PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC BIỆN PHÁP CƠ BẢN NHẰM HOÀN THIỆN
QUÁ TRÌNH TỔ CHỨC LƯU THÔNG PHÂN BÓN VÔ CƠ Ỏ VIỆT NAM
HIỆN NAY
1-/ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ VÀ YÊU CẦU ĐẶT RA CHO
VIỆC TỔ CHỨC LƯU THÔNG PHÂN BÓN VÔ CƠ Ở VIỆT NAM
Khi phân tích nguyên nhân thành tựu của các nước Đông Á, Ngân hàng
Thế giới đã nhận xét: “Các chính sách dẫn tới sự phát triển lành mạnh của nền
công nghiệp là một mắt xích quan trọng trong quá trình đạt được những
thành tựu phát triển không ngừng của các nước Đông Á” (Hội thảo Uỷ ban Kế
hoạch Nhà nước - Tổ chức hợp tác Quốc tế Nhật Bản, 28-29/8/1995).
Hiện nay chúng ta đang muốn đưa nền kinh tế chuyển dịch theo hướng
tăng nhanh tỷ trọng của các ngành công nghiệp, dịch vụ và giảm tỷ trọng của
các sản phẩm nông nghiệp. Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta coi nhẹ vai
trò của nông nghiệp. Phát biểu tại Hội nghị lần thứ V, Ban chấp hành Trung
ương Đảng khoá VII, tháng 6 năm 1993, đồng chí Đỗ Mười, Tổng bí thư Đảng
Cộng sản Việt Nam đã nói: “Đối với mọi quốc gia, nông nghiệp luôn luôn là một
trong những lĩnh vực quan trọng nhất. Điều đó lại càng đúng với nước ta khi
80% dân số đang làm ăn sinh sống ở nông thôn”
Hội nghị Trung ương V cũng đã xác định mục tiêu đến năm 2000 của
nền kinh tế nông nghiệp, nông thôn như sau:
“Giải quyết vững chắc nhu cầu lương thực và thực phẩm cho nhân dân, đáp
ứng nhu cầu nguyên liệu nông, lâm, thuỷ sản cho công nghiệp, tăng nhanh kim
ngạch xuất khẩu, bảo vệ tài nguyên, bảo vệ cải thiện môi trường sinh thái”.
Như vậy trong những năm tới nhiệm vụ đặt ra cho công nghiệp là rất
nặng nề. Để đạt được những nhiệm vụ trên, ngành nông nghiệp cần phải chú ý
một số vấn đề sau:
Một là phải tăng về số lượng các sản phẩm nông nghiệp. Dân số ngày
càng tăng. Nhu cầu cuộc sống ngày càng cao. Khi mức sống tăng lên, mức tiêu
dùng về lương thực trực tiếp giảm đi, những tiêu dùng chung về lương thực và
các sản phẩm nông nghiệp tăng lên đặc biệt là các sản phẩm của ngành chăn
nuôi. Để thoả mãn nhu cầu này, sản lượng lương thực năm 2000 dự kiến cần
giảm độ phì nhiêu của đất, gây nên những lũ lụt và nhiều thảm hoạ khác. Nếu
như trước kia ta chỉ muốn phá rừng, khai hoang có nhiều diện tích để trồng
cây lương thực, cây công nghiệp thì ngày nay phải tính đến chuyện phủ xanh
lại đất trống đồi núi trọc. Nhiều dòng sông, nguồn nước bị ô nhiễm. Các chất
hoá học sử dụng trong nông nghiệp như phân bón vô cơ, thuốc trừ sâu ngày
càng tăng lên, nếu không có biện pháp sử dụng hợp lý sẽ góp phần làm trầm
trọng thêm sự ô nhiễm môi trường. Ngày nay con người đòi hỏi các loại thuốc
không những diệt được sâu bệnh mà còn không có hại cho người, sinh vật khác
và môi trường.
Bảo vệ môi trường có mâu thuẫn với việc sử dụng nhiều hoá chất. Do vậy
nâng cao hiệu quả sử dụng các hoá chất trong nông nghiệp là hết sức có ý nghĩa.
Để đảm bảo yêu cầu của nông nghiệp trong thời gian tới, tổ chức lưu
thông phân bón vô cần được ngày càng hoàn thiện sao cho có thể thoả mãn: đủ
về lượng, kịp thời vụ, hợp lý về giá cả, đa dạng về chủng loại, hạn chế và tiến
tới cấm những loại độc hại, tạo điều kiện cho nông dân mua bán thuận lợi, bảo
đảm hài hoá lợi ích của nông dân, Nhà nước và doanh nghiệp.
2-/ NHU CẦU PHÂN BÓN CỦA VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM TỚI.
Từ nay đến năm 2000 và 2010 nhu cầu phân bón của Việt Nam cũng vẫn
sẽ tiếp tục tăng lên hàng năm, bởi hai lý do:
-Một là, Việt Nam trong quỹ đất của mình vẫn còn khoảng 3 triệu ha có
thể khai thác đưa vào sản xuất nông nghiệp, nhất là ở vùng Tây Nguyên và một
số nơi ở miền núi phía bắc.ở đồng bằng Sông Cửu Long, Chính Phủ Việt Nam
dự định cố gắng đến năm 2010 sẽ đưa phần lớn số đất này vào sử dụng. Mặt
khác, khả năng tăng vụ của Việt Nam vẫn còn khá lớn ở tất cả các vùng nhất là
đồng bằng Sông Cửu Long. Nếu làm tốt công tác thuỷ lợi, bảo đảm việc tưới
tiêu chủ động, đồng thời có các giống cây trồng phù hợp, có sự chuyển dịch cơ
cấu cây trồng tốt, thì vụ tăng vụ sản xuất sẽ tăng nhanh. Dự tính đến năm
2000, nhờ tăng vụ Việt Nam có thể tăng diện tích gieo trồng lên từ 300- 500
ngàn ha.
Diện tích gieo trồng tăng là nhân tố quan trọng góp phần làm cho nhu
2000
Chỉ tiêu 1998 1999 2000
Cả nước
Phân ure 1.811.000 1.958.000 2.000.000
2.200.000
Phân lân 850.00
0
860.000 950.000
1.000.000
Phân DAP 300.00
0
300.000 300.000
Phân NPK 750.00
0
800.000 900.000
Phân ure phân theo vùng
Đông bắc 75.000 80.000 85.000
Tây bắc 32.000 35.000 40.000
ĐB Sông Hồng 597.00
0
653.000 740.000
Khu 4 cũ 66.000 72.000 90.000
Duyên Hải Miền Trung 147.00
0
152.000 160.000
Tây Nguyên 83.000 86.000 90.000
Đông nam bộ 155.00
0
60.000 165.000
Đồng bằng Sông Cửu Long 656.00
Từ nay đến năm 2000 Việt Nam mỗi năm cũng chỉ sản xuất được
khoảng 130.000 tấn- đáp ứng được khoảng 6-7% nhu cầu phân ure trên cả
nước. Nhà máy phân đạm Hà Bắc đang đầu tư để rộng sản xuất, nâng công
suất lên khoảng 270.000tấn/ năm, song phải sau năm 2000 thì công việc này
mới hoàn thành- nếu lúc đó nhu cầu phân ure của Việt Nam khoảng 2.400.000-
2.500.000tấn/ năm, thì nhà máy phân đạm Hà Bắc mới đáp ứng được từ 10-
11% nhu cầu.
Hiện nay Việt Nam đang liên doanh với nước ngoài để xây dựng nhà
máy phân đạm Phú Mỹ, với công suất 750.000tấn/ năm, cũng dự định đi vào
sản xuất sau năm 2000. Như vậy, nếu có nhà máy Phú Mỹ đi nữa, sau năm
2000 vn cũng mới thỏ mãn được khoảng 40% nhu cầu phân bón- còn 60% vẫn
phải nhập từ nước ngoài. Vấn đề hiện nay là Việt Nam có nên sản xuất ure
trong nước để thay thế nhập khẩu hay không? đó là vấn đề cần được nghiên
cứu, tính toán thật kỹ lưỡng để tránh xảy ra những hậu quả đáng tiếc sau này.
Hiện tại, trên thế giới những nước sau đây là những nước mạnh về sản
xuất phân bón:
BIỂU SỐ 19 - DANH MỤC 15 NƯỚC SẢN XUẤT PHÂN BÓN TRÊN THẾ GIỚI
TRONG NĂM 1999.
Đơn vị tính: tấn
Tên nước sản
xuất
Năng lực
sản xuất
Khối lượng
sản xuất
Xuất
khẩu
Nhập
khẩu
1.Trung Quốc 18.037 16.400 4.500
đi nữa, mỗi năm Việt Nam vẫn cần phải nhập khoảng 1.800.000 tấn phân
(1.500.000 tấn phân ure và 300.000 tấn phân DAP). Chính vì vậy, có một cơ chế
và chính sách hợp lý để tạo điều kiện thuận lợi cho việc nhập phân bón (Nhập
nhanh, đủ số lượng, bảo đảm chất lượng, giá cả hợp lý), trên cơ sở đó ổn định
thị trường phân bón, đảm bảo cho nông nghiệp phát triển nhanh và bền vững
là đòi hỏi hết sức bức súc hiện nay. Để thực hiện được việc này, chúng tôi đề
xuất giải pháp là: Hiện nay việc nhập khẩu phân bón Nhà nước giao cho một số
doanh nghiệp Trung ương đảm nhận một phần, một phần khác giao cho chủ
tịch uỷ ban nhân dân một số tỉnh (19 tỉnh) chịu trách nhiệm chọn một số
doanh nghiệp trong tỉnh và giao cho họ chịu trách nhiệm nhập số phân mà tỉnh
được giao chỉ tiêu. Nhưng tất cả các doanh nghiệp được giao nhập phân (Kể cả
Trung ương và địa phương) đều là các doanh nghiệp quốc doanh (Trừ Công ty
Long Vũ của Long An). Thực tế trong số các công ty này, có không ít công ty
không có khả năng(về vốn, về bạn hàng, về thị trường, về kinh nghiệm trong
việc nhập khẩu phân bón. Vì thế họ bán quota cho các công ty tư nhân dưới
hình thức này hoặc hình thức khác để kiếm lời làm cho việc nhập phân bón và
tiếp sau đó là thị trường phân bón hết sức lộ xộn và rối ren, ảnh hưởng xấu về
nhiều mặt và sau đó họ bỏ cuộc.
Chính vì thế, chúng tôi đề nghị việc nhập khẩu phân bón nên để cho mọi
thành phần kinh tế được tham gia một cách bình đẳng. Việc cho mọi thành
phần kinh tế tham gia nhập khẩu phân bón một mặt cho phép chúng ta có thể
huy động được mọi nguồn vốn, mọi mối quan hệ bạn hàng, mọi khả năng tổ
chức để nhập phân, tạo ra một nguồn phân bón dối dào cho đất nước. Mặt
khác chống được sự độc quyền, cũng như những tiêu cực khác trong việc nhập
và tiêu thụ phân bón- tránh được những thiệt hại không đáng cho người nông
dân .
Khi còn độc quyền về việc nhập phân bón, thì các doanh nghiệp còn tìm
cách kiếm trác trên các sự độc quyền đó, chứ khi phân bón trở thành một mặt
hàng xuất nhập khẩu bình thường, thì các doanh nghiệp buộc phải tính toán
cân nhắc kỹ. Chỉ có các doanh nghiệp nào thực sự có khả năng (có vốn hiểu biết
các nhà xuất khẩu phân bón, khi họ gặp rủi ro sự biến động của giá cả thị
trường phân bón quốc tế.
3.3-/ Vấn đề tổ chức thị trường phân bón trong nước.
Việc sản xuất phân bón trong nước, nhập khẩu phân bón từ nước ngoài
đã tạo ra khả năng cung phù hợp với cầu của người nông dân, song nếu dừng
ở đó thì chưa đủ, vấn đề đặt ra là phải làm sao phân bón các loại được đưa
đến tận tay người nông dân với giá cả hợp lý và với thời gian thích hợp. Muốn
thế thị trường phân bón trong nước cần được tổ chức lại theo hướng:
+Khuyến khích mọi doanh nghiệp, mọi cá nhân thuộc các thành phần
kinh tế khác nhau, có điều kiện, tham gia vào việc kinh doanh phân bón nhằm
tạo ra một mạng lưới cung ứng phân đông đảo và rộng khắp ở mọi miền của
đất nước, sẵn sàng cung ứng đủ, kịp thời với giá cả phù hợp các loại phân bón
cho nông dân. Trong việc kinh doanh phân bón tất cả các doanh nghiệp và cá
nhân thuộc mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng.
+ Khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước hình
thành các đại lý cung ứng phân ở các vùng, các địa phương để cung ứng phân
bón cho mạng lưới dịch vụ bán lẻ ở các vùng, các địa phương tạo điều kiện cho
hệ thống bán lẻ đưa phân đến các hộ nông dân kịp thời với giá cả hợp lý.
+ Các doanh nghiệp nhập khẩu phân bón, nếu họ có điều kiện cũng
khuyến khích họ hình thành các đại lý tiêu thụ phân bón ở các địa phương để
bán phân bón cho mạng lưới bán lẻ, hoặc bán trực tiếp cho nông dân.
Nếu ta làm tốt các mặt trên, sẽ tạo ra sự gắn bó giữa nông dân và các
doanh nghiệp sản xuất. Nhập khẩu và kinh doanh phân bón làm cho Cung- cầu
không tách rời nhau một cách giả tạo. Đó là cơ sở để từng bước xây dựng một
thị trường phân bón ổn định ở Việt Nam.
4-/ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH PHÂN
BÓN VÔ CƠ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
4.1-/ Hoàn thiện hệ thống chiến lược:
Mỗi chiến lược của doanh nghiệp thương mại được đề ra trên cơ sở
những điều kiện về không gian, thời gian và môi trường nhất định, những nhà
Kế hoạch kinh doanh hàng hoá là kế hoạch kinh doanh cơ bản, xác định
những chỉ tiêu tổng hợp, những cân đối lớn trong hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp thương mại, do vậy để đẩy mạnh hoạt động kinh doanh của các
doanh nghiệp kinh doanh phân bón vô cơ, để đảm bảo việc xây dựng kế hoạch
kinh doanh đạt được hiệu quả cao thì cần phải tính toán một cách chính xác
các chỉ tiêu của kế hoạch kinh doanh. Muốn vậy thì các doanh nghiệp kinh
doanh phân bón vô cơ, cần phải chuẩn bị kỹ những tài liệu cần thiết. Đó là việc
nghiên cứu, phân tích những căn cứ của kế hoạch kinh doanh phân bón vô cơ
như là kết quả thăm dò thị trường, kinh nghiệm của những năm trước và dự
đoán xu hướng phát triển Cung- cầu phân bón của kỳ kế hoạch.
Ngoài ra, trong quá trình hoạt động kinh doanh cần thường xuyên theo
dõi bổ xung, điều chỉnh các chỉ tiêu của kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp
để nhằm thực hiện tốt nhất các mục tiêu và phương án kinh doanh đã vạch ra.
4.3-/ Hoàn thiện công tác nghiên cứu thị trường.
Để đảm bảo cho công tác nghiên cứu thị trường có hiệu quả, các doanh
nghiệp kinh doanh phân bón vô cơ, cần phải làm một số việc như sau.
-Thứ nhất: Các doanh nghiệp kinh doanh phân bón vô cơ, cần phải xác
định được vị trí công tác nghiên cứu thị trường trong quá trình hoạt động kinh
doanh của mình
Với chính sách khuyến khích nhập khẩu của Nhà nước, số doanh nghiệp
tham gia thị trường phân bón vô cơ ngày càng tăng lên sự cạnh tranh trong
thị trường ngày càng gay gắt. Các doanh nghiệp kinh doanh phân bón vô cơ,
cần phải đặt nghiên cứu thị trường là một nhiệm vụ quan trọng, nếu hiểu sâu
sắc thị trường sẽ giúp các doanh nghiệp kinh doanh phân bón vô cơ, giảm
được những rủi ro đồng thời đứng vững được trên thị trường.
- Thứ hai là: cần tổ chức nghiên cứu thị trường phân bón vô cơ trên thế
giới và thị trường trong nước một cách có hiệu quả.
+ Nghiên cứu thị trường phân bón vô cơ thế giới.
Nước ta nguồn phân bón chủ yếu được nhập từ các nước về, do vậy để hoạt
động nhập khẩu có hiệu quả thì việc nghiên cứu thị trường phân vô cơ thế giới là