Hoàn thiện hệ thống tổ chức kinh doanh phân bón vô cơ ở VN - Pdf 76

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời nói đầu
1-/ Tính cấp thiết của đề tài.
Trong nền kinh tế thị trờng, hoạt động của các doanh nghiệp chịu sự chi
phối nghiệt ngã của các quy luật kinh tế (quy luật giá trị, quy luật cung, cầu,
quy luật cạnh tranh ...) tất yếu dẫn đến sự phát triển, tăng trởng của doanh
nghiệp này, phá sản của doanh nghiệp khác, Sức mạnh của nền kinh tế thị tr-
ờng là sự tăng trởng cao, song nó cũng chứa đựng nhiều khuyết tật cố hữu hình
thành những mâu thuẫn không tự điều hoà nổi.
ở nớc ta từ sau Đại hội Đảng VI (1986) Nhà nớc chủ trơng chuyển nền
kinh tế hiện vật theo cơ chế tập trung, bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần theo định hớng XHCN vận hành theo cơ chế thị trờng. Trong cơ chế
đó các thành phần kinh tế vừa cạnh tranh (hợp pháp) vừa hợp tác phát triển. Sự
thay đổi này làm thay đổi mọi mặt hoạt động kinh doanh của ngành thơng mại
Việt Nam.
Sự giao lu hàng hoá trên thị trờng cả nớc đợc thông suốt không ràng buộc
nhiều bởi các mệnh lệnh hành chính. Thị trờng trong nớc từng bớc phát triển và
ngày càng hoà nhập vào thị trờng khu vực và thế giới.
Hàng hoá trên thị trờng phong phú, nhu cầu tiêu dùng tuỳ theo khả năng
thanh toán của mình. Điều đó kích thích các nhà sản xuất tích cực đổi mới công
nghệ, mặt hàng, nâng cao chất lợng và hạ giá thành hàng hoá.
Sự chuyển đổi nền kinh tế theo hớng thị trờng hàng hoá đã khơi dậy
nhiều tiềm năng kinh tế, làm cho kinh tế hàng hoá phát triển mạnh, nó xoá dần
tính chất tự cung tự cấp trong sản xuất và lu thông hàng hoá trên nhiều vùng
kinh tế xã hội của Việt Nam.
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nhà nớc thông qua các công cụ quản lý vĩ mô tác động vào thị trờng để
điều tiết cung cầu. Hàng hoá đợc tự do lu thông giữa các vùng trong cả nớc thị
trờng sôi động tạo khả năng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp dẫn đến hiệu quả
kinh doanh trong thơng mại.

Việt nam bao gồm, các doanh nghiệp kinh doanh sản xuất phân bón vô cơ trong
nớc và các doanh nghiệp kinh doanh buôn bán phân bón vô cơ khác.
-Đề ra các giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện hệ thống tổ chức quản lý
và kinh doanh phân bón vô cơ ở Việt nam, từ đó đề xuất một số kiến nghị với
Chính phủ và Nhà nớc về vấn đề điều hành phân bón trong thời gian tới.
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
phần I
Hệ thống tổ chức quản lý lu thông phân bón
vô cơ ở Việt nam
1-/ Nhà nớc và vai trò tổ chức, quản lý lu thông
phân bón vô cơ trên thị trờng.
1.1-/ Nhà nớc và vai trò điều tiết nền kinh tế.
Kinh tế thị trờng là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trờng, ở đó sản
xuất cái gì, nh thế nào, cho ai đều đợc quyết định thông qua thị trờng.
Trong nền kinh tế thị trờng, các quan hệ kinh tế của các cá nhân, các doanh
nghiệp đều biểu hiện qua mua bán hàng hoá, dịch vụ trên thị trờng. Thái độ c xử
của các thành viên tham gia thị tròng là hớng vào tìm kiếm lợi ích của mình
theo sự dẫn dắt của giá cả thị trờng.
Kinh tế thị trờng vận hành theo cơ chế thị trờng, đến lợt nó, cơ chế thị tr-
ờng tác động dới sự chi phối của các quy luật thị trờng trong môi trờng cạnh
tranh nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Nhân tố cơ bản của thị trờng, cơ chế thị trờng là hàng hoá tiền tệ, ngời
bán, ngời mua, từ đó hình thành mối quan hệ cơ bản của cơ chế thị trờng là
quan hệ cung cầu. Về bản chất, cơ chế thị trờng là cơ chế giá cả tự do. Cơ chế
này có một số đặc trng sau:
-Các vấn đề liên quan đến phân bổ, sử dụng các nguồn tài nguyên, lao
động, vốn đợc quyết định một cách khách quan thông qua hoạt động của các
quy luật kinh tế.
-Hầu nh tất cả các mối quan hệ kinh tế giữa các chủ thể kinh tế đều đợc

rằng:Một nền kinh tế thị trờng là một cơ chế tinh vi để phối hợp một cách
không tự giác nhân dân và doanh nghiệp thông qua hệ thống giá cả và thị trờng.
Nó là một phơng tiện để giao tiếp, để tập hợp tri thức của hàng triệu cá nhân
khác nhau, không có bộ óc trung tâm, nó vẫn giải đợc bài toán mà máy tính lớn
nhất ngày nay không thể giải đợc. Không ai thiết kế ra nó, nó tự xuất hiện và
cũng nh xã hội của loài ngời nó đang thay đổi.
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Những nhợc điểm của cơ chế thị trờng:
+ Cơ chế thị trờng có thể gây ra những mât ổn định và thờng xuyên phá
vỡ cân đối trong nền sản xuất xã hội. Thực tế phát triển kinh tế thị trờng chỉ rõ
những vấn đề lạm phát và thất nghiệp, chu kỳ kinh doanh luôn là những căn
bệnh kinh niên không thể khắc phục đợc nếu không có sự can thiệp của nhà n-
ớc.
+ Cơ chế thị trờng bao hàm cả những thất bại thị trờng, nó là môi trờng
đẻ ra các tệ nạn kinh tế nh buôn lậu, hàng giả, lừa đảo, cạnh tranh không lành
mạnh.... làm giảm hiệu quả của nền kinh tế.
+ Cơ chế thị trờng có xu hớng làm cho sự phân hoá thu nhập ngày càng
tăng giữa các tầng lớp dân c, gây ra những bất bình đẳng về kinh tế trong xã
hội.
+ Trong cơ chế thị trờng, vì mục tiêu lợi ích cá nhân, một số hoạt động
kinh tế có khả năng là tăng mức ô nhiễm môi trờng, tâm lý chạy theo đồng tiền
làm xuất hiện lối sống ích kỷ, thực dụng, có thể gây ra những hậu quả xấu về
mặt xã hội.
+ Hơn nữa, các lĩnh vực hoạt động rất cần cho sự ổn định và tăng trởng
kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội nh có mức sinh lợi thấp, thời gian thu hồi
vốn chậm thờng không đợc giới kinh doanh chú ý đầu t phát triển,
Qua sự phân tích trên cho thấy, nền kinh tế thị trờng không phải là một
hệ thống đợc tổ chức hài hoà mà bản thân hệ thống đó chứa đựng rất nhiều nhợc
điểm. Những khuyết tật của cơ chế thị trờng cần phải đợc khắc phục hạn chế.

những doanh nghiệp mà nhà nớc dựa vào để điều tiết và điều chỉnh nền kinh tế,
bảo đảm cho sự phát triển cân đối cho nền kinh té quốc dân và có thu nhập để
trang trải một phần các chi phí hoạt động của bộ máy nhà nớc.
1.2-/ Phân bón vô cơ- đối tợng quản lý và điều tiết lu thông của nhà nớc.
Phân bón là một trong những yếu tố quan trọng trong sản xuất nông
nghiệp, nó giúp cho nhiều nớc đông dân trên thế giới tự túc đợc lơng thực, thoát
khỏi đói nghèo. Đồng thời phân bón cũng là mặt hàng kinh doanh có nhiều rủi
ro cả cho những nhà sản xuất lẫn doanh nghiệp lu thông.
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
ở nớc ta, có tới 80% dân số làm nông nghiệp, trong những năm tiến hành
công cuộc đổi mới gần đây, nền nông nghiệp nớc nhà có những bớc phát triển t-
ơng đối ổn định, đã góp phần tăng trởng kinh tế chung của đất nớc, sản lợng l-
ơng thực mỗi năm một tăng, từ chỗ hàng năm thiếu ăn về lơng thực, tới nay
chúng ta không những đủ ăn, có dự trữ mà còn xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên
thế giới. Có đợc kết đó là do Chính phủ có những chủ chơng, chính sách phù
hợp với yêu cầu thực tiễn, phù với bối cảnh sản xuất hàng hoá trong cơ chế thị
trờng và đã làm tăng đáng kể năng suất cây trồng mỗi năm. Theo tính toán của
IFRT năm 1996 thì việc tăng năng suất đóng góp trên 80% tăng sản lợng lơng
thực và trong tơng lai việc tăng sản lợng đó sẽ còn dựa vào việc tăng năng
suất.Vì vậy để đảm bảo an ninh lơng thực quốc gia ,thâm canh và giống mới có
thể đợc coi nh là giải pháp duy nhất đối với Việt nam. Trong thâm canh và trong
việc sử dụng giống mới thì phân bón vô cơ vô cùng quan trọng và ngày càng
quan trọng. Nó góp phần tăng năng suất cây trồng qua nhiều cơ chế tác động
khác nhau. Song quan trọng là phân bón cung cấp cho cây trồng những dinh d-
ỡng cần thiết mà đất không đủ khả cung cấp, góp phần duy trì độ phì nhiêu của
đất trong quá trình canh tác. Mặt khác cùng với năng suất kinh tế, phân bón góp
phần tăng lợng sinh khối và nhờ đó tăng hữu cơ trả lại cho đất-yếu tố cực kỳ
quan trọng với đất nhiệt đới. Tuy nhiên, để đa phân bón vô cơ vào sử dụng trong
nông nghiệp, đáp ứng nhu cầu sử dụng cho ngời nông dân, nhằm tăng năng suất

tế cũng tăng từ 190-210USD/tấn. Nh vậy Tổng công ty chỉ nhập thêm đợc
184.000 tấn URE từ thị trờng mới, nâng tổng khả năng cung ứng lên hơn
284.000 tấn, bằng khoảng 25% nhu cầu phân bón cả nớc lúc bấy giờ. Do sự mất
cân đối cung-cầu này, lập tức dẫn tới cơn sốt phân bón vô cơ, tỷ giá cánh kéo
bất hợp lý đến mức 1kgURE=2,5-2,6 kg thóc. Đến năm 1992&1993, việc kinh
doanh nhập khẩu phân bón gần nh đợc thả nổi toàn bộ theo cơ chế thị trờng;
Năm 1992 có tới trên 100 đầu mối nhập khẩu phân bón, năm 1993 các doanh
nghiệp có chức năng hay không có đều đi buôn phân bón (khi đó cha có hạn
ngạch), nhiều doanh nghiệp vốn lu động tuy ít nhng do nhà nớc có chủ trơng
cho vay Đôla với điều kiện là phải nhập khẩu hàng hoá (đồng thời có chủ trơng
cấm nhập khẩu 17 mặt hàng) nên đã cố tình vay Ngân hàng, và vay vốn này dồn
đi buôn phân bón về nhiều. Trong thời gian ngắn có tới gần 100 đơn vị đi buôn,
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
phân bón về nhiều, ứ đọng, phát sinh tăng thêm các loại chi phí lu kho,lu
bãi,hao hụt, hao hụt, lãi suất ngân hàng....Do vậy buộc phải bán giá thấp; giá
lúc bấy giờ rẻ hơn nhiều vùng, nhiều nớc trong khu vực. Đồng thời lúc này do
do chênh lệch mức lãi suất giữa vay tiền đồng và tiền đô la càng khích lệ các
doanh nghiệp nhẩy vào lãnh vực nhập khẩu phân bón. Cụ thể vay đô la thì mức
lãi suất 0,5% tháng (=6% năm) trong khi tỷ giá ít thay đổi, nếu vay tiền đồng
2,1% tháng (=25,2% năm) nh vậy chênh lệch lãi suất giữa vay đô la và tiền
đồng trong 6 tháng là 9,6%, bán lỗ phân bón 5%(trong 6 tháng) nẫn còn lãi
4,6%. vì thế nên có nhiều doanh nghiệp làm ngơ chuyện lỗ lãi. Theo ớc tính của
các nhà kinh tế thì quý IV/1992 và cả năm 1993 cả nớc lỗ khoảng 200-300 tỷ
đồng, số lỗ này nhà nớc gánh chịu chủ yếu vì vốn kinh doanh của các doanh
nghiệp quốc doanh phần lớn là vốn ngân sách cấp.Bớc sang năm 1994, do năm
1993 phân bón ứ đọng, thua lỗ nên Chính phủ đã cấm nhập khẩu phân bón tràn
lan, gom lại chỉ có 17 đầu mối, trong đó có 16 đầu mối nhập khẩu 40% còn 01
đầu mối đảm nhận 60%. Sự thay đổi về nhập khẩu phân bón theo chiều hớng
thu gọn lại đầu mối và các đơn vị đợc giao hạn ngạch nhập cha đủ điều kiện

đôn đốc, kiểm tra việc nhập khẩu làm sao khớp với thời điểm mùa vụ, đảm bảo
nhu cầu cho sản xuất nông nghiệp; cơ chế vay ngân hàng và bảo lãnh cũng đợc
quy định chặt chẽ hơn, không bảo lãnh nhập trả chậm tràn lan nh trớc đây, vì
thế đã hạn chế đợc việc mua bán hạn ngạch, hạn chế đợc phần rủi ro và hạn chế
đợc việc gây rối loạn thị trờng. Tuy vậy việc can thiệp của Nhà nớc vào việc
nhập khẩu phân bón nh trên cũng hết sức khó khăn, bởi lẽ giá cả phân bón biến
động phức tạp, giá URÊ trên thị trờng thế giới có lúc giảm rất nhanh và chỉ còn
98-102 USD /tấn, gần đây giá DAP chỉ trong vòng hai tháng đã giảm tới 50-60
USD / tấn( từ 230USD/tấn còn 175USD/tấn). Thực sự cho tới quyết định
140TTg (7/3/1997) của Thủ tớng chính phủ cho tới nay thì tình hình kinh doanh
phân bón mới có nhiều tiến bộ và hiệu quả. Đó là việc lập kế hoạch nhập khẩu
phân bón đợc tính toán khá sát với yêu cầu thực tế, đã có quyết định giao kế
hoạch nhập khẩu ngay từ đầu năm, tạo điều kiện chủ động giao dịch, ký kết hợp
đồng nhập khẩu và cung ứng kinh doanh trên thị trờng.
Từ những phân tích trên mục đích chứng minh rằng xây dựng cơ chế thị
trờng là bớc đi tất yếu khách quan, nghĩa là chấp nhận trên thực tế sự tham gia
11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
kinh doanh phân bón vô cơ của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế
khác, một khi các doanh nghiệp này có thực lực về kinh tế. Nhng không có
nghĩa là phó mặc cho thị trờng tất cả, mà các cơ quan chức năng của Nhà n-
ớc cần giám sát chặt chẽ, tổ chức theo dõi thờng xuyên việc thực thi nhiệm vụ
kinh doanh phân bón, đặc biệt là nhập khẩu, để từng bớc ổn định đội ngũ th-
ơng nhân chuyên kinh doanh phân bón có thực lực kinh tế, có kinh nghiệm
kinh doanh.
2-/ Hệ thống cơ quan quản lý và điều tiết lu thông
phân bón vô cơ của nền kinh tế.
2.1-/ Về Tổ chức cơ quan quản lý và điều tiết phân bón vô cơ
Nh trên đã phân tích, trong tổng khối lợng nhiều triệu tấn phân hoá học
tiêu dùng hàng năm thì sản xuất trong nớc mới chỉ đáp ứng đợc khoảng 65%

bón.
13
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Sơ đồ 1 - Các cơ quan quản lý và điều tiết phân bón
vô cơ thời kỳ đổi mới cơ chế kinh tế.
Nh vậy, có thể khẳng định trong cơ chế thị trờng, không thể thiếu vai trò
quản lý vĩ mô, kế hoạch định hớng của nhà nớc và sự phối hợp đồng bộ của các
cấp, các ngành với vấn đề quản lý và điều tiết phân bón vô cơ ở nớc ta. Công tác
quản lý Nhà nớc trong lĩnh vực nhập khẩu và kinh doanh phân bón vô cơ phải
nhằm mục tiêu đa việc nhập khẩu và kinh doanh phân bón vào nề nếp, nhằm
cung ứng đủ và kịp thời phân bón vô cơ trực tiếp đến hộ nông dân phục vụ sản
xuất với giá cả hợp lý, gắn việc cung ứng vật t, dịch vụ (trớc hết là phân bón )
với việc thu mua lúa hàng hoá của nông dân thành một hệ thống bảo đảm sự
quản lý và điều hành của Nhà nớc. Cụ thể là:
* Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chịu trách nhiệm xây dựng kế
hoạch cân đối Cung- cầu phân bón trong từng vụ, của từng miền trong cả nớc,
14
Nước bán phân bón
trên thế giới
Các đầu mối nhập
khẩu được chỉ định
Cửa hàng đại lý
bán lẻ
Tổ chức trung gian
phân bón
Nông dân
Bộ công nghiệp
Bộ Nông nghiệp &
PTNT, Bộ Thương
mại

* Ngân hàng Nhà nớc Việt nam cùng Bộ Tài chính, Bộ Thơng mại, Bộ
nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định việc quản lý, sử dụng tiền bán
hàng của các doanh nghiệp nhập khẩu để đảm bảo thanh toán với nớc ngoài khi
đến hạn. Khi đợc Chính phủ phê duyệt hạn ngạch nhập khẩu phân bón, Ngân
hàng Nhà nớc Việt nam chỉ đạo các ngân hàng Thơng mại bảo lãnh cho các
doanh nghiệp đợc chỉ định nhập khẩu phân bón vay trả chậm nớc ngoài và đợc
lấy giá trị hàng hoá phân bón nhập khẩu làm bảo đảm và ký quỹ với mức thấp
nhất theo quy định của Ngân hàng nhà nớc Việt nam. Đối với một số doanh
nghiệp đợc giao nhập khẩu số lợng phân bón lớn để điều hoà cung cầu, bình ổn
giá trong nớc, ngoài quy định chung, Ngân hàng cho vay và bảo lãnh theo số l-
ợng phân bón nhập cụ thể của từng doanh nghiệp để các doanh nghiệp thực hiện
đợc chỉ tiêu đã giao. Trờng hợp có khó khăn về vốn, Bộ kế hoạch đẩu t, Bộ Tài
chính cân đối trình Thủ tớng chính phủ cho phép sử dụng từ nguồn quỹ dự trữ
ngoại tập trung của Nhà nớc để cho vay nhập phân bón.
15
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
*Ban vật giá Chính phủ, tuỳ từng trờng hợp là cơ quan xác định mức trọ
giá cho từng mặt hàng, từng địa phơng, xác định mức giá bán tối đa giá trần
cho từng mặt hàng.
*Tổng công ty Vật t nông nghiệp chịu trách nhiệm: ngoài việc thực hiện
đầy đủ trách nhiệm nh các doanh nghiệp khác còn phải từng bớc tổ chức lại
mạng lới bán buôn, đại lý bán phân bón trực tiếp đến nông dân, quản lý chặt
chẽ quỹ dự trữ lu thông phân bón đợc nhà nớc giao, chịu trách nhiệm đảm bảo
dự trữ lu thông bằng ngoại tệ và bằng hiện vật cho 3 miền Bắc, Trung, Nam,
theo quy định; khi xảy ra đột biến giá và mất cân đối quan hệ Cung- cầu phải
kịp thời đa lực lợng dự trữ lu thông can thiệp thị trờng theo chỉ đạo của Bộ nông
nghiệp và phát triển nông thôn và Bộ Thơng mại nhằm ổn định Cung- cầu và
giá phân bón trong cả nớc.
*Đối với các loại phân hoá học là nguyên liệu sản xuất phân bón tổng
hợp, Bộ Thơng mại thống nhất với Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ

mới tới đợc tay ngời sản xuất. Sơ đồ 3
17
Nước bán phân
hoá học trên thế
giới
Quốc doanh cấp I
Nhà nước Việt
Nam xây dựng kế
hoạch
Quốc
doanh
Việt
Nam
Cấp II
Quốc
doanh
Vật tư
Việt
Nam
Cấp III
Hợp
tác xã,
tập
đoàn
sản
xuất
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Mô hình cung ứng phân bón hoá học thời kỳ đổi mới
cơ chế kinh tế.
Đi đôi với hệ thống cung ứng phân bón theo hớng tự do lu thông. Nhà n-

nhiều mục tiêu và các giải pháp khác nhau. Các vấn đề kinh tế xã hội cấp bách
đang đan xen vào nhau, vừa là tiền đề vừa là kết quả của nhau đòi hỏi phải giải
quyết đồng bộ không đợc biệt lập, riêng rẽ. Những vấn đề cơ bản của nền kinh
tế có những mục tiêu và giải pháp khác nhau, có khi mâu thuẫn nhau. Bởi vậy,
phải đặt trong tổng thể của nền kinh tế quốc dân để giải quyết vấn đề. Mục tiêu
điều tiết thị trờng, lu thông phân bón vô của nhà nớc nằm trong hệ thống mục
tiêu kinh tế xã hội, đáp ứng mục tiêu cao nhất là ổn định và nâng cao đời sống
nhân dân phát triển toàn diện con ngời, xây dựng xã hội lành mạnh, văn minh
trên cơ sở một nền sản xuất hàng hoá phát triển cao. Nhà nớc điều tiết lu thông
hàng hoá và phân bón vô cơ nhằm làm cho nó ngày càng phát triển cả về chiều
rộng và chiều sâu, phát huy mặt tích cực, hạn chế những tiêu cực phát sinh. H-
ớng lu thông hàng hoá và phân bón vào các mục tiêu kinh tế xã hội của đất nớc.
Để đạt đợc hiệu quả cao, nhà nớc cần linh hoạt sử dụng hệ thống công cụ điều
tiết và quản lý vĩ mô:
3.1-/ Chơng trình có mục tiêu phát triển thơng mại của nhà nớc.
Tính cân đối của nền kinh tế quốc dân là yêu cầu khách quan cho sự phát
triển của nó. Nền kinh tế quốc dân là một thể thống nhất bao gồm nhiều bộ
phận hợp thành có quan hệ hữu cơ với nhau. Trong đó có những khâu, những bộ
phận quan trọng có ý nghĩa quyết định tới sự phát triển của nền kinh tế. Thông
qua sự tác động tới các yếu tố then chốt đó sẽ đảm bảo sự phát triển tối u của
nền kinh tế. Kế hoạch hoá vĩ mô là kế hoạch định hớng, thực hiện những cân
đối lớn nhằm đảm bảo tốc độ phát triển hợp lý và hiệu quả cao.
Kế hoạch định hớng ở tầm vĩ mô cũng phải đợc thay đổi linh hoạt phù
hợp với sự vận động khách quan của nền kinh tế. Cùng với các chơng trình mục
tiêu, kế hoạch kinh tế quốc dân đợc xây dựng đúng đắn sẽ là một công cụ quan
trọng. ở các nớc T bản phát triển, các nớc công nghiệp mới đã sử dụng thành
19
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
công Kế hoạch kinh tế quốc dân nh một công cụ trọng tâm, tác động vào nền
kinh tế .

hoạch đợc tiến hành theo phơng pháp của hệ thống sản phẩm vật chất MPS
( Materal Product System). Phơng pháp này không tính đến các dịch vụ, đợc
quan niệm là không liên quan trực tiếp tới sản xuất vật chất nh các dịch vụ giáo
dục, y tế, thể thao, hành chính, ngân hàng. Phơng pháp này cũng bỏ qua hạch
toán khấu hao trong nền kinh tế (theo UNDP) phơng pháp này bỏ qua 20- 30%
tổng sản phẩm xã hội. Kế hoạch hoá định hớng đòi hỏi phải thể hiện đầy đủ mọi
cục diện của nền kinh tế trong mỗi tác động qua lại giữa các nhân tố cấu thành
của nó. Bởi vậy, KHHĐH buộc phải chuyển từ phơng pháp cũ (MPS) sang ph-
ơng pháp mới là phơng pháp hạch toán quốc gia theo hệ thống tài khoá quốc gia
SNA (System of Natinal Acount).
Trong mô hình kế hoạch hoá tập trung, kế hoạch không coi trọng phơng
pháp giá trị. Một loại chỉ tiêu giá trị quan trọng đã bị bỏ qua trong các kế hoạch
nh tổng tiêu dùng, tổng tiết kiệm, tổng thu thuế, chỉ số hàng tiêu dùng, tỷ giá, tỷ
lệ lạm phát, chỉ số tăng tiền lơng danh nghĩa, tổng sản phẩm xã hội tính theo tr-
ợt giá.... Trái lại trong mô hình KHHĐH, các chỉ tiêu giá trị trên đây trở thành
các chỉ tiêu hệ trọng nhất trong khi đánh giá thực trạng nền kinh tế cũng nh khi
nêu ra các đinh hớng phát triển và ổn định. Việc chuyển từ phơng pháp hiện vật
(là chính) sang phơng pháp giá trị (là chính) là sự chuyển biến về chất của ph-
ơng pháp KHHĐH so với phơng pháp kế hoạch trớc đây. Nó không tuỳ thuộc ở
các cơ quan định hớng hoạch định kế hoạch mà chủ yếu tuỳ thuộc ở thớc giá trị
trong nền kinh tế, ở mức độ phạm vi tiền tệ hoá các quá trình kinh tế. Trong mô
hình kế hoạch cũ, các cân đối hiện vật giữ vai trò trọng yếu (lơng thực, xăng
dầu, phân bón....). nhng dù mở rộng danh mục đến đâu cũng không thể nào thể
hiện nổi tổng cân đối (về hiện vật ) của nền kinh tế. Trái lại phơng pháp cân đối
của mô hình KHHĐH đòi hỏi phải chuyển sang những cân đối vĩ mô đợc đo
bằng các tiêu chuẩn tài chính, tiền tệ trong đó chủ yếu nh: Cân đối tiết kiệm và
tiêu dùng, cân đối cán cân thơng mại, cân đối cán cân thanh toán quốc tế, cân
đối thu chi ngân sách ....những cân đối này phải dựa trên sự vận động thực tế
của hệ thống tài chính, tiền tệ, giá cả của nền kinh tế.
21

phải tổng hợp, phân tích tình hình kinh tế-kỹ thuật của toàn ngành, từ t liệu của
22
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
các địa phơng trong cả nớc, các đơn vị trực thuộc Bộ, ngành hữu quan. Kế
hoạch hoá phát triển thơng mại phải do Bộ trởng Bộ thơng mại trình Chính phủ
phê duyệt mới có hiệu lực quản lý.
+ Đối tợng của kế hoạch hoá phát triển thơng mại: Trong nền kinh tế
thị trờng có sự quản lý của nhà nớc, nhà nớc bao quát toàn bộ các quá trình kinh
tế trong ngành Thơng mại, các hoạt động thơng mại, hàng hoá trong nớc và với
nớc ngoài của tất cả các thành phần kinh tế, mà trọng tâm là các quan hệ thị tr-
ờng hàng hoá nh quan hệ Tổng cung- Tổng cầu, quan hệ tiền- hàng, quan hệ
Cung- cầu từng mặt hàng thiết yếu; các cơ cấu thơng mại chủ yếu nh cơ cấu
thành phần kinh tế, cơ cấu ngành hàng, mặt hàng lu thông trên thị trờng nội địa
và xuất khẩu, nhập khẩu. Cơ cấu thị trờng trong nớc theo vùng lãnh thổ, cơ cấu
các khu vực thị trờng ngoài nớc (Cơ cấu thị trờng xuất khẩu và cơ cấu thị trờng
nhập khẩu), cơ cấu nguồn nhân lực của ngành thơng mại, quan hệ thơng mại
giữa Việt Nam với các khu vực nớc bạn hàng với các tổ chức thơng mại khu vực
và thế giới.
+ Phơng pháp kế hoạch hoá phát triển thơng mại trong nền kinh tế thị
trờng: Trong mô hình kế hoạch hoá cũ (kế hoạch Thơng nghiệp, kế hoạch hoá
cung ứng vật t, kế hoạch hoá ngoại thơng) do sử dụng phơng pháp hiện vật là
chính, nên đã không coi trọng các chỉ tiêu giá trị, các chỉ tiêu về nhu cầu thị tr-
ờng mà chỉ chú trọng đến các chỉ tiêu về tổng lợng hàng hoá của khu vực quốc
doanh; định lợng nguồn cung ứng của nhà nớc; các chỉ tiêu định mức cung ứng
và những địa chỉ cấp phát chính thuộc khu vực kinh tế nhà nớc. Vì thế một mặt
không bao quát đợc tổng lợng hàng hoá cung ứng của toàn xã hội và tổng nhu
cầu hàng hoá của toàn xã hội. Mặt kế hoạch hoặc không tính đến giá trị giá trị
thực tế của hàng hoá do sự chi phối của gía trị đồng tiền nội tệ bị trợt giá và các
yếu tố lạm phát. Nay chuyển sang sử dụng phơng pháp giá trị là chính, nên các
chỉ tiêu về nhu cầu thị trờng cần đợc đặc biệt coi trọng nh: Tổng quỹ mua, sức

trờng các mặt hàng thiết yếu.
+Tổng quỹ mua và tổng sức mua thực tế của toàn xã hội, phân theo cơ
cấu khu vực/ vùng, các thị trờng trọng điểm các khu vực tập chung sức mua lớn,
nhu cầu sản xuất và nhu cầu của dân c, các khu công nghiệp trung trung và các
24
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
vùng sản xuất tập trung, sức mua của thị trờng nông thôn và thị trờng thành thị
của miền núi.
+Giá trị kim ngạch xuất khẩu, phân theo cơ cấu các khu vực thị trờng
xuất khẩu các nớc bạn hàng chính, cơ cấu mặt hàng xuất khẩu, các mặt hàng
xuất khẩu chủ lực trong đó chú ý đến các nhân tố mới nh các thị trờng mới có
sức mua lớn, các mặt hàng nhóm hàng chế biến sau.
+Giá trị kim ngạch nhập khẩu, phân theo cơ cấu nhóm hàng(phân loại
chuẩn của quốc tế), cơ cấu thị trờng nhập khẩu theo khu vực địa lý và theo trình
độ phát triển(nhấn mạnh thị trờng có công nghệ nguồn),các thị trờng nhập khẩu
chính.
+Giá xuất khẩu và giá nhập khẩu, hiệu số giữa giá xuất và giá nhập khẩu.
-Định hớng cân đối Cung- cầu các mặt hàng thiết yếu là một trong những
nội dung trọng tâm của kế hoạch hoá thơng mại. Danh mục các mặt hàng thiết
yếu cần đợc điều chỉnh trong các kỳ kế hoạch dài hạn, trung hạn và ngắn hạn
phù hợp với yêu cầu và trình độ phát triển của nền kinh tế trong từng thời kỳ cụ
thể. ở đây cần đợc đặc biệt chú ý đến yếu tố công nghiệp hoá và các doanh
nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài sẽ tác động mạnh đến cả hai phía Cung- cầu các
mặt hàng thiết yếu.
Tóm lại: Kế hoạch hoá thơng mại trong nền kinh tế thị trờng có sự quản
lý của nhà nớc do Bộ Thơng mại xác lập. Chính phủ phê duyệt, đó là loại kế
hoạch gián tiếp hớng dẫn thị trờng và các hoạt động thơng mại của các thơng
nhân, kế hoạch đó có đối tợng là toàn bộ của các quá trình lu thông hàng hoá
các hoạt đông thơng mại hàng hoá trong nớc và với nớc ngoài của tất cả các
thành phần kinh tế kế hoạch, từ đó định ra những cân đối chủ yếu nhất của nền


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status