Lời mở đầu
1-/ Tính cấp thiết của đề tài:
Nớc ta là nớc nông nghiệp thuộc khu vực nhiệt đới gió mùa quanh năm
nóng ẩm. Diện tích trồng tra ở nớc ta chiếm một tỷ trọng lớn trong đất đai, dân
số làm nghề nông ở nớc ta nhiều. Do điều kiện thuận lợi về tự nhiên và khí hậu
thích hợp với cây trồng, Đảng ta đã xác định Nông nghiệp là mặt trận hàng
đầu trên con đờng xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc
lần thứ 6 đã cụ thể hoá bằng 3 chơng trình kinh tế lớn là lơng thực, thực phẩm
- hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu.
Về lơng thực, từ chỗ ta phải lo đủ ăn đến phấn đấu có xuất khẩu và đến
nay ta đã làm đợc điều đó, sản lợng lơng thực năm 1993 đã ở mức 25 triệu
tấn/năm song xu hớng những năm tới không những vừa phải đảm bảo đủ lơng
thực tiêu dùng cho toàn quốc mà còn phấn đấu xuất khẩu một lợng lớn hơn
nhiều. Để làm đợc điều đó, một trong những vấn đề quan trọng là phải đảm bảo
đủ cả về số lợng, chủng loại và chất lợng phân bón vô cơ đúng thời vụ cho sản
xuất nông nghiệp.
Nền kinh tế nớc ta hiện nay là nền kinh tế thị trờng trong thời kỳ quá độ.
Vấn đề lu thông phân bón vô cơ theo cơ chế thị trờng ở điều kiện cụ thể của nớc
ta hiện nay phải đợc tổ chức nh thế nào để vừa đảm bảo nhiệm vụ đặt ra, vừa
đảm bảo cho doanh nghiệp làm công tác lu thông tồn tại và có lãi. Với t cách là
cán bộ công tác tại Tổng Công ty Vật t Nông nghiệp tiếp xúc với quá trình kinh
doanh phân bón, tác giả xin chọn đề tài Tổ chức lu thông phân bón vô cơ
theo cơ chế thị trờng ở Việt Nam làm đề tài nghiên cứu.
1
2-/ Mục đích của đề tài:
- Làm rõ cơ sở lý luận của lu thông hàng hoá nói chung và đặc điểm tổ
chức lu thông phân bón vô cơ nói riêng trong nền kinh tế thị trờng.
- Phân tích thực trạng tổ chức lu thông phân bón vô cơ ở nớc ta hiện nay
rút ra những vấn đề mang tính quy luật của quá trình lu thông phân bón.
- Đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện việc tổ chức lu thông phân bón vô
cơ phù hợp với điều kiện kinh tế thị trờng ở nớc ta.
hoá tập trung, Nhà nớc quản lý kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh, các cơ quan
hành chính, kinh tế can thiệp sâu vào nghiệp vụ sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp nhng lại không chịu trách nhiệm về các quyết định của mình. Quan hệ
giữa các ngành là quan hệ dọc, đợc kế hoạch hoá bằng chế độ cấp phát và lao
động sản phẩm. Lu thông trong thời kỳ này chủ yếu là giao nộp sản phẩm cho
các đơn vị theo địa chỉ và giá cả do Nhà nớc định sẵn. Tóm lại trong nền kinh tế
kế hoạch hoá tập trung khi mà ba vấn đề trung tâm của nền kinh tế là: sản xuất
cái gì? sản xuất bằng cách nào? sản xuất cho ai? đều do Nhà nớc quyết định thì l-
u thông hàng hoá chỉ là việc bán sản phẩm hàng hoá sản xuất ra theo kế hoạch và
giá cả đợc ấn định trớc.
Trong nền kinh tế thị trờng, các doanh nghiệp đều có quyền tự chủ trong
sản xuất, kinh doanh hay nói khác đi các doanh nghiệp phải tự quyết định ba
vấn đề kinh tế trung tâm (sản xuất cái gì? sản xuất nh thế nào? sản xuất cho ai?)
thì lu thông hàng hoá không thể đơn thuần là việc bán sản phẩm hàng hoá ra
theo kế hoạch và giá cả ấn định trớc.
3
Muốn thực hiện đợc chức năng là cầu nối trung gian giữa sản xuất, phân
phối và tiêu dùng thì lu thông hàng hoá phải đợc hiểu là một quá trình kinh tế
bao gồm nhiều khâu từ việc nghiên cứu thị trờng, xác định nhu cầu khách hàng,
đặt hàng và tổ chức sản xuất, thực hiện các nghiệp vụ tiêu thụ, xúc tiến bán
hàng nhằm mục đích đạt hiệu quả cao nhất. Quan niệm lu thông hàng hoá là
quá trình tiêu thụ sản phẩm, Hiệp hội kế toán quốc tế định nghĩa: Tiêu thụ (bán
hàng hàng hoá, lao vụ, dịch vụ) là việc chuyển dịch quyền sở hữu sản phẩm,
hàng hoá, lao vụ dịch vụ đã thực hiện cho khách hàng đồng thời thu đợc tiền
hàng hoặc đợc quyền thu tiền bán hàng.
Lu thông hàng hoá nếu xét trên mối quan hệ kinh tế quốc tế thì đợc chia
ra lu thông hàng hoá trong nớc và lu thông hàng hoá nớc ngoài, hay đợc gọi là
nội thơng và ngoại thơng (xuất nhập khẩu). Căn cứ vào tính chất của hàng hoá l-
u thông trên thị trờng chia ra: lu thông t liệu sản xuất (vật t thiết bị); lu thông
tiền vốn; sức lao động và cuối cùng là lu thông vật phẩm tiêu dùng.
muốn dùng phần nhận đợc do phân phối để trao đổi (lu thông); cuối cùng, trong
tiêu dùng các sản phẩm trở thành đối tợng tiêu dùng và đối tợng của việc chiếm
hữu cá nhân. Sản xuất sáng tạo ra những sản phẩm thích hợp với các nhu cầu,
phân phối phân chia các vật đo ra theo những quy luật xã hội; trao đổi (lu
thông) lại phân phối lại cái đã đợc phân phối theo những nhu cầu cá biệt; cuối
cùng trong tiêu dùng, sản phẩm vợt ra khỏi vận động xã hội đó, trực tiếp trở
thành đối tợng phục vụ cho một nhu cầu cá biệt và thoả mãn nhu cầu đó trong
quá trình tiêu dùng. Nh vậy sản xuất thể hiện ra là điểm xuất phát, tiêu dùng là
điểm cuối cùng, phân phối trao đổi là điểm trung gian. Điểm trung gian này lại
có hai yếu tố và phân phối đợc coi là yếu tố xuất phát từ xã hội và trao đổi là
yếu tố xuất phát từ cá nhân.
5
Sản xuất Phân phối Lưu thông Tiêu dùng
+ Đi sâu phân tích mối quan hệ giữa các khâu của quá trình sản xuất, ta
thấy sản xuất luôn là cái quyết định, quy định đối với phân phối, trao đổi và tiêu
dùng. Song phân phối, trao đổi và tiêu dùng không phải chỉ đơn thuần chịu sự
quy định một cách thụ động mà nó còn có tác động trở lại trong mối quan hệ
biện chứng.
* Quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng. Sản xuất cũng trực tiếp là tiêu
dùng- Tiêu dùng về hai mặt, chủ quan và khách quan: cá nhân phát triển năng
lực của mình trong quá trình sản xuất, đồng thời cũng tiêu phí, tiêu dùng các
năng lực đó trong hành vi sản xuất, cũng giống nh hành vi sinh con đẻ cái là sự
tiêu phí sức sống. Mặt khác sản xuất là tiêu dùng các t liệu sản xuất mà ngời ta
sử dụng các t liệu sản xuất đó hao mòn đi một phần phân giải thành những yếu
tố cơ bản của sản phẩm. Vì vậy bản thân hành vi sản xuất trong mọi nhân tố của
nó cũng đồng thời là hành vi tiêu dùng. Trong trờng hợp này, sản xuất đợc coi
là trực tiếp đồng nhất với tiêu dùng và tiêu dùng đợc coi là trực tiếp ăn khớp với
sản xuất. Và đợc các nhà kinh tế học gọi là tiêu dùng sản xuất.
Tiêu dùng đồng thời cũng trực tiếp là sản xuất, cũng nh trong tự nhiên,
tiêu dùng các nguyên tố hoá chất là sự sản xuất thực vật, hay trong quá trình ăn
sản xuất quy định hình thái đặc thù của phân phối, hình thái theo đó ngời ta
tham gia vào sự phân phối. Tuy nhiên phân phối có tính độc lập tơng đối đối với
sản xuất. Bởi vì phân phối biểu hiện thành phân phối sản phẩm và do đó hình
nh nó rất cách xa đối với sản xuất và tựa hồ nh độc lập với sản xuất. Nhng trớc
khi là phân phối sản phẩm thì phân phối là phân phối những công cụ sản xuất và
phân phối các thành viên xã hội theo những loại sản xuất khác nhau, cái đó tức
là một sự quy định khác của mối quan hệ trên (việc các cá nhân lệ thuộc vào
những quan hệ sản xuất nhất định). Rõ ràng phân phối sản phẩm chỉ là kết quả
của sự phân phối đó mà thôi, sự phân phối này đã bao hàm trong bản thân quá
trình sản xuất và quyết định cơ cấu sản xuất. Nh vậy, sản xuất phải xuất phát từ
một sự phân phối nhất định về công cụ sản xuất, nên theo ý nghĩa đó thì phân
7
phối ít nhất của phải có trớc sản xuất, là tiền đề của sản xuất và do đó quyết
định sản xuất.
* Quan hệ giữa sản xuất và trao đổi: bản thân lu thông chỉ là một yếu tố
nhất định của trao đổi, hoặc là của trao đổi xét trên toàn bộ của nó. Vì trao đổi
chỉ là một yếu tố trung gian, một mặt là giữa sản xuất và phân phối do sản xuất
quyết định, và mặt khác là với tiêu dùng, còn bản thân phân phối lại thể hiện ra
một yếu tố của sản xuất, nên rõ ràng là trao đổi bao hàm trong sản xuất với t
cách là yếu tố của sản xuất. Trớc hết, sự trao đổi hoạt động và năng lực đợc thể
hiện trong bản thân sản xuất là một bộ phận trực tiếp của sản xuất và là mặt căn
bản của sản xuất; Thứ hai, đối với trao đổi sản phẩm sự trao đổi là phơng tiện để
sản xuất ra thành phẩm nhằm phục vụ cho sự tiêu dùng trực tiếp. Trong phạm vi
đó, bản thân trao đổi là một hành vi bao gồm ở trong sản xuất; Thứ ba, sự trao
đổi giữa các nhà kinh doanh với nhau xét về mặt tổ chức của nó là hoàn toàn do
sản xuất quyết định, đồng thời nó lại là hoạt động sản xuất. Trao đổi chỉ độc lập
với sản xuất, không dính gì với sản xuất ở trong giai đoạn cuối cùng mà thôi -
khi sản phẩm đợc trao đổi trực tiếp để tiêu dùng. Nhng không có phân công lao
động thì không có trao đổi; trao đổi t nhân giả định phải có nền sản xuất t nhân
và cờng độ của trao đổi, tính chất phổ cập của trao đổi cũng nh hình thái trao
trong sự phát triển đa dạng đó nảy sinh những hình thức kinh doanh gây thiệt
hại cho sản xuất và đời sống xã hội, mà trớc tiên là nó gây thiệt hại cho chính
những ngời làm lu thông thực sự và chân chính.
Từ sơ đồ sau:
TLSX- SLĐ Sản xuất TLTD
Pk A P
k+1
TLSX.
Trong đó giả sử nền kinh tế sản xuất n loại hàng hoá .
9
Gọi: P
k
= (P
jk
) là giá hàng tại chu kỳ sản xuất thứ k của loại hàng hoá J
(J = 1,n)
A = (a
ij
)nxn - là ma trận chi phí
Để đơn giản giả định tiêu dùng SLĐ khi tính chi phí sản xuất nh TLTD
Nh vậy trong điều kiện cân bằng và nếu kinh tế hầu nh đóng trên thị tr-
ờng khu vực thì:
Hay P= A.P
Nếu tính theo chu kỳ ta sẽ có:
Trong đó là tỷ xuất lợi nhuận bình quân, tức là:
P
k+1
= (1+) A P
k.
Do đó, sau t chu kỳ sản xuất:
n
j
n
j
n
j
aijPjkaijPjkaijPikPik
1 1 1
)1(1
nhân hay các doanh nghiệp thực hiện công tác lu thông cũng không thể bán rẻ
và không chịu mua rẻ.
ở Việt Nam trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung các hàng hoá mua
bán trên thị trờng cha phải đã vận động theo quy luật Cung- cầu, nhiều yếu tố
của sản xuất cha trở thành hàng hoá, chẳng hạn: đất đai, sức lao động, phân
bón, xăng dầu, chất xám, tiền tệ... Nó là nền kinh tế với nhiều hoạt động kinh
tế trong xã hội cha hoàn toàn theo đúng các quy luật của nền kinh tế, trong đó
việc mua bán t liệu sản xuất là một trờng hợp điển hình. Trong thời kỳ này lu
thông t liệu sản xuất ở nớc ta đợc đánh giá là: Lộn xộn, vòng vèo, tính xã hội
thấp.
Điều đó thể hiện ở chỗ ngời mua của ngời làm lu thông không phải là ng-
ời sản xuất tức là xảy ra hiện tợng lu thông -lu thông ... sản xuất, trong đó mục
đích của lu thông về mặt xã hội hầu nh không phải là sản xuất dù ngời mua là
ngời sản xuất. Từ đó dẫn đến tình trạng lộn xộn kinh doanh theo kiểu cò mồi,
chỉ trỏ. Mặt khác tạo nên nhu cầu giả tạo hạn chế sức sản xuất, giá cả không
phản ánh đúng quy luật giá trị, quy luật cung cầu. Hàng hoá t liệu sản xuất lu
thông vòng vèo nh một vật ngon thách thức ngời sản xuất. Và cuối cùng chi
phí sản xuất tăng do phải chấp nhận giá t liệu sản xuất quá cao (giá hạch toán).
Còn lu thông hầu nh chỉ để lu thông- để kiếm lời, qua quá trình lu thông nhiều
cấp. Vậy các tổ chức, cá nhân hay các doanh nghiệp làm công tác lu thông
T
0
t
D
t
: Doanh thu
T: Thuế
C: Chi phí (giả định đơn giản)
Khi đó nếu ta thấy không có sự can thiệp đủ mạnh thì sau chu kỳ(t), kinh
doanh bắt đầu thua lỗ thậm chí phá sản điều đó dẫn đến một nghịch lý đối với
ngời kinh doanh t liệu sản xuất chuyên nghiệp, chuyên doanh là càng buôn càng
lỗ chứ không phải buôn gì cũng lãi. Vậy lãi vào tay ai-đó là những nhà kinh
doanh thơng mại cấp 2, cấp 3... thậm chí không cần vốn mà chỉ bằng vay ngân
hàng hoặc môi giới - đó là những nhà làm lu thông kiểu cò mồi, chỉ trỏ
12
Những ngời tham gia phá trật tự lu thông này thu lãi. Về mặt lý thuyết lãi còn đ-
ợc chi vào thuế ngân sách nhà nớc, song thực tế không hẳn nh vậy. Trong khi
đó rõ ràng thị trờng khu vực cũng nh thị trờng thế giới thông thờng có tính ổn
định theo thời kỳ, nh vậy một đất nớc quá nhiều t liệu sản xuất nh nớc ta thời kỳ
này, thì giá t liệu sản xuất trên thị trờng thực chất phụ thuộc vào giá nhập khẩu.
Giá các loại t liệu sản xuất không trực tiếp phụ thuộc vào sức sản xuất trong nớc
mà phụ thuộc vào giá chuyển đổi đồng ngoại tệ mạnh và các chính sách xuất
nhập khẩu. ở đây lại xuất hiện một nguy cơ cho ngời sản xuất cũng nh ngời
chuyên kinh doanh t liệu sản xuất, là làm cho quá trình thua lỗ vừa kéo dài vừa
đột biến không dự báo đợc.
Trên cơ sở những phân tích đối với hoạt động lu thông TLSX trong nền
kinh tế kế hoạch hoá tập trung, một số kết luận đợc rút ra là:
- Nhà nớc không kiểm soát đợc mạng lới làm lu thông TLSX bằng pháp
luật, do thị trờng chỉ có một giá; mặt khác một số TLSX cần cho sự phát triển
của đất nớc, các TLSX chủ chốt cần nhập khẩu nhà nớc đã độc quyền - độc
doanh nghiệp đều biểu hiện qua mua bán hàng hoá, dịch vụ trên thị trờng. Thái
độ c xử của các thành viên tham gia thị tròng là hớng vào tìm kiếm lợi ích của
mình theo sự dẫn dắt của giá cả thị trờng.
Kinh tế thị trờng vận hành theo cơ chế thị trờng, đến lợt nó, cơ chế thị tr-
ờng tác động dới sự chi phối của các quy luật thị trờng trong môi trờng cạnh
tranh nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Nhân tố cơ bản của thị trờng, cơ chế thị trờng là hàng hoá tiền tệ, ngời
bán, ngời mua, từ đó hình thành mối quan hệ cơ bản của cơ chế thị trờng là
quan hệ cung cầu. Về bản chất, cơ chế thị trờng là cơ chế giá cả tự do. Cơ chế
này có một số đặc trng sau:
14
-Các vấn đề liên quan đến phân bổ, sử dụng các nguồn tài nguyên, lao
động, vốn đợc quyết định một cách khách quan thông qua hoạt động của các
quy luật kinh tế.
-Hầu nh tất cả các mối quan hệ kinh tế giữa các chủ thể kinh tế đều đợc
tiền tệ hoá.
- Lợi nhuận là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, thúc đẩy tăng trởng
kinh tế và lợi ích kinh tế. Cơ chế thị trờng dùng lỗ lãi để quyết định các vấn đề
kinh tế cơ bản.
- Cạnh tranh là môi trờng hoạt động của cơ chế thị trờng, là yếu tố thúc
đẩy tiến bộ kỹ thuật, tăng năng suất lao động và hiệu quả của sản xuất.
- Cơ chế thị trờng không phải là một mớ hỗn độn mà là một trật tự kinh
tế, trật tự này đợc hình thành bởi sự tác động của hệ thống quy luật của thị tr-
ờng.Thông qua sự hoạt động của các quy luật kinh tế, sự linh hoạt của hệ thống
giá cả, nền kinh tế thị trờng có khả năng duy trì đợc sự cân bằng của sức cung
và sức cầu về hàng hoá, dịch vụ, ít khi gây ra sự khan hiếm và thiếu thốn hàng
hoá.
Quá trình tái sản xuất xã hội có liên quan mật thiết với sự tuần hoàn và
chu chuyển của vốn sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp, thể hiện ở lao
động xã hội trong những hình thức khác nhau của nó. Sự vận động của lao động
hàng hoá, mặt khác là sự vận động của tiền tệ ngợc lại với phơng hớng lu thông
hàng hoá. Sự tổng hợp các vận động của tiền tệ trên phơng hớng khác nhau đã
hình thành lu thông tiền tệ. Vì vậy quá trình lu thông trên thực tế là sự thống
nhất của lu thông hàng hoá và sự lu thông tiều tệ. Lu thông hàng hoá quyết định
lu thông tiền tệ, nhng lu thông tiền tệ lại có tác động ngợc lại đến lu thông hàng
hoá nó là chất kích thích lu thông hàng hoá, thậm chí sự vận động của tiền tệ
còn có tác dụng hớng hàng hoá chảy về đâu.
Nh vậy, lu thông là một quá trình khách quan có liên hệ với sự vận động
của giá trị sản phẩm xã hội. Lu thông là sự thay đổi hình thức giá trị của hàng
16
hoá. Dù là những hàng hoá dùng cho tiêu dùng sản xuất tiêu dùng cá nhân thì
cũng nh thế. Bản chất của quá trình lu thông hàng hoá là mua và bán những
hàng hoá này hay hàng hoá kia đợc thực hiện khác nhau. Điều này là do đặc
tính về công dụng của những hàng hoá ấy quyết định. Điều cần nhấn mạnh ở
đây là lu thông hàng hoá là một quá trình thống nhất không phụ thuộc vào công
dụng của hàng hoá nhng các hình thức tổ chức để chuyển đa đến tay ngời tiêu
dùng lại khác nhau.
Vai trò của lu thông trong nền kinh tế thị trờng: Dới góc độ vi mô, lu thông
đóng vai trò quan trọng, quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Khi
quá trình lu thông kết thúc, tức là sản phẩm của doanh nghiệp đợc tiêu thụ, là nó
đã đợc ngời tiêu dùng chấp nhận để thoả mãn một nhu cầu nào đó. Sức tiêu thụ
sản phẩm của một doanh nghiệp thể hiện ở mức bán ra, uy tín của doanh nghiệp,
chất lợng sản phẩm, sự thích ứng với nhu cầu ngời tiêu dùng và sự hoàn thiện của
các hoạt động dịch vụ. Nói cách khác lu thông hàng hoá phản ánh đầy đủ điểm
mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp.
Lu thông hàng hoá gắn giữa ngời sản xuất với ngời tiêu dùng, nó giúp
cho các nhà sản xuất hiểu thêm về kết quả sản xuất của mình và nhu cầu của
khách hàng.
Trên giác độ vĩ mô, lu thông hàng hoá có vai trò quan trọng trong việc
cân đối giữa cung và cầu, vì nền kinh tế quốc dân là một thể thống nhất với
những hàng hoá gì? với số lợng bao nhiêu? cần có những dịch vụ gì? đều phải
xuất phát từ nhu cầu của thị trờng. Qua thị trờng nhu cầu của cả ngời sản xuất
lẫn ngời tiêu dùng đợc thoả mãn. Ngời sản xuất cần bán hàng, chuyển tiền
thành những giá trị sử dụng khác nhau.
Nh vậy, ta có thể thấy rõ thị trờng là nơi diễn ra các quá trình trao đổi,
mua bán hàng hoá, thị trờng có tính không gian và thời gian, theo nghĩa này thị
trờng có thể là các chợ, các địa danh hoặc các khu vực tiêu thụ phân theo mặt
hàng, ngành hàng.
18
Sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển, lợng sản phẩm hàng hoá lu
thông trên thị trờng ngày càng dồi dào và phong phú, thị trờng đợc mở rộng. Thị
trờng hiểu theo nghĩa đầy đủ hơn, nó là lĩnh vực trao đổi hàng hoá thông qua
tiền tệ làm môi giới. Tại đây ngời mua và ngời bán tác động qua lại lẫn nhau để
xác định giá cả và số lợng hàng hoá lu thông trên thị trờng.
Nếu nói đến thị trờng, trớc hết phải nói tới các nhân tố cơ bản cấu thành
thị trờng, đó là hàng và tiền, ngời mua và ngời bán, từ đó hình thành các quan
hệ hàng hoá tiền tệ, mua-bán, cung-cầu và giá cả hàng hoá.
Nói tới thị trờng là phải nói tới cạnh tranh tự do, ở đây luôn diến ra sự
ganh đua, cọ sát lẫn nhau giữa các thành viên tham gia thị trờng để giành phần
có lợi cho mình, động lực của cạnh tranh là lợi nhuận. Với động lực đó trên thị
trờng khó tránh khỏi sự lừa gạt và gian lận.
Nói tới thị trờng là nói tới tự do kinh doanh tự do mua bán, thuận mua vừa
bán, tự do giao dịch. Quan hệ giữa các chủ thể trên thị trờng là bình đẳng.
Theo lý thuyết hiện đại về kinh tế thị trờng có thể chia thị trờng thành 2
loại:
Một là: Thị trờng hàng tiêu dùng và dịch vụ, ở thị trờng này, ngời ta mua
bán những t liệu sinh hoạt và dịch vụ nh: lơng thực, thực phẩm, vải, quần áo,
các phơng tiện sinh hoạt gia đình, thuốc chữa bệnh...vv. Những hàng hoá tiêu
dùng ngày càng nhiều theo đà tăng của sự phát triển kinh tế hàng hoá. Ngoài
những hàng hoá vật chất phục vụ tiêu dùng cho cá nhân và gia đình, có những
lợng sản phẩm. Thị trờng kiểm nghiệm tính phù hợp của sản xuất đối với tiêu
dùng xã hội. Trên ý nghĩa đó có thể nói thị trờng điều tiết sản xuất kinh doanh
và là động lực của sản xuất kinh doanh. Thông qua thị trờng, hoạt động kinh tế
của các doanh nghiệp ngày càng năng động, sáng tạo hơn, hiệu quả của sản
xuất kinh doanh ngày càng đợc nâng cao.
Thị trờng còn là nơi cuối cùng để chuyển những lao động t nhân, lao
động cá biệt thành lao động xã hội.
20
Cung và cầu là khái quát hoá hai lực lợng cơ bản của thị trờng là ngời bán
và ngời mua, ngời sản xuất và ngời tiêu dùng. Quan hệ cung cầu chỉ ra rằng, mặc
dù giá trị xã hội hay giá trị thị trờng đã đợc hình thành trong quá trình sản xuất
song nó có thể đợc thực hiện cao hơn, thấp hơn hay ngang bằng tuỳ theo tơng
quan cung cầu bằng một mức giá cụ thể. Quan hệ cung cầu ảnh hởng trực tiếp
đến từng hành vi trao đổi. Trên thị trờng, ngời sản xuất đứng về phía cung và ng-
ời tiêu dùng đứng về phía cầu gặp nhau để xác định giá cả và khối lợng hàng hoá
nh bán ra, mua vào. Vì vậy cung- cầu giữ vai trò quan trọng đối với việc hình giá
cả thị trờng và xác định lợng mua vào.
Cầu là số lợng hàng hoá và ngời tiêu dùng muốn mua và có khả năng
mua tại các mức giá khác nhau trong khoảng thời gian nhất định(Các yếu tố
khác không đổi). Có 2 khái niệm liên quan là cầu cá nhân và cầu thị trờng. Cầu
thị trờng là tổng hợp của tất cả các cầu cá nhân lại với nhau theo chiều ngang.
Quy luật cầu đợc biểu hiện số lợng hàng hoá đợc cầu trong khoảng thời gian
đã cho tăng lên khi giá cả của hàng hoá giảm xuống và ngợc lại. Quy luật cầu
tơng ứng với trực giác, khi giá cả giảm xuống, ngời tiêu dùng đã cho có thể sẵn
sàng và có khả năng mua một lợng nhiều hơn và các ngời tiêu dùng mới cũng
sẵn sàng và có khả năng xâm nhập thị trờng.
Giá cả của chính hàng hoá nào đó là yếu tố quan trọng, song không phải
là yếu tố duy nhất quyết định lợng hàng cần mua. Quyết định lợng nhu cầu còn
có nhiều yếu tố khác.Trên thực tế giá cả còn phụ thuộc vào các biến số nh: Thu
nhập của ngời mua; giá cả của hàng hoá và dịch vụ có liên quan; dự đoán về sự
Phân tích ở tên cho thấy lu thông là cầu nối giữa một bên là sản xuất và
phân phối, một bên là trao đổi. Các khâu của quá trình tái sản xuất, có mối quan
hệ mật thiết với nhau trong đó, sản xuất là điểm xuất phát, là khâu quyết định
quá trình tái sản xuất. Do vậy, tổ chức lu thông không thể đơn thuần là tổ chức
trao đổi hàng hoá mà là một quá trình có liên quan tới tất cả các khâu của quá
trình tái sản xuất. Vì vậy yêu cầu đặt ra là:
22
+ Muốn giải quyết đúng đắn các vấn đề của tổ chức lu thông t liệu sản
xuất thì phải đặt nó trong tổng thể nền kinh tế, trong mối quan hệ chặt chẽ với
sản xuất và đời sống. Tổ chức lu thông t liệu sản xuất phải dựa vào sản xuất,
chủ động thúc đẩy sản xuất phát triển. Đặt lu thông t liệu sản xuất trong tổng
thể nền kinh tế có nghĩa là đặt nó nh những bộ phận hữu cơ của quá trình tái sản
xuất thống nhất bao gồm các khâu: sản xuất, phân phối-lu thông, tiêu dùng.
Trong quá trình tái sản xuất, sản xuất là cái gốc có tác dụng quyết định nhất vì
chỉ có sản xuất mới tạo ra của cải vật chất để phân phối, lu thông và đáp ứng
các nhu cầu tiêu dùng. Tiêu dùng là mục đích của sản xuất cũng nh của phân
khối, lu thông t liệu sản xuất tiêu dùng bao gồm tiêu dùng cho sản xuất, đời
sống, quốc phòng,... nó gắn liền với việc thực hiện ba nhiệm vụ cơ bản, còn
phân phối lu thông t liệu sản xuất là những khâu trung gian nối liền sản xuất với
tiêu dùng cho nên công tác lu thông t liệu sản xuất phải lấy trình độ sản xuất,
phải lấy khối lợng sản phẩm đã sản xuất ra làm điểm xuất phát; giữa khả năng
và nhu cầu, bảo đảm quá trình tái sản xuất thông suốt và không ngừng mở rộng
trên cơ sở hoàn thành các nhiệm vụ cách mạng.
+ Muốn giải quyết đúng vấn đề tổ chức lu thông t liệu sản xuất phải đặt
nó trong toàn bộ công tác cải tiến quản lý của Nhà nớc: lu thông t liệu sản xuất
là một khâu cơ bản của quá trình tái sản xuất, một bộ phận của nền kinh tế quốc
dân, cải tiến công tác tổ chức lu thông t liệu sản xuất phải đặt trong toàn bộ
công tác cải tiến quản lý kinh tế. Hệ thống quản lý kinh tế ở nớc ta phải lấy kế
hoạch hoá làm trung tâm, đồng thời sử dụng đúng đắn quan hệ hàng hoá tiền tệ,
các đòn bẩy kinh tế, thực hiện hạch toán kinh tế. Hoạt động lu thông t liệu sản
đẩy sản xuất, ổn định cải thiện đời sống thì các chính sách lu thông t liệu sản
xuất, kết hợp tốt ba lợi ích xã hội, tập thể, cá nhân. Kết hợp ba lợi ích phải căn
cứ vào tình hình và nhiệm vụ của từng thời kỳ. Trong điều kiện hiện nay phải
chú ý hơn nữa đến nhu cầu về đời sống của ngời lao động, ngời sản xuất, vì từ
lao động và sản xuất mà tạo ra mọi của cải và thu nhập quốc dân để phân phối
cho ba lợi ích. Xét về bản chất ba lợi ích là thống nhất, song cũng có những mặt
mâu thuẫn, lu thông t liệu sản xuất, khắc phục những mặt mâu thuẫn đấy, bảo
đảm cho ba lợi ích đó kết hợp hài hoà với nhau tạo ra động lực thúc đẩy ngời
24
lao động, các đơn vị cơ sở, các ngành và địa phơng chăm lo đẩy mạnh sản xuất,
tăng năng suất lao động và hiệu quả kinh tế.
+ Lu thông t liệu sản xuất phải bảo đảm tốt mối quan hệ giữa công
nghiệp với nông nghiệp, củng cố liên minh công - nông. Kết hợp công nghiệp
với nông nghiệp, xây dựng cơ cấu kinh tế là một nội dung cơ bản của chúng ta
hiện nay. Để giải quyết đúng đắn các mối quan hệ đó, trong lĩnh vực lu thông t
liệu sản xuất phải có các chính sách và phơng thức đúng đắn để tổ chức và trao
đổi sản phẩm giữa Nhà nớc và nông dân, thực hiện sự viện trợ tài chính và kỹ
thuật cho nông nghiệp. Huy động nguồn tích luỹ từ nông nghiệp cho công
nghiệp, cải thiện đời sống nhân dân. Chính sách lu thông t liệu sản xuất phải
thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển, tăng nhanh sản phẩm hàng hoá phục
vụ đời sống, và tạo nguyên liệu cho công nghiệp, tăng xuất khẩu.
1.3.4. Nhà nớc và tổ chức lu thông t liệu sản xuất t liệu sản xuất trong
nền kinh tế thị trờng
Ưu điểm của cơ chế thị tr ờng:
+ Cơ chế thị trờng có khả năng tự động điều tiết nền sản xuất xã hội, tự
động phân bổ các nguồn tài nguyên vào các khu vực, các ngành kinh tế mà
không cần bất cứ sự điều khiển từ trung tâm nào.
+ Cơ chế thị trờng, với sự dẫn dắt của động lực lợi nhuận có thể phát huy
cao nhất tính năng động, tài năng của mỗi ngời. Kích thích áp dụng kỹ thuật
mới, giảm chi phí sản xuất, sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả các nguồn lực...