LUẬN VĂN: Hoàn thiện pháp luật phòng, chống mua bán phụ nữ, trẻ em ở Việt Nam hiện nay - Pdf 15



LUẬN VĂN:

Hoàn thiện pháp luật phòng, chống mua
bán phụ nữ, trẻ em ở Việt Nam hiện nay
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết phải nghiên cứu đề tài
Mua bán phụ nữ, trẻ em là một vấn nạn có tính toàn cầu và đang có xu hướng gia
tăng đáng lo ngại trên phạm vi toàn thế giới, mà Việt Nam không phải là ngoại lệ. Mặc

Vấn đề phòng chống mua bán phụ nữ, trẻ em được một số nhà lý luận và cán bộ
hoạt động thực tiễn quan tâm, nên cho đến nay đã có một số công trình nghiên cứu, trong
đó phải kể đến các công trình sau:
- Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam: "Chương trình hành động về phòng chống nạn
buôn bán phụ nữ, trẻ em ở Việt Nam (1999 - 2002)", Nhà xuất bản Phụ nữ, Hà Nội, 1999;
- Vũ Ngọc Bình: "Phòng, chống buôn bán và mại dâm trẻ em", Nhà xuất bản
Công an nhân dân, Hà Nội, 2002;
- Bộ Tư pháp: "Báo cáo đánh giá hệ thống pháp luật của Việt Nam trên tinh thần
các nghị định thư của Liên hợp quốc về phòng, chống buôn bán người và di cư trái phép,
bổ sung Công ước Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia", Nhà
xuất bản Tư pháp, Hà Nội, 2004;
- Đỗ Thị Thơm: "Hoàn thiện pháp luật về quyền trẻ em ở Việt Nam hiện nay",
Luận văn thạc sĩ luật học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2003;
- Nguyễn Quang Dũng: "Tình hình tội phạm mua bán phụ nữ qua biên giới nước
ta và hoạt động phòng ngừa của bộ đội biên phòng", Tạp chí Công an nhân dân, số 7,
2003;
- Phạm văn Hùng: "Quán triệt chương trình hành động phòng, chống tội phạm
buôn bán phụ nữ, trẻ em từ năm 2004-2010", Tạp chí Công an nhân dân, số 10, 2004;
- Đặng Xuân Khang: "Tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em qua biên giới Việt Nam
- thực trạng và giải pháp", Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, Bộ Công an, 2004
Bên cạnh đó, còn có một số luận văn cao học luật và các bài nghiên cứu đăng trên
các tạp chí chuyên ngành như Công an nhân dân, Cảnh sát nhân dân, Kiểm sát đề cập đến
phòng chống tội phạm mua bán phụ nữ trẻ em.

Các công trình, bài viết nêu trên bước đầu đã khái quát tình hình mua bán phụ
nữ, trẻ em ở Việt Nam, đồng thời đề cập đến cơ sở pháp luật về công tác phòng, chống
tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em, qua đó nêu ra những bất cập, thiếu sót và đề xuất các
giải pháp hoàn thiện những văn bản pháp luật này. Do cách thức tiếp cận và mục đích
nghiên cứu khác nhau nên các công trình đó mới dừng lại ở các góc độ nhất định và vẫn
chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về pháp luật phòng,

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước ta về phòng,
chống mua bán phụ nữ, trẻ em; đồng thời, trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả sử
dụng các phương pháp nghiên cứu của chuyên ngành lý luận chung về nhà nước và pháp
luật và các phương pháp nghiên cứu, cụ thể như: phân tích, tổng hợp, tư vấn, thống kê, so
sánh, đối chiếu luật, tổng kết thực tiễn
6. Những đóng góp và ý nghĩa của luận văn
Là công trình chuyên khảo nghiên cứu một cách có hệ thống và tương đối toàn
diện về hoàn thiện pháp luật phòng, chống mua bán phụ nữ, trẻ em, nên kết quả nghiên
cứu của luận văn có những nội dung được coi là mới, có đóng góp cho khoa học chuyên
ngành, cụ thể là:
- Xây dựng khái niệm mua bán phụ nữ, trẻ em theo pháp luật Việt Nam và theo
tinh thần của Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia
năm 2000 và các nghị định thư bổ sung công ước.
- Xác định các tiêu chí hoàn thiện pháp luật phòng, chống mua bán phụ nữ, trẻ em.
- Phân tích, đánh giá có hệ thống pháp luật thực định liên quan trực tiếp đến
phòng, chống mua bán phụ nữ, trẻ em.
- Đề xuất một số giải pháp để góp phần hoàn thiện pháp luật phòng, chống mua
bán phụ nữ, trẻ em ở Việt Nam hiện nay.

Với kết quả nghiên cứu như đã nêu ở trên nên luận văn có thể được sử dụng làm
tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu và giảng dạy về chuyên ngành lý
luận chung về nhà nước và pháp luật ở các cơ sở đào tạo về pháp luật.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận
văn gồm 3 chương, 8 tiết.

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

phạm vi quốc gia và xuyên biên giới, mua bán, chuyển giao, tiếp nhận che giấu con người
bằng cách lừa dối, ép buộc (kể cả sử dụng, hoặc đe dọa dùng vũ lực hoặc lạm dụng thẩm
quyền) hoặc bắt buộc trừ nợ vì mục đích xếp đặt hoặc lưu giữ người đó, cho dù trả tiền
hay không, trong việc phục vụ (việc nhà, tình dục hoặc sinh sản), trong lao động bắt buộc
hoặc lao động trừ nợ, hoặc trong các điều kiện tương tự như nô lệ, trong một cộng đồng,
khác cộng đồng mà người đó đã sống tại thời điểm trước khi bị lừa gạt, ép buộc hay gán
nợ.
- Năm 1972, Tổ chức Di cư quốc tế (IOM) và Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc
(UNICEF) đưa ra khái niệm sau: Buôn bán người là hành vi tuyển dụng, chuyển giao,
che giấu hoặc tiếp nhận người bằng cách đe dọa dùng vũ lực, bắt cóc, lừa dối, ép buộc, kể
cả lạm dụng thẩm quyền, hay trừ nợ vì mục đích bố trí hay bắt buộc người đó dù có được
trả tiền hay không vào tình trạng lao động cưỡng bức hoặc phải làm công việc tương tự
như nô lệ trong một cộng đồng khác mà người đó đã sống.
- Năm 1958, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đưa ra khái niệm: Buôn bán người
là việc tuyển dụng, vận chuyển, chuyển giao, che giấu hoặc tiếp cận người bằng cách đe
dọa hoặc dùng vũ lực hoặc những hình thức khác như ép buộc, bắt cóc, gian lận, lừa gạt,
lạm dụng quyền lực hay địa vị, tình trạng dễ bị tổn thương hoặc việc đưa hoặc nhận tiền
hoặc lợi nhuận để đạt được sự đồng ý của một người mà người đó đang cóc quyền kiểm
soát một người khác, nhằm mục đích bóc lột.Việc bóc lột bao gồm tối thiểu: bóc lột làm
nghề mại dâm hoặc những hình thức bóc lột tình dục khác, lao động hoặc phục vụ bắt
buộc, tình trạng nô lệ hoặc những việc làm tương tự như nô lệ, khổ sai hay cắt đi những
bộ phận cơ thể.
- Nghị định thư về phòng ngừa, trấn áp và trừng phạt việc buôn bán người đặc
biệt là phụ nữ, trẻ em (sau đây gọi tắt là Nghị định thư về buôn bán người) bổ sung Công
ước của Liên hợp quốc về tội phạm xuyên quốc gia năm 2000 đã đưa ra định nghĩa về
"buôn bán người" được cộng đồng quốc tế thừa nhận (117 nước ký, trong đó 46 nước phê

chuẩn): Buôn bán người là hoạt động tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, che giấu hoặc
tiếp nhận người, bằng cách đe dọa hoặc sử dụng vũ lực, ép buộc bắt cóc, lừa gạt, lừa dối,
lạm dụng quyền lực hoặc vị thế không được bảo vệ, hoặc trả tiền, hoặc lợi nhuận cho

phạm tình dục, mua bán trẻ em " (Điều 35) [18]; khoản 2 Điều 24 Pháp lệnh phòng
chống mại dâm quy định: "Người nào môi giới mại dâm, chứa mại dâm, cưỡng bức mại
dâm, tổ chức mại dâm, mua bán phụ nữ, trẻ em để phục vụ hoạt động mại dâm thì bị truy
cứu trách nhiệm hình sự" [49].
Như vậy, tổng hợp các quan niệm của pháp luật quốc tế về buôn bán người nói
chung, cũng như các qui phạm pháp luật trong lĩnh vực phòng chống mua bán phụ nữ, trẻ
em ở Việt Nam hiện nay, chúng tôi xin nêu khái niệm mua bán phụ nữ, trẻ em như sau:
mua bán phụ nữ, trẻ em là hành vi của một người hoặc một nhóm người vì tư lợi, đã lừa
dối, ép buộc, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng vũ lực, nhằm tuyển mộ, vận chuyển, chứa
chấp và giao nhận phụ nữ, trẻ em cho một người hoặc một nhóm người khác để được
nhận tiền hoặc lợi ích vật chất khác.
1.1.1.2. Các đặc điểm của hành vi mua bán phụ nữ, trẻ em
Như chúng ta đã biết, hành vi là những phản ứng, cách ứng xử được biểu hiện ra
bên ngoài của con người trong những hoàn cảnh, điều kiện nhất định. Mỗi hành vi đều
được hình thành trên cơ sở nhận thức và kiểm soát của chủ thể ý thức được và chủ động
thực hiện nó. Những hoạt động của con người trong trạng thái vô thức không thể coi là
hành vi. Hành vi phải được biểu đạt ra bên ngoài bằng những phương thức khác nhau
(hành động hoặc không hành động), nghĩa là nó phải thể hiện trong thế giới khách quan
thông qua những thao tác hành động hoặc không hành động của chủ thể, mà các chủ thể
khác có thể nhận biết được điều đó. Do hành vi của các chủ thể được bộc lộ ra thế giới
khách quan nên nó mang tính xã hội (có ý nghĩa về mặt xã hội, có thể ảnh hưởng tích cực
hoặc tiêu cực đến xã hội). Vì vậy, cần phải có sự giám sát và điều chỉnh từ phía xã hội đối
với hành vi của con người. Tùy theo tính chất đặc điểm và những lĩnh vực thể hiện của
hành vi con người mà xã hội đặt ra những tiêu chuẩn, những công cụ điều chỉnh chúng
khác nhau. Những hành vi nào của con người được pháp luật quy định, điều chỉnh thì được
xem là hành vi pháp luật. Hành vi pháp luật nào được thực hiện phù hợp với yêu cầu, đòi
hỏi của pháp luật (chủ thể tiến hành những xử sự mà pháp luật yêu cầu như thực hiện

quyền, nghĩa vụ pháp lý của mình; không được làm những gì mà pháp luật cấm; hoạt động
trong phạm vi pháp luật cho phép) là hành vi hợp pháp. Hành vi được thực hiện trái với

nước, đại diện chính thức cho toàn xã hội ban hành. Vì vậy, ở chừng mực nào đó pháp
luật còn thể hiện ý chí và lợi ích của các giai cấp và tầng lớp khác nhau trong xã hội. Như
vậy, pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung (qui phạm pháp luật) do nhà nước ban
hành hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, được nhà nước bảo đảm thực
hiện, kẻ cả bằng biện pháp cưỡng chế, để điều chỉnh các quan hệ xã hội, duy trì xã hội
trong một trật tự có lợi cho giai cấp thống trị [32, tr. 139-141].
Với tư cách là yếu tố điều chỉnh các quan hệ xã hội, pháp luật có vai trò quan
trọng trong việc đảm bảo sự ổn định và phát triển xã hội. Ở Việt Nam, vai trò của pháp
luật đã được ghi nhận tại Điều 12 Hiến pháp năm 1992 là: "Nhà nước quản lý xã hội bằng
pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa" [31]. Như vậy, vai trò
của pháp luật được thể hiện trên các mặt cơ bản sau:
Một là, pháp luật là cơ sở để thiết lập, củng cố và tăng cường quyền lực nhà
nước: một trong những nguyên lý đã được khẳng định là nhà nước không thể tồn tại thiếu
pháp luật và pháp luật không thể phát huy hiệu lực của mình nếu không có sức mạnh của
bộ máy nhà nước. Thực tiễn cho thấy, khi chưa có một hệ thống quy phạm pháp luật về
tổ chức đầy đủ, đồng bộ, phù hợp và chính xác để làm cơ sở cho việc củng cố và hoàn
thiện bộ máy nhà nước thì sẽ dẫn đến tình trạng trùng lặp, chồng chéo, thực hiện không
đúng chức năng, thẩm quyền của một số cơ quan nhà nước, bộ máy sẽ cồng kềnh và kém
hiệu quả. Tương tự như trên, pháp luật có vai trò quan trọng trong việc quy định nhiệm
vụ, quyền hạn, trách nhiệm của mỗi loại cán bộ, mỗi cán bộ làm việc trong từng cơ quan
cụ thể của bộ máy nhà nước. Nhờ có pháp luật, các hiện tượng lạm quyền, bao biện, vô
trách nhiệm của đội ngũ viên chức nhà nước dễ dàng được phát hiện và loại trừ.
Hai là, pháp luật là phương tiện để nhà nước quản lý kinh tế, xã hội: nhà nước là
đại diện chính thức của toàn thể xã hội, vì vậy, nhà nước có chức năng (nhiệm vụ) quản
lý toàn xã hội. Để quản lý toàn xã hội, nhà nước dùng nhiều phương tiện, nhiều biện
pháp, nhưng pháp luật là phương tiện quan trọng nhất. Pháp luật có khả năng triển khai
những chủ trương, chính sách của Nhà nước một cách nhanh nhất, đồng bộ và có hiệu
quả nhất trên quy mô rộng lớn nhất. Cũng nhờ có pháp luật, nhà nước có cơ sở để phát

huy quyền lực của mình và kiểm tra, kiểm soát các hoạt động của các tổ chức, các cơ

trọng phát huy vai trò của pháp luật, phải nhanh chóng xây dựng một hệ thống pháp luật
toàn diện, đầy đủ và đồng bộ, phù hợp với những điều kiện và hoàn cảnh trong nước,
đồng thời phù hợp với những xu hướng phát triển chung của tình hình quốc tế và khu vực
[45, tr. 78-79].
Với những nhận thức như nêu trên, có thể đưa khái niệm và vai trò của pháp luật
phòng chống mua bán phụ nữ, trẻ em ở Việt Nam như sau:
Pháp luật phòng, chống mua bán phụ nữ, trẻ em ở Việt Nam là một bộ phận của
hệ thống pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Như vậy, pháp luật phòng
chống mua bán phụ nữ, trẻ em vừa phản ánh ý nghĩa và vai trò của pháp luật nói chung,
vừa phản ánh ý nghĩa và vai trò của lĩnh vực pháp luật cụ thể (phòng chống mua bán phụ
nữ, trẻ em). Có thể nói, pháp luật phòng chống mua bán phụ nữ, trẻ em là hệ thống các
quy tắc xử sự do Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành hoặc thừa
nhận và bảo đảm thực hiện, thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt
Nam, thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động là nhân tố điều chỉnh
các quan hệ xã hội liên quan đến việc phòng chống mua bán phụ nữ, trẻ em ở Việt Nam.
Từ đó có thể thấy vai trò của pháp luật phòng, chống mua bán phụ nữ, trẻ em ở các khía
cạnh sau:
- Là cơ sở để thiết lập, củng cố và tăng cường quyền lực nhà nước trên lĩnh vực
phòng chống mua bán phụ nữ, trẻ em;
- Là phương tiện để nhà nước quản lý xã hội, tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho việc
phòng chống mua bán phụ nữ, trẻ em;
- Là tạo môi trường ổn định cho việc hợp tác quốc tế về phòng chống mua bán
phụ nữ, trẻ em.
Qua phân tích các quy phạm pháp luật của Việt Nam liên quan đến mua bán phụ
nữ, trẻ em cho thấy, đây là lĩnh vực pháp luật mới được hình thành, có quá trình phát
triển từ chưa hoàn thiện đến từng bước được hoàn thiện. Một đặc điểm đặc trưng nữa là,
pháp luật về mua bán phụ nữ, trẻ em gồm nhiều quy phạm thuộc nhiều ngành luật khác
nhau như: luật hình sự, luật dân sự, luật hành chính và các ngành luật khác Các quy
phạm này còn tản mạn, thiếu hệ thống. Do đặc thù phòng, chống mua bán phụ nữ, trẻ em


và đánh giá khái quát hệ thống pháp luật hiện hành về phòng, chống mua, bán phụ nữ, trẻ
em ở Việt Nam.
1.2.2.1. Tiêu chí hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung
Có nhiều tiêu chí để xác định mức độ hoàn thiện của một hệ thống pháp luật
trong đó có bốn tiêu chí cơ bản là:
- Tiêu chí về tính toàn diện: tính toàn diện là tiêu chuẩn đầu tiên thể hiện mức độ
hoàn thiện của một văn bản qui phạm pháp luật hoặc của cả hệ thống pháp luật. Tiêu chí
này có ý nghĩa trong việc "định lượng" một văn bản qui phạm pháp luật cũng như cả hệ
thống pháp luật. Do đó, nó có ý nghĩa rất quan trọng, vì chỉ trên cơ sở "định lượng" mới
có thể tiếp tục nghiên cứu để "định tính" trong xây dựng pháp luật nói chung.
Tính toàn diện của hệ thống pháp luật được thể hiện ở hai cấp độ:
+ Ở cấp độ chung đối với hệ thống pháp luật, đòi hỏi hệ thống pháp luật phải có
đủ các ngành luật theo cơ cấu nội dung lôgíc và thể hiện thống nhất trong hệ thống văn
bản qui phạm pháp luật tương ứng.
+ Ở cấp độ cụ thể đối với mỗi ngànhh luật, mỗi văn bản qui phạm pháp luật phải
có đủ các chế định pháp luật, các qui phạm pháp luật.
- Tiêu chí về tính đồng bộ: tính đồng bộ thể hiện sự thống nhất của pháp luật.
Một hệ thống pháp luật sẽ là chưa hoàn thiện khi các bộ phận của hệ thống đó có sự trùng
lặp, chồng chéo hay mâu thuẫn. Tính đồng bộ của hệ thống pháp luật cũng thể hiện ở hai
cấp độ:
+ Ở cấp độ chung, đó là sự đồng bộ giữa các ngành luật với nhau. Để đạt tới mục
tiêu này, cần giải quyết hai vấn đề lớn: một là, phải xác định rõ ranh giới giữa các ngành
luật; hai là, phải tao ra một hệ thống qui phạm pháp luật cơ bản (thể hiện trong các văn
bản luật) để tạo cơ sở củng cố tính thống nhất của toàn hệ thống pháp luật.
+ Ở cấp độ cụ thể, tính đồng bộ thể hiện sự thống nhất, không mâu thuẫn, không
trùng lặp, chồng chéo trong mỗi ngành luật, mỗi chế định luật và giữa các qui phạm pháp
luật với nhau. Để tạo ra tính đồng bộ trong mỗi ngành luật, phải giải quyết triệt để, đúng

đắn mối quan hệ giữa ngành luật-chế định pháp luật-qui phạm pháp luật. Điều đó đòi hỏi
một mặt phải có quan điểm tổng quát để có thể xác định tính chất chung của mỗi ngành

chung, trong lĩnh vực phòng, chống mua bán phụ nữ, trẻ em nói riêng có ý nghĩa rất
quan trọng để xác định phương hướng chung các nhiệm vụ cụ thể để hoàn thiện pháp
luật. Là một lĩnh vực pháp luật mới hình thành và phát triển ở nước ta nên việc xác
định được các tiêu chí để hoàn thiện pháp luật phòng, chống mua bán phụ nữ, trẻ em
cũng gặp không ít khó khăn. Tuy nhiên, vận dụng lý luận chung về nhà nước và pháp
luật, phân tích hệ thống pháp luật Việt Nam, dự kiến các nội dung cần điều chỉnh của
các quan hệ xã hội trong phòng, chống mua bán, phụ nữ, trẻ em, chúng tôi cho rằng hoàn
thiện pháp luật phòng, chống mua bán phụ nữ, trẻ em theo những tiêu chí như sau:
Thứ nhất, tiêu chí về tính hợp hiến, hợp pháp: Điều 146 Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 qui định: "Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam là luật cơ bản của Nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất. Mọi văn
bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp" [31]. Như vậy, pháp luật phòng, chống
mua bán phụ nữ, trẻ em, cũng như các lĩnh vực pháp luật khác, khi hoàn thiện đều phải
tuân thủ nguyên tắc pháp chế - nguyên tắc tạo nên sự phù hợp trong hệ thống pháp luật.
Cụ thể là phải dựa trên cơ sở các quy định của Hiến pháp.
Thứ hai, tiêu chí về tính đầy đủ, đồng bộ: phòng, chống mua bán phụ nữ, trẻ em
là một vấn đề phức tạp, nó liên quan đến nhiều ngành luật, nhiều lĩnh vực pháp luật khác
nhau. Do vậy, hoàn thiện pháp luật phòng, chống mua bán phụ nữ, trẻ em phải đảm bảo
tính đầy đủ và đồng bộ, bởi vì chỉ khi có đầy đủ các qui phạm pháp luật về phòng, chống
mua bán phụ nữ, trẻ em (tính toàn diện) và các qui phạm pháp luật này không có sự trùng
lặp, chồng chéo hay mâu thuẫn (tính thống nhất) trong quá trình điều chỉnh các quan hệ
xã hội phát sinh trong công tác phòng, chống mua bán phụ nữ, trẻ em, thì công tác này
mới phát huy hiệu quả.
Thứ ba, tiêu chí về tính khả thi và hiệu quả: pháp luật nói chung cũng như pháp
luật phòng, chống mua bán phụ nữ, trẻ em nói riêng, với những thuộc tính của mình đã trở

thành một công cụ quản lý xã hội không thể thay thế trong thời đại hiện nay và cũng không
có một công cụ quản lý nào có thể so sánh với pháp luật về tính hiệu quả trong quản lý nhà
nước và xã hội. Vì vậy, để tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, quản lý xã hội bằng pháp
luật thì một trong những yêu cầu quan trọng là phải nâng cao hiệu quả của pháp luật, phát

Điều 63 Hiến pháp năm 1980 qui định:
Phụ nữ và nam giới có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh
tế, văn hóa, xã hội và gia đình. Nhà nước và xã hội chăm lo nâng cao trình độ
chính trị, văn hóa, khoa học, kỹ thuật và nghề nghiệp của phụ nữ, không
ngừng phát huy vai trò của phụ nữ trong xã hội. Nhà nước có chính sách lao
động phù hợp với điều kiện của phụ nữ. Phụ nữ và nam giới làm việc như
nhau thì tiền lương ngang nhau. phụ nữ có quyền nghỉ trước và sau khi sinh
đẻ mà vẫn hưởng nguyên lương nếu là công nhân, viên chức hoặc hưởng phụ
cấp sinh đẻ nếu là xã viên hợp tác xã. Nhà nước và xã hội chăm lo phát triển
nhà hộ sinh, nhà trẻ, lớp mẫu giáo, nhà ăn công cộng và những cơ sở phúc lợi
xã hội khác, tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ sản xuất, công tác, học tập và
nghỉ ngơi [31].
Điều 65 Hiến pháp năm 1980 qui định: "Nhà nước và xã hội chú trọng bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục thiếu niên, nhi đồng, mở rộng dần việc đảm nhiệm nuôi dạy trẻ
em, làm cho sinh hoạt, học tập và trưởng thành của trẻ em được bảo đảm". Điều 63
Hiến pháp năm 1992 qui định:
Công dân nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh
tế, văn hóa, xã hội và gia đình. Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với
phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ. Lao động nữ và nam việc làm như
nhau thì tiền lương ngang nhau. Lao động nữ có quyền hưởng chế độ thai
sản. Phụ nữ là viên chức nhà nước và người làm công ăn lương có quyền
nghỉ trước và sau khi sinh đẻ mà vẫn hưởng lương, phụ cấp theo qui định của
pháp luật. Nhà nước và xã hội tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao trình độ mọi
mặt, không ngừng phát huy vai trò của mình trong xã hội; chăm lo phát triển
các nhà hộ sinh, khoa nhi, nhà trẻ và cá cơ sở phúc lợi xã hội khác để giảm

nhẹ gánh nặng gia đình, tạo điều kiện phát triển cho phụ nữ sản xuất, công
tác, học tập, chữa bệnh nghỉ ngơi và làm tròn bổn phận của người mẹ [31].
Điều 65 Hiến pháp năm 1992 qui định: "Trẻ em được gia đình, nhà nước và xã hội
bảo vệ, chăm sóc và giáo dục". Cụ thể hóa các qui định của hiến pháp về quyền phụ nữ và trẻ

công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đã có những tiến bộ quan trọng. Quy
trình ban hành các văn bản quy phạm pháp luật được đổi mới, nhiều bộ luật, luật, pháp
lệnh được ban hành đã tạo khuôn khổ pháp lý ngày càng hoàn chỉnh hơn để Nhà nước
quản lý bằng pháp luật trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại
nguyên tắc pháp quyền xã hội chủ nghĩa từng bước được đề cao và phát huy trên thực tế,
công tác phổ biến và giáo dục pháp luật được tăng cường đáng kể. Những tiến bộ đó đã
góp phần thể chế hóa đường lối của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý điều hành
của Nhà nước, đẩy mạnh phát triển kinh tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội của đất
nước. Nhưng, nhìn chung hệ thống pháp luật của Nhà nước ta vẫn chưa đồng bộ, thiếu
thống nhất, tính khả thi thấp, chậm đi vào cuộc sống. Cơ chế xây dựng, sửa đổi pháp luật
còn nhiều bất hợp lý và chưa được coi trọng đổi mới, hoàn thiện. Tiến độ xây dựng luật
và pháp lệnh còn chậm, chất lượng các văn bản pháp luật chưa cao. Việc nghiên cứu và
tổ chức thực hiện các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên chưa được quan tâm
đầy đủ. Hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật còn hạn chế, thiết
chế bảo đảm thi hành pháp luật còn thiếu và yếu.
Nguyên nhân của những yếu kém nêu trên là do chưa hoạch định được một
chương trình xây dựng pháp luật toàn diện, tổng thể, có tầm nhìn chiến lược; việc đào
tạo, nâng cao trình độ cán bộ pháp luật và công tác nghiên cứu lý luận về pháp luật chưa
theo kịp đòi hỏi của thực tiễn; việc tổ chức thi hành pháp luật còn thiếu chặt chẽ; ý thức
pháp luật của một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức và nhân dân còn nhiều hạn chế.
Để khắc phục tình trạng trên, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ công nghiệp
hóa hiện đại hóa đất nước, ngày 24 tháng 5 năm 2005 Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết
số 48-NQ/TW về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm
2010, định hướng đến năm 2020. Nghị quyết số 48-NQ/TW đã đề ra mục tiêu: xây dựng và

hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, trọng tâm
là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; đổi mới
căn bản cơ chế xây dựng và thực hiện pháp luật; phát huy vai trò và hiệu lực của pháp luật để
góp phần quản lý xã hội, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, hội nhập kinh tế quốc

quốc gia nói chung và tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em nói riêng. Tuy nhiên, giữa pháp luật
Việt Nam hiện hành và pháp luật quốc tế còn có những quan niệm chưa thống nhất, hay nói
cách khác, pháp luật Việt Nam còn nhiều điểm chưa tương thích với pháp luật quốc tế. Có
thể so sánh sự chưa tương thích đó như sau:

Pháp luật Việt Nam Pháp luật quốc tế
Nghị quyết số 04-HĐTP của Hội đồng
thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
hướng dẫn áp dụng một số quy định của
Bộ luật hình sự: " Mua bán trẻ em là
việc mua hoặc bán trẻ em vì mục đích
tư lợi, dù là mua của kẻ đã bắt trộm hay
mua của chính người có con đem bán.
Hành vi mua trẻ em khi biết rõ là đứa
trẻ bị bắt trộm để về làm con nuôi cũng
bị xử lý về tội mua bán trẻ em".
Pháp luật Việt Nam chưa giải thích khái
niệm "mua bán phụ nữ".
Pháp luật Việt Nam không nêu vấn đề
"mua bán đàn ông".
Pháp luật Việt Nam sử dụng thuật ngữ
"mua bán".
Tội phạm "mua bán phụ nữ, trẻ em"
được coi là hoàn thành khi hành vi mua
bán được thực hiện.
Khoản a, Điều 3 Nghị định thư về việc
ngăn ngừa, phòng chống và trừng trị
việc buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ
và trẻ em quy định: " Buôn bán người
được hiểu là việc tuyển mộ, vận

xuyên quốc gia nói chung và tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em nói riêng, cần có sự thống
nhất trong nhận thức cũng như trong hành động giữa các bên tham gia hợp tác. Cơ sở của
sự thống nhất đó chính là hệ thống pháp luật có liên quan. Như vậy, hoàn thiện pháp luật
phòng, chống mua bán phụ nữ, trẻ em sẽ là đòi hỏi tất yếu của quá trình hợp tác quốc tế
về phòng, chống buôn bán người.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trên cơ sở tìm hiểu học thuyết Mác-Lênin về nhà nước và pháp luật; phân tích
các định nghĩa về "buôn bán người" nói chung trong đó chủ yếu là "buôn bán phụ nữ, trẻ
em" theo tinh thần của pháp luật quốc tế và phân tích các qui định của pháp luật Việt
Nam về tội phạm "mua bán phụ nữ, trẻ em", luận văn đã đưa ra khái niệm "mua bán phụ
nữ, trẻ em" và các yếu tố cấu thành hành vi "mua bán phụ nữ, trẻ em", cũng như khái
niệm và vai trò của pháp luật phòng, chống "mua bán phụ nữ, trẻ em" ở Việt Nam.
Mua bán phụ nữ, trẻ em là hành vi của một người hoặc một nhóm người vì trục
lợi, đã lừa dối, ép buộc, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng vũ lực, nhằm tuyển mộ, vận
chuyển, chứa chấp và giao nhận phụ nữ, trẻ em cho một người hoặc một nhóm người
khác để được nhận tiền hoặc lợi ích vật chất khác. Có hai yếu tố cấu thành hành vi "mua
bán phụ nữ, trẻ em": một là, chủ thể thực hiện hành vi phải là người có đủ năng lực pháp
luật và năng lực hành vi; hai là, những biểu hiện trong thế giới khách quan thông qua
những hành động hoặc không hành động của chủ thể thực hiện hành vi "mua bán phụ nữ,
trẻ em", mà các chủ thể khác có thể nhận biết được hành vi đó.

Trích đoạn Hoàn thiện phỏp luật phũng, chống mua bỏn phụ nữ, trẻ em theo hướng phự hợp với cỏc quy định của luật phỏp quốc tế về phũng, chống buụn bỏn Hoàn thiện cỏc quy định của phỏp luật về phũng, chống mua bỏn phụ nữ và trẻ em Khẩn trương ký kết, tham gia cỏc điều ước quốc tế về phũng, chống buụn bỏn ngườ Xõy dựng luật phũng, chống buụn bỏn ngườ Thành lập lực lượng chuyờn trỏch phũng chống mua bỏn phụ nữ, trẻ em
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status