Pháp lệnh thể hiện được tính toàn diện hơn của nguyên tắc pháp lý
quyền lợi đi đôi với nghĩa vụ, sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ, khắc phục
được hạn chế trước đây là chỉ nhấn mạnh đến việc xét và giải quyết. Mặc dù đã
có được những tiến bộ rõ rệt, song Pháp lệnh năm 1991 cũng chưa phân biệt và
giải thích rõ thế nào là "giải quyết khiếu nại", "giải quyết tố cáo", mới chỉ lược
bỏ việc "xét" trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Hiến pháp năm 1992 ra đời đã xác định việc khiếu nại, tố cáo phải được

quy định của pháp luật nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền và
lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức.
- Phân biệt giải quyết tố cáo hành chính và giải quyết khiếu nại hành
chính

15
Theo Luật Khiếu nại, tố cáo thì giải quyết tố cáo là việc xác minh, kết
luận về nội dung tố cáo và ra quyết định xử lý của người giải quyết tố cáo, giải
quyết khiếu nại hành chính là việc xác minh, kết luận và ra quyết định giải
quyết của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại hành chính.
Như vậy, giải quyết khiếu nại và giải quyết tố cáo có điểm chung là cơ
quan nhà nước có thẩm quyền đều phải thực hiện hoạt động xác minh, kết luận
và ra quyết định để xử lý vụ việc - quyết định này bằng văn bản. Tuy nhiên, do
tố cáo có những điểm khác so với khiếu nại đến việc giải quyết tố cáo cũng có
những điểm khác so với giải quyết khiếu nại. Cụ thể là:
+ Chủ thể giải quyết khiếu nại, tố cáo: Đối với tố cáo, việc giải quyết
thuộc thẩm quyền của nhiều cơ quan khác nhau. Theo quy định của pháp luật
hiện hành thì tố cáo hành vi vi phạm pháp luật mà nội dung liên quan đến chức
năng quản lý nhà nước của cơ quan nào thì cơ quan đó có trách nhiệm giải
quyết. Tố cáo hành vi phạm tội sẽ do các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết
theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Đối với khiếu nại, chủ thể giải
quyết khiếu nại hành chính là các cơ quan hành chính nhà nước.
+ Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo: Theo quy định của Luật
Khiếu nại, tố cáo thì điểm khác nhau cơ bản trong trình tự, thủ tục giải quyết
khiếu nại và giải quyết tố cáo là để giải quyết tố cáo, kết quả của việc giải
quyết tố cáo là xử lý người có hành vi vi phạm - có thể là một quyết định xử
phạt, quyết định kỷ luật hoặc một bản án hình sự của tòa án. Vì vậy, để giải
quyết tố cáo thì người có trách nhiệm phải ban hành quyết định xử lý tố cáo.
Ngoài ra, xuất phát từ đặc thù của tố cáo là việc công dân "báo" cho cơ quan
nhà nước biết về hành vi vi phạm pháp luật, cho nên pháp luật quy định riêng

buộc chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, được xác định chặt chẽ về hình
thức thể hiện ý chí nhà nước của giai cấp thống trị trên cơ sở ghi nhận các nhu
cầu, các lợi ích của toàn xã hội, được nhà nước đảm bảo thực hiện nhằm điều
chỉnh các quan hệ xã hội vì sự trật tự, ổn định, phát triển bền vững của xã hội,
bảo đảm và bảo vệ các quyền con người.”[19]

17
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người đã có thời kỳ không có
pháp luật. Đó là thời kỳ công xã nguyên thủy khi đó chỉ có những quy tắc tập
quán điều chỉnh quan hệ giữa người với nhau. Theo quan điểm của học thuyết
Mác - Lênin về nhà nước và pháp luật thì pháp luật chỉ phát sinh và tồn tại
trong xã hội có giai cấp. Pháp luật là hiện tượng đặc thù của đời sống xã hội có
giai cấp, là người bạn đồng hành của Nhà nước, nó là công cụ đặc thù riêng của
Nhà nước để thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình. Tính giai cấp, tính xã hội
là thuộc tính vốn có của pháp luật, cho dù pháp luật đó là pháp luật chủ nô,
phong kiến hay tư bản, xã hội chủ nghĩa. Nhà nước do giai cấp thống trị lập ra
và Nhà nước đặt ra các quy định pháp luật, do vậy trước hết pháp luật thể hiện
ý chí của giai cấp thống trị đối với toàn xã hội.
Tính giai cấp của pháp luật còn thể hiện qua việc điều chỉnh các mối
quan hệ trong xã hội của pháp luật. Trong xã hội có thể có nhiều quy ước, tập
quán khác nhau, thể hiện ý chí và nguyện vọng của các nhóm người trong xã
hội, song chỉ có pháp luật do nhà nước đặt ra là có giá trị áp dụng chung đối với
mọi người trong xã hội đó. Chính vì vậy mà C. Mác - Ph. Ăngghen cho rằng,
"pháp luật tư sản chẳng qua chỉ là ý chí của giai cấp tư sản đề lên thành luật, cái
ý chí mà nội dung của nó là do điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp tư sản
quyết định" [16, tr. 262]. Mặc dù có thuộc tính trên, song pháp luật cũng thể
hiện ý chí của giai cấp khác trong xã hội, bởi vì pháp luật do nhà nước ban
hành và đại diện cho toàn xã hội. Như vậy có thể nói rằng, pháp luật vừa mang
tính giai cấp, vừa mang tính xã hội và những thuộc tính này có mối liên hệ chặt
chẽ với nhau. Tuy nhiên, trong mỗi giai đoạn cụ thể của lịch sử thì tính giai cấp

hẹp và trong khuôn khổ các quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo và Nghị định
số 136/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo và các luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Khiếu nại, tố cáo, bao gồm các vấn đề liên quan đến chủ thể có quyền
tố cáo; quyền và nghĩa vụ của người tố cáo, người bị tố cáo; thẩm quyền giải
quyết; trình tự, thủ tục tố cáo, giải quyết tố cáo và việc xử lý các vi phạm pháp
luật về tố cáo và giải quyết tố cáo. 19
1.2. Nội dung và vai trò của pháp luật về tố cáo hành chính và giải
quyết tố cáo hành chính
1.2.1. Nội dung của pháp luật về tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo
hành chính
Nghiên cứu các văn bản pháp luật hiện hành cho thấy các quy định
pháp luật về tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính thể hiện các nội
dung cơ bản sau đây:
Thứ nhất, pháp luật tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính
quy định quyền, nghĩa vụ của người tố cáo, người bị tố cáo và người giải quyết
tố cáo: Theo quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo thì công dân có quyền tố cáo
với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về hành vi trái pháp luật của
bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi
ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.
Để công dân thực hiện quyền tố cáo, Luật Khiếu nại, tố cáo quy định cụ thể các
quyền và nghĩa vụ của người tố cáo. Theo đó, người tố cáo có quyền gửi đơn
hoặc trực tiếp tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền; yêu cầu giữ
bí mật họ, tên, địa chỉ, bút tích của mình; yêu cầu được thông báo kết quả giải
quyết tố cáo; yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền bảo vệ khi bị đe dọa, trù
dập, trả thù. Luật Khiếu nại, tố cáo cũng quy định về các nghĩa vụ của người tố
cáo như trình bày trung thực về nội dung tố cáo; nêu rõ họ, tên, địa chỉ của

quyết. Ngoài ra, Luật khiếu nại, tố cáo còn quy định: tố cáo hành vi vi phạm
pháp luật mà nội dung liên quan đến chức năng quản lý nhà nước của cơ quan
nào thì cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết. Tố cáo hành vi phạm tội do các
cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết theo quy định của pháp luật tố tụng hình
sự.
Người đứng đầu cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giải quyết tố cáo
thuộc thẩm quyền; trong trường hợp cần thiết thì giao cho cơ quan thanh tra
hoặc cơ quan có thẩm quyền khác tiến hành thẩm tra, xác minh, kết luận và
kiến nghị biện pháp xử lý tố cáo. Chánh thanh tra các cấp có thẩm quyền xác
minh, kết luận nội dung tố cáo, kiến nghị biện pháp xử lý tố cáo thuộc thẩm
quyền giải quyết của thủ trưởng cơ quan cùng cấp khi được giao; xem xét, kết
luận nội dung tố cáo mà thủ trưởng cơ quan cấp dưới trực tiếp của thủ trưởng

21
cơ quan cùng cấp đã giải quyết nhưng có vi phạm pháp luật; trong trường hợp
kết luận việc giải quyết tố cáo có vi phạm pháp luật thì kiến nghị người đã giải
quyết xem xét, giải quyết lại.
Tổng Thanh tra có thẩm quyền xác minh, kết luận nội dung tố cáo, kiến
nghị biện pháp xử lý tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của Thủ tướng Chính
phủ khi được giao; xem xét kết luận về nội dung tố cáo mà Bộ trưởng, thủ
trưởng cơ quan ngang Bộ, thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh đã giải quyết nhưng có vi phạm pháp luật; trong trường
hợp kết luận việc giải quyết có vi phạm pháp luật thì kiến nghị người đã giải
quyết xem xét, giải quyết lại.
Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo việc giải quyết những tố cáo mà nội dung
đặc biệt phức tạp; quyết định xử lý tố cáo mà Tổng thanh tra đã kết luận, kiến nghị
theo quy định trên.
Thứ ba, pháp luật về tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính
quy định thủ tục đối với việc tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính:
Theo quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo thì khi phát hiện hành vi vi phạm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status