Lời nói đầu
1-/ Tính cấp thiết của đề tài.
Trong nền kinh tế thị trờng, hoạt động của các doanh nghiệp chịu sự chi
phối nghiệt ngã của các quy luật kinh tế (quy luật giá trị, quy luật cung, cầu,
quy luật cạnh tranh ...) tất yếu dẫn đến sự phát triển, tăng trởng của doanh
nghiệp này, phá sản của doanh nghiệp khác, Sức mạnh của nền kinh tế thị tr-
ờng là sự tăng trởng cao, song nó cũng chứa đựng nhiều khuyết tật cố hữu hình
thành những mâu thuẫn không tự điều hoà nổi.
ở nớc ta từ sau Đại hội Đảng VI (1986) Nhà nớc chủ trơng chuyển nền
kinh tế hiện vật theo cơ chế tập trung, bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần theo định hớng XHCN vận hành theo cơ chế thị trờng. Trong cơ chế
đó các thành phần kinh tế vừa cạnh tranh (hợp pháp) vừa hợp tác phát triển. Sự
thay đổi này làm thay đổi mọi mặt hoạt động kinh doanh của ngành thơng mại
Việt Nam.
Sự giao lu hàng hoá trên thị trờng cả nớc đợc thông suốt không ràng buộc
nhiều bởi các mệnh lệnh hành chính. Thị trờng trong nớc từng bớc phát triển và
ngày càng hoà nhập vào thị trờng khu vực và thế giới.
Hàng hoá trên thị trờng phong phú, nhu cầu tiêu dùng tuỳ theo khả năng
thanh toán của mình. Điều đó kích thích các nhà sản xuất tích cực đổi mới công
nghệ, mặt hàng, nâng cao chất lợng và hạ giá thành hàng hoá.
Sự chuyển đổi nền kinh tế theo hớng thị trờng hàng hoá đã khơi dậy
nhiều tiềm năng kinh tế, làm cho kinh tế hàng hoá phát triển mạnh, nó xoá dần
tính chất tự cung tự cấp trong sản xuất và lu thông hàng hoá trên nhiều vùng
kinh tế xã hội của Việt Nam.
1
Nhà nớc thông qua các công cụ quản lý vĩ mô tác động vào thị trờng để
điều tiết cung cầu. Hàng hoá đợc tự do lu thông giữa các vùng trong cả nớc thị
trờng sôi động tạo khả năng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp dẫn đến hiệu quả
kinh doanh trong thơng mại.
Phân bón là một trong những mặt hàng vật t quan trọng phục vụ chủ yếu
cho sản xuất Nhà nớc. Tuy nhiên trong tổng khối lợng nhiều triệu tấn phân hoá
và kinh doanh phân bón vô cơ ở Việt nam, từ đó đề xuất một số kiến nghị với
Chính phủ và Nhà nớc về vấn đề điều hành phân bón trong thời gian tới.
3
phần I
Hệ thống tổ chức quản lý lu thông phân bón
vô cơ ở Việt nam
1-/ Nhà nớc và vai trò tổ chức, quản lý lu thông
phân bón vô cơ trên thị trờng.
1.1-/ Nhà nớc và vai trò điều tiết nền kinh tế.
Kinh tế thị trờng là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trờng, ở đó sản
xuất cái gì, nh thế nào, cho ai đều đợc quyết định thông qua thị trờng.
Trong nền kinh tế thị trờng, các quan hệ kinh tế của các cá nhân, các doanh
nghiệp đều biểu hiện qua mua bán hàng hoá, dịch vụ trên thị trờng. Thái độ c
xử của các thành viên tham gia thị tròng là hớng vào tìm kiếm lợi ích của mình
theo sự dẫn dắt của giá cả thị trờng.
Kinh tế thị trờng vận hành theo cơ chế thị trờng, đến lợt nó, cơ chế thị tr-
ờng tác động dới sự chi phối của các quy luật thị trờng trong môi trờng cạnh
tranh nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Nhân tố cơ bản của thị trờng, cơ chế thị trờng là hàng hoá tiền tệ, ngời
bán, ngời mua, từ đó hình thành mối quan hệ cơ bản của cơ chế thị trờng là
quan hệ cung cầu. Về bản chất, cơ chế thị trờng là cơ chế giá cả tự do. Cơ chế
này có một số đặc trng sau:
-Các vấn đề liên quan đến phân bổ, sử dụng các nguồn tài nguyên, lao
động, vốn đợc quyết định một cách khách quan thông qua hoạt động của các
quy luật kinh tế.
-Hầu nh tất cả các mối quan hệ kinh tế giữa các chủ thể kinh tế đều đợc
tiền tệ hoá.
-Lợi nhuận là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, thúc đẩy tăng trởng
kinh tế và lợi ích kinh tế. Cơ chế thị trờng dùng lỗ lãi để quyết định các vấn đề
kinh tế cơ bản.
cũng nh xã hội của loài ngời nó đang thay đổi.
5
Những nhợc điểm của cơ chế thị trờng:
+ Cơ chế thị trờng có thể gây ra những mât ổn định và thờng xuyên phá
vỡ cân đối trong nền sản xuất xã hội. Thực tế phát triển kinh tế thị trờng chỉ rõ
những vấn đề lạm phát và thất nghiệp, chu kỳ kinh doanh luôn là những căn
bệnh kinh niên không thể khắc phục đợc nếu không có sự can thiệp của nhà n-
ớc.
+ Cơ chế thị trờng bao hàm cả những thất bại thị trờng, nó là môi trờng
đẻ ra các tệ nạn kinh tế nh buôn lậu, hàng giả, lừa đảo, cạnh tranh không lành
mạnh.... làm giảm hiệu quả của nền kinh tế.
+ Cơ chế thị trờng có xu hớng làm cho sự phân hoá thu nhập ngày càng
tăng giữa các tầng lớp dân c, gây ra những bất bình đẳng về kinh tế trong xã
hội.
+ Trong cơ chế thị trờng, vì mục tiêu lợi ích cá nhân, một số hoạt động
kinh tế có khả năng là tăng mức ô nhiễm môi trờng, tâm lý chạy theo đồng tiền
làm xuất hiện lối sống ích kỷ, thực dụng, có thể gây ra những hậu quả xấu về
mặt xã hội.
+ Hơn nữa, các lĩnh vực hoạt động rất cần cho sự ổn định và tăng trởng
kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội nh có mức sinh lợi thấp, thời gian thu hồi
vốn chậm thờng không đợc giới kinh doanh chú ý đầu t phát triển,
Qua sự phân tích trên cho thấy, nền kinh tế thị trờng không phải là một
hệ thống đợc tổ chức hài hoà mà bản thân hệ thống đó chứa đựng rất nhiều nhợc
điểm. Những khuyết tật của cơ chế thị trờng cần phải đợc khắc phục hạn chế.
Song bản thân thị trờng không thể tự giải quyết những vấn đề đó. Vì vậy, kinh
tế thị trờng ngày nay không thể thiếu đợc vai trò quản lý của nhà nớc. Kinh tế
thị trờng không phải là gậy thần, liều thuốc vạn năng. Thành công của mỗi quốc
gia khi chuyển sang kinh tế thị trờng chủ yếu phụ thuộc vào sự kết hợp giữa khả
năng điều tiết của thị trờng (bàn tay vô hình) và sự quản lý điều tiết của nhà nớc
(bàn tay hữu hình). Đến nay vai trò của nhà nớc trong kinh tế thị trờng đã đợc
ro cả cho những nhà sản xuất lẫn doanh nghiệp lu thông.
7
ở nớc ta, có tới 80% dân số làm nông nghiệp, trong những năm tiến hành
công cuộc đổi mới gần đây, nền nông nghiệp nớc nhà có những bớc phát triển t-
ơng đối ổn định, đã góp phần tăng trởng kinh tế chung của đất nớc, sản lợng l-
ơng thực mỗi năm một tăng, từ chỗ hàng năm thiếu ăn về lơng thực, tới nay
chúng ta không những đủ ăn, có dự trữ mà còn xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên
thế giới. Có đợc kết đó là do Chính phủ có những chủ chơng, chính sách phù
hợp với yêu cầu thực tiễn, phù với bối cảnh sản xuất hàng hoá trong cơ chế thị
trờng và đã làm tăng đáng kể năng suất cây trồng mỗi năm. Theo tính toán của
IFRT năm 1996 thì việc tăng năng suất đóng góp trên 80% tăng sản lợng lơng
thực và trong tơng lai việc tăng sản lợng đó sẽ còn dựa vào việc tăng năng
suất.Vì vậy để đảm bảo an ninh lơng thực quốc gia ,thâm canh và giống mới có
thể đợc coi nh là giải pháp duy nhất đối với Việt nam. Trong thâm canh và trong
việc sử dụng giống mới thì phân bón vô cơ vô cùng quan trọng và ngày càng
quan trọng. Nó góp phần tăng năng suất cây trồng qua nhiều cơ chế tác động
khác nhau. Song quan trọng là phân bón cung cấp cho cây trồng những dinh d-
ỡng cần thiết mà đất không đủ khả cung cấp, góp phần duy trì độ phì nhiêu của
đất trong quá trình canh tác. Mặt khác cùng với năng suất kinh tế, phân bón góp
phần tăng lợng sinh khối và nhờ đó tăng hữu cơ trả lại cho đất-yếu tố cực kỳ
quan trọng với đất nhiệt đới. Tuy nhiên, để đa phân bón vô cơ vào sử dụng trong
nông nghiệp, đáp ứng nhu cầu sử dụng cho ngời nông dân, nhằm tăng năng suất
cây trồng, tăng sản lợng thì không thể không kể đến vai trò của các nhà sản
suất-kinh doanh-cung ứng phân bón vô cơ thên thị trờng, đó là các nhà doanh
nghiệp kinh doanh phân bón chuyên ngành, các doanh nghiệp nhà nớc, các
doanh nghiệp và đại lý t nhân. Theo con số thống kê của các nhà chuyên môn
thì khả năng đáp ứng bằng sản xuất phân bón công nghiệp trong nớc còn thấp,
mới khoảng 65--75% về phân lân,8-9% về phân đạm, còn lại đều phải nhập
khẩu. Do vậy với nhu cầu phân bón sử dụng hàng năm cho nông nghiệp nớc ta,
ớc tính năm 2000 là 2,95 triệu tấn thì số lợng phân bón các loại cần nhập khẩu
cho vay Đôla với điều kiện là phải nhập khẩu hàng hoá (đồng thời có chủ trơng
cấm nhập khẩu 17 mặt hàng) nên đã cố tình vay Ngân hàng, và vay vốn này dồn
đi buôn phân bón về nhiều. Trong thời gian ngắn có tới gần 100 đơn vị đi buôn,
9
phân bón về nhiều, ứ đọng, phát sinh tăng thêm các loại chi phí lu kho,lu
bãi,hao hụt, hao hụt, lãi suất ngân hàng....Do vậy buộc phải bán giá thấp; giá
lúc bấy giờ rẻ hơn nhiều vùng, nhiều nớc trong khu vực. Đồng thời lúc này do
do chênh lệch mức lãi suất giữa vay tiền đồng và tiền đô la càng khích lệ các
doanh nghiệp nhẩy vào lãnh vực nhập khẩu phân bón. Cụ thể vay đô la thì mức
lãi suất 0,5% tháng (=6% năm) trong khi tỷ giá ít thay đổi, nếu vay tiền đồng
2,1% tháng (=25,2% năm) nh vậy chênh lệch lãi suất giữa vay đô la và tiền
đồng trong 6 tháng là 9,6%, bán lỗ phân bón 5%(trong 6 tháng) nẫn còn lãi
4,6%. vì thế nên có nhiều doanh nghiệp làm ngơ chuyện lỗ lãi. Theo ớc tính của
các nhà kinh tế thì quý IV/1992 và cả năm 1993 cả nớc lỗ khoảng 200-300 tỷ
đồng, số lỗ này nhà nớc gánh chịu chủ yếu vì vốn kinh doanh của các doanh
nghiệp quốc doanh phần lớn là vốn ngân sách cấp.Bớc sang năm 1994, do năm
1993 phân bón ứ đọng, thua lỗ nên Chính phủ đã cấm nhập khẩu phân bón tràn
lan, gom lại chỉ có 17 đầu mối, trong đó có 16 đầu mối nhập khẩu 40% còn 01
đầu mối đảm nhận 60%. Sự thay đổi về nhập khẩu phân bón theo chiều hớng
thu gọn lại đầu mối và các đơn vị đợc giao hạn ngạch nhập cha đủ điều kiện
đảm nhận đã đẩy đến sự hững hụt trong nhập khẩu phân bón, thị trờng trong n-
ớc bị thiếu trầm trọng, con sốt phân bón thịnh hành. Để duy trì mặt hàng cung
cấp liên tục phân bón cho hệ thống đại lý có phân bón phục vụ cho sản xuất
nông nghiệp, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh không có hạn ngạch phải đi
kiếm hạn ngạch của các doanh nghiệp quốc doanh để nhập khẩu phân bón. Sang
đầu năm 1995 do ảnh hởng giá phân bón của thị trờng thế giới liên tục tăng và
tăng cao ở mức Urê khoảng 260-265 USD/T, lúc này cũng là thời điểm chuẩn bị
phải sử dụng phân bón, các doanh nghiệp chạy theo lợi nhuận lại lại đua nhau
nhập khẩu phân bón và tình trạng mua bán hạn ngạch giữa các doanh nghiệp
quốc doanh và ngoài quốc doanh càng trở nên phức tạp và tiêu cực hơn. Cho
phân bón đợc tính toán khá sát với yêu cầu thực tế, đã có quyết định giao kế
hoạch nhập khẩu ngay từ đầu năm, tạo điều kiện chủ động giao dịch, ký kết hợp
đồng nhập khẩu và cung ứng kinh doanh trên thị trờng.
Từ những phân tích trên mục đích chứng minh rằng xây dựng cơ chế thị
trờng là bớc đi tất yếu khách quan, nghĩa là chấp nhận trên thực tế sự tham gia
11
kinh doanh phân bón vô cơ của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế
khác, một khi các doanh nghiệp này có thực lực về kinh tế. Nhng không có
nghĩa là phó mặc cho thị trờng tất cả, mà các cơ quan chức năng của Nhà n-
ớc cần giám sát chặt chẽ, tổ chức theo dõi thờng xuyên việc thực thi nhiệm vụ
kinh doanh phân bón, đặc biệt là nhập khẩu, để từng bớc ổn định đội ngũ th-
ơng nhân chuyên kinh doanh phân bón có thực lực kinh tế, có kinh nghiệm
kinh doanh.
2-/ Hệ thống cơ quan quản lý và điều tiết lu thông
phân bón vô cơ của nền kinh tế.
2.1-/ Về Tổ chức cơ quan quản lý và điều tiết phân bón vô cơ
Nh trên đã phân tích, trong tổng khối lợng nhiều triệu tấn phân hoá học
tiêu dùng hàng năm thì sản xuất trong nớc mới chỉ đáp ứng đợc khoảng 65%
nhu cầu về lân, cha tới 10% nhu cầu về đạm, còn nhiều loại khác thì trong nớc
vẫn cha sản xuất đợc. Do vậy hàng năm nớc ta vẫn phải bỏ ra hàng triệu USD để
nhập khẩu phân bón. Từ nhiều năm nay nhà nớc đã áp dụng nhiều biện pháp
quản lý khác nhau, quản lý nhập khẩu bằng hạn ngạch, chỉ định các đơn vị đầu
mối đợc kinh doanh nhập khẩu; hỗ trợ giá cớc vận chuyển phân bón Bắc-Nam
lên Miền núi, cho vay vốn sản xuất, dự trữ thời vụ phân bón với lãi suất u
đãi... .Tuy nhiên, những năm gần đây, hệ thống cung ứng phân bón phải đối mặt
với những thử thách to lớn và trải qua mấy nấc thăng trầm tơng ứng với những
phơng sách quản lý khác nhau của nhà nớc. Từ giữa năm 1991 trở về trớc việc
nhập khẩu phân bón hoá học (chủ yếu là ure) nằm trong quy đạo của cơ chế kế
hoạch hoá tập trung. Mỗi năm, Tổng công ty vật t nông nghiệp thực hiện nhập
khẩu từ 800.000-1.000.000 tấn ure theo nghị định th giữa hai nhà nớc Việt Nam
* Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chịu trách nhiệm xây dựng kế
hoạch cân đối Cung- cầu phân bón trong từng vụ, của từng miền trong cả nớc,
14
Nước bán phân bón
trên thế giới
Các đầu mối nhập
khẩu được chỉ định
Cửa hàng đại lý
bán lẻ
Tổ chức trung gian
phân bón
Nông dân
Bộ công nghiệp
Bộ Nông nghiệp &
PTNT, Bộ Thương
mại
Bộ Tài
chính
Ngân
hàng
Tỉnh
TP
Hải
quan
Vật
giá
Bộ
KHĐT
Bộ
KHCN
*Ban vật giá Chính phủ, tuỳ từng trờng hợp là cơ quan xác định mức trọ
giá cho từng mặt hàng, từng địa phơng, xác định mức giá bán tối đa giá trần
cho từng mặt hàng.
*Tổng công ty Vật t nông nghiệp chịu trách nhiệm: ngoài việc thực hiện
đầy đủ trách nhiệm nh các doanh nghiệp khác còn phải từng bớc tổ chức lại
mạng lới bán buôn, đại lý bán phân bón trực tiếp đến nông dân, quản lý chặt
chẽ quỹ dự trữ lu thông phân bón đợc nhà nớc giao, chịu trách nhiệm đảm bảo
dự trữ lu thông bằng ngoại tệ và bằng hiện vật cho 3 miền Bắc, Trung, Nam,
theo quy định; khi xảy ra đột biến giá và mất cân đối quan hệ Cung- cầu phải
kịp thời đa lực lợng dự trữ lu thông can thiệp thị trờng theo chỉ đạo của Bộ nông
nghiệp và phát triển nông thôn và Bộ Thơng mại nhằm ổn định Cung- cầu và
giá phân bón trong cả nớc.
*Đối với các loại phân hoá học là nguyên liệu sản xuất phân bón tổng
hợp, Bộ Thơng mại thống nhất với Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ
công nghiệp, cho phép một số doanh nghiệp bảo đảm nhập đủ nguồn nguyên
liệu cung ứng cho các cơ sở sản xuất phân bón trong nớc đã đợc Bộ công nghiệp
cấp giấy phép sản xuất và Bộ khoa học công nghệ và môi trờng cấp giấy chứng
nhận chất lợng hàng hoá. Bộ công nghiệp rà soát, chấn chỉnh lại các doanh
nghiệp sản xuất phân bón tổng hợp, nhằm mục đích bảo đảm chất lợng hàng
hoá và cân đối Cung- cầu về phân bón tổng hợp.
*Ban chỉ đạo để điều hành hoạt động xuất khẩu gạo và nhập khẩu phân
bón do một thứ trởng Bộ Thơng mại làm trởng ban, bao gồm đại diện của Bộ
Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ tài chính, Ngân hàng nhà nớc, Tổng
cục Hải quan, một số tỉnh có sản lợng lúa hàng hoá lớn và hiệp hội XNK lơng
thực Việt Nam.
2.1-/ Về cung ứng phân bón vô cơ trong nớc:
Từ năm 1991 trở về trớc: hệ thống cung ứng phân bón do Quốc doanh
độc quyền đợc tổ chức thành 2 cấp: cấp I (Tổng công ty vật t nông nghiệp
Trung Ương,) cung ứng đến kho cấp II (Tỉnh), Cấp II cung ứng cho cấp III (Cấp
16
Việt
Nam
Cấp III
Hợp
tác xã,
tập
đoàn
sản
xuất
Mô hình cung ứng phân bón hoá học thời kỳ đổi mới
cơ chế kinh tế.
Đi đôi với hệ thống cung ứng phân bón theo hớng tự do lu thông. Nhà n-
ớc cũng thực hiện tự do hoá giá cả- có nghĩa là về cơ bản giá phân bón do thị tr-
ờng quyết định. Tuy vậy, nhng để nông dân đợc hởng mức giá bình ổn nhất là
khi thời vụ cần có phân bón chăm sóc cây trồng Nhà nớc đang sử dụng quỹ bình
ổn giá để hỗ trợ cho kinh doanh phân bón dự trữ lu thông một số lợng phân ure
nhất định để chủ động bán ra ở thời điểm bình thờng cũng khi thời vụ hoặc ở
thời điểm giá cả tăng cao, bảo đảm để nông dân mua đợc đạm ure xoay quanh
định hớng 1 ure tơng đơng 2 lúa mà nông dân đồng bằng Sông Cửu Long và
khoảng 1,5 lúa ở đồng bằng sông Hồng đã chấp nhận.
3-/ Các công cụ quản lý và điều tiết lu thông phân
bón vô cơ của nhà nớc ở Việt nam .
Quản lý và điều tiết vĩ mô thị trờng và lu thông nói chung và phân bón vô
cơ nói riêng là vấn đề phức tạp, khó khăn. Sự quản lý và điều tiết của các cơ
quan nhà nớc ở tầm vĩ mô phải hết sức mềm dẻo, linh hoạt, phải xuất phát từ
18
Nước bán phân hoá
học trên thế giới
Các đầu mối nhập
khẩu
qua sự tác động tới các yếu tố then chốt đó sẽ đảm bảo sự phát triển tối u của
nền kinh tế. Kế hoạch hoá vĩ mô là kế hoạch định hớng, thực hiện những cân
đối lớn nhằm đảm bảo tốc độ phát triển hợp lý và hiệu quả cao.
Kế hoạch định hớng ở tầm vĩ mô cũng phải đợc thay đổi linh hoạt phù
hợp với sự vận động khách quan của nền kinh tế. Cùng với các chơng trình mục
tiêu, kế hoạch kinh tế quốc dân đợc xây dựng đúng đắn sẽ là một công cụ quan
trọng. ở các nớc T bản phát triển, các nớc công nghiệp mới đã sử dụng thành
19
công Kế hoạch kinh tế quốc dân nh một công cụ trọng tâm, tác động vào nền
kinh tế .
3.1.1.Mô hình kế hoạch hoá định hớng
+ Mục tiêu của KHHĐH:Là nhằm giữ một số cân đối lớn trong nền kinh
tế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc.
+ Chủ thể của KHHĐH:Trong mô hình kế hoạch hoá cũ (Kế hoạch hoá
tập trung), chủ thể của kế hoạch hoá là nhà nớc, ở đây kế hoạch là cơng lĩnh thứ
2 của Đảng, là pháp lệnh của cơ quan quyền lực nhà nớc tối cao (Quốc hội, Hội
đồng nhân dân). Chính phủ chỉ giữ vai trò tổ chức thực hiện kế hoạch.
Trong mô hình KHHĐH hiện nay, Đảng lãnh đạo làm chiến lợc (không
làm kế hoạch), Quốc hội làm Hiến pháp (không làm kế hoạch). Chủ thể của
KHHĐH là Chính phủ. Chính phủ làm KHHĐH trong khuôn khổ chiến lợc do
Đảng quyết nghị và tuân thủ hệ thống pháp luật do Quốc hội quyết định. Sự
phân định nh vậy một mặt, đề cao đúng mức vai trò của Chính phủ, mặt khác
không hạ thấp vai trò của Đảng, Quốc hội khi phải quyết định những dự án kế
hoạch. Đồng thời làm cho mối quan hệ giữa chiến lợc với luật pháp đợc thể hiện
nhất quán trong kế hoạch mà sự nhất quán đó đợc quy tụ vào một nơi chịu trách
nhiệm là Chính phủ.
+ Đối tợng của KHHĐH: Trong mô hình kế hoạch hoá tập trung trớc đây,
đối tợng của kế hoạch là các quá trình kinh tế diễn ra trong khu vực sở hữu công
cộng, đặc biệt là khu vực doanh nghiệp quốc doanh do quan niệm rất hẹp về hàng
hoá- tiền tệ, nên ngay trong khu vực sở hữu công cộng, nhiều quá trình kinh
hình kế hoạch cũ, các cân đối hiện vật giữ vai trò trọng yếu (lơng thực, xăng
dầu, phân bón....). nhng dù mở rộng danh mục đến đâu cũng không thể nào thể
hiện nổi tổng cân đối (về hiện vật ) của nền kinh tế. Trái lại phơng pháp cân đối
của mô hình KHHĐH đòi hỏi phải chuyển sang những cân đối vĩ mô đợc đo
bằng các tiêu chuẩn tài chính, tiền tệ trong đó chủ yếu nh: Cân đối tiết kiệm và
tiêu dùng, cân đối cán cân thơng mại, cân đối cán cân thanh toán quốc tế, cân
đối thu chi ngân sách ....những cân đối này phải dựa trên sự vận động thực tế
của hệ thống tài chính, tiền tệ, giá cả của nền kinh tế.
21
+ Nội dung chủ yếu của KHHĐH: Xác định các chỉ tiêu tổng hợp của
nền Kinh tế quốc dân, các chỉ tiêu định hớng cân đối đầu t và tiêu dùng các chỉ
tiêu cân đối ngân sách, các chủ tiêu cân đối tiền tệ, các chỉ tiêu định hớng điều
chỉnh cơ cấu kinh tế trong tác động của định hớng cán cân thơng mại và định h-
ớng cán cân thanh toán quốc tế, các chỉ tiêu định hớng cân đối lao động xã hội.
3.1.2.Mô hình kế hoạch hoá định hớng phát triển thơng mại trong nền
kinh tế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc
+ Mục tiêu của KHHĐH phát triển thơng mại: ổn định thị trờng, phát
triển lu thông thị trờng hàng hoá phát triển xuất nhập khẩu và lợi nhuận.
+ Chủ thể của KHHĐH phát triển thơng mại: Là Bộ Thơng mại- cơ
quan nhà nớc Trung ơng của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nớc
đối với ngành thơng mại trong phạm vi cả nớc. Trong đó Bộ trởng Bộ Thơng
mại với t cách vừa là thành viên Chính phủ vừa là Thủ trởng của Bộ chịu trách
nhiệm trình Chính phủ chiến lợc, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành thơng
mại, phơng hớng mục tiêu và các cân đối lớn của kế hoạch dài hạn, trung hạn và
ngắn hạn, bao gồm tất cả các thành phần kinh tế thuộc ngành Thơng mại để
định hớng cho toàn ngành, các địa phơng (các Sở thơng mại) các đơn vị cơ sở
thuộc Bộ trong việc xây dựng kế hoạch của mình, trên cơ sở đó Bộ tổng hợp và
phân tích hoạt động kinh tế- kỹ thuật toàn ngành thơng mại. Bộ trởng Bộ thơng
mại có trách nhiệm tổ chức chỉ đạo thực hiện kế hoạch phát triển thơng mại
trong phạm vi cả nớc(Điều 116 hiến pháp năm 1992, luật tổ chức Chính phủ,
doanh; định lợng nguồn cung ứng của nhà nớc; các chỉ tiêu định mức cung ứng
và những địa chỉ cấp phát chính thuộc khu vực kinh tế nhà nớc. Vì thế một mặt
không bao quát đợc tổng lợng hàng hoá cung ứng của toàn xã hội và tổng nhu
cầu hàng hoá của toàn xã hội. Mặt kế hoạch hoặc không tính đến giá trị giá trị
thực tế của hàng hoá do sự chi phối của gía trị đồng tiền nội tệ bị trợt giá và các
yếu tố lạm phát. Nay chuyển sang sử dụng phơng pháp giá trị là chính, nên các
chỉ tiêu về nhu cầu thị trờng cần đợc đặc biệt coi trọng nh: Tổng quỹ mua, sức
mua thực tế của toàn xã hội. Tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu;
giá trị đồng Việt Nam trong quan hệ thanh toán thơng mại; nhu cầu của các
khu vực nớc bạn hàng xuất khẩu; các chỉ tiêu về thuế, đặc biệt là thuế xuất khẩu
23
và thuế nhập khẩu; chỉ giá cả trong nớc và giá xuất khẩu; các chỉ tiêu hiệu quả
thơng mại nh tổng doanh số (mua vào và bán ra), lợi nhuận; các chỉ tiêu về ổn
định thị trờng nội địa, các chỉ tiêu cân đối thị trờng các mặt hàng thiết yếu...
trong đánh giá thực trạng cũng nh nêu ra các định hớng phát triển Thơng mại
Việt Nam.
Theo đó, để xây dựng các phơng án kế hoạch Thơng mại có chất lợng Bộ
Thơng mại phải tổ chức điều tra cơ bản (nhất về năng lực sản xuất và điều tra về
sức mua), nghiên cứu dự báo về xu hớng và động thái của thị trờng đặc biệt là
thị trờng xuất khẩu. Trớc hết là các khu vực thị trờng trọng điểm và thị trờng
các mặt hàng thiết yếu liên quan đến những cân đối lớn của nền kinh tế
+ Nội dung chủ yếu của kế hoạch hoá định hớng phát triển thơng mại
trong nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của nhà : Nghi quyết số 12 NQ/TW
của Bộ Chính trị đã xác định kế hoạch hoá Thơng mại trong nền kinh tế thị tr-
ờng phải thể hiện các nội dung: xây dựng chiến lợc thị trờng và quy hoạch phát
triển thơng mại đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế hàng hoá, tạo điều kiện thúc
đẩy sản xuất phát triển. Xác định các cân đối lớn (Cân đối Tổng cung- Tổng
cầu, cân đối tiền- hàng cân đối Cung- cầu từng mặt hàng thiết yếu....).
Về mặt phơng pháp luận, có thể phác hoạ và xác định một số nội dung
chủ yếu của kế hoạch thơng mại nh sau:
lý của nhà nớc do Bộ Thơng mại xác lập. Chính phủ phê duyệt, đó là loại kế
hoạch gián tiếp hớng dẫn thị trờng và các hoạt động thơng mại của các thơng
nhân, kế hoạch đó có đối tợng là toàn bộ của các quá trình lu thông hàng hoá
các hoạt đông thơng mại hàng hoá trong nớc và với nớc ngoài của tất cả các
thành phần kinh tế kế hoạch, từ đó định ra những cân đối chủ yếu nhất của nền
thơng mại nh cân đối Tổng cung- Tổng cầu, cân đối tiền- hàng, cân đối Cung-
cầu các mặt hàng thiết yếu ... nhằm mục tiêu giữ một số cân đối của thị trờng và
thơng mại, ổn định, phát triển lu thông hàng hoá, phát triển xuất nhập khẩu và
lợi nhuận. Đồng thời, hớng thị trờng và các quá trình thơng mại trong nớc và
với nớc ngoài tiến tới một thế cân bằng mới theo yêu cầu của phát triển kinh tế-
25